Kinh Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm
Kinh Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm là một trong những bộ kinh quan trọng bậc nhất của Phật giáo Đại Thừa. Bộ kinh dạy về bản tính chân tâm thanh tịnh, phương pháp tu hành thâm sâu và cách phá trừ vọng tưởng, phiền não để đạt đến giác ngộ viên mãn. Đây là kinh điển then chốt giúp hành giả nhận ra chân tâm và thực hành thiền định hiệu quả không rơi vào ma đạo.
KINH DIEN
4/9/2026446 min read
Mục Lục
Kinh Đại Phật Đảnh Như Lai Mật Nhân Tu Chứng Liễu Nghĩa Chư Bồ Tát Vạn Hạnh Thủ Lăng Nghiêm Quyển 01
Đời Đường - Thiên Trúc: Sa Môn Bát Lạt Mật Đế - Hán dịch
Tàm Quý Ni Thích Chơn Ngộ - Việt dịch
01 -01 Duyên Khởi
Tôi nghe như vầy. Một thuở nọ, Đức Phật ở tại tinh xá Kì Hoàn, thành Thất La Phiệt. Với các đại chúng Tỳ kheo, đầy đủ một ngàn hai trăm năm mươi vị. Đều là các bậc Vô lậu đại A La Hán. Hàng đệ tử Phật trụ trì, khéo vượt thoát khỏi các hữu. Trong các cõi nước, thành tựu oai nghi. Theo Phật chuyển pháp luân, khéo kham nhận giáo huấn của Phật. Giới luật trang nghiêm thanh tịnh, làm bậc mô phạm khắp ba cõi. Ứng hiện vô lượng thân, để độ thoát chúng sanh. Cứu tế đời vị lai, thoát khỏi các hệ lụy trần ai.
Tên các Ngài là: Đại Trí Xá Lợi Phất, Đại Mục Kiền Liên, Ma Ha Câu Hi La, Phú Lầu Na Di Đa La Ni Tử, Tu Bồ Đề, Ưu Bà Ni Sa Đà vv...làm bậc thượng thủ.
Lại có, vô lượng Bích Chi Vô Học, cùng hàng sơ phát tâm. Cùng nhau vân tập đi đến chỗ của Phật. Vì nhằm ngày mãn hạ tự tứ của các vị Tỳ Kheo. Nên mười phương Bồ Tát đều đến xin Phật giải tỏa mối nghi hoặc trong tâm. Kính vâng đức từ nghiêm, thỉnh cầu giáo nghĩa bí mật thâm sâu.
Lúc bấy giờ, đức Như Lai trải tọa cụ ngồi an nhiên. Vì tất cả hội chúng trong đạo tràng, mà tuyên nói mở bày pháp thâm sâu vi diệu. Bày yến tiệc pháp hội khiến đại chúng thanh tịnh, được nghe pháp chưa từng có. Tiếng Ca Lăng Tiên, vang khắp mười phương thế giới. Hằng sa chúng Bồ Tát, đều đến vân tập đạo tràng. Văn Thù Sư Lợi làm bậc thượng thủ.
01-02 Lúc bấy giờ, vua Ba Tư Nặc, nhân ngày húy kị của phụ vương ông. Thỉnh Phật vào cung. Tự thân nghinh rước Như Lai. Sắm sửa món ăn trân quí thượng phẩm mỹ vị. Lại cũng đích thân cung thỉnh chư vị đại Bồ tát. Lại ở trong thành, chư vị trưởng giả, cư sĩ đồng thời, cúng dường trai phạn chư Tăng. Đều chờ Phật đến ứng cúng. Đức Phật ủy thác cho ngài Văn Thù, phân chia chư vị Bồ Tát và A La Hán, đến các trai chủ để ứng cúng.
Chỉ có A Nan, đã nhận lời mời riêng. Đường xá xa xôi chưa về, không kịp dự vào hàng tăng. Lại không có vị Thượng Tọa, hay A Xà Lê đi cùng. Một mình đi về trên đường. Hôm ấy không được ai cúng. Lúc đó A Nan, ôm bát ứng khí, đi vào trong thành, theo thứ tự mà khất thực. Trong tâm ban đầu, mong gặp người đàn việt cuối cùng, để làm trai chủ. Không kể người đó là sang hay hèn, thuộc giai cấp quí tộc Sát đế lợi hay tầng lớp hạ tiện Chiên Đà La. Chỉ cốt thực hiện lòng từ bình đẳng, không chọn lựa người giàu kẻ nghèo. Phát tâm thành tựu, cho tất cả chúng sanh, vô lượng công đức. A Nan đã biết Thế Tôn Như Lai, khiển trách Tu Bồ Đề và Đại Ca Diếp, là bậc A La Hán mà tâm không bình đẳng. Vì kính ngưỡng Như Lai, mở lòng không lựa chọn, độ người nghi ngờ, hủy báng.
Đi qua ngôi Thành Hoàng, chậm rãi bước vào cổng. Uy nghi nghiêm chỉnh, cung kính giữ đúng pháp hóa trai.
Lúc bấy giờ, A Nan, do thực hành phép khất thực theo thứ tự, đi qua nhà dâm nữ, gặp phải đại huyễn thuật. Nàng Ma Đăng Già, dùng thần chú Tiên Phạm Thiên, do đạo sĩ Ta Tì Ca La trao cho, kéo vào dâm phòng, tiếp xúc vuốt ve, sắp hoại giới thể!
01-03 Như Lai biết chuyện, dâm thuật hãm hại, thọ trai xong lập tức trở về. Vua cùng đại thần, trưởng giả cư sĩ, cũng đều theo Phật, mong được nghe pháp thâm yếu. Lúc bấy giờ, Thế Tôn, từ trên đỉnh đầu phóng ra trăm vầng ánh sáng báu vô úy, trong ánh sáng ấy lại xuất hiện tòa sen báu ngàn cánh, trên đó có hóa thân của Phật, xếp bằng ngồi kiết già, tuyên nói thần chú. Bảo Văn Thù Sư Lợi, đem thần chú ấy đến cứu hộ, tiêu trừ ác chú, dẫn Ngài A Nan cùng Ma Đăng Già, đem về chỗ Phật.
A Nan thấy Phật, vừa đảnh lễ vừa buồn khóc, tự hận mình từ trước đến nay, chỉ chuyên học rộng nhớ nhiều, mà đạo lực thì hoàn toàn kém cỏi. Khẩn thiết ân cần cầu pháp, mười phương Như Lai, đắc thành Bồ Đề Diệu Xa Ma Tha Tam Ma Thiền Na, phương tiện ban đầu là gì. Lúc bấy giờ, còn có hằng hà sa Bồ Tát và mười phương chư đại A la hán, Bích chi Phật…Đều vui vẻ muốn nghe, lui về chỗ ngồi im lặng, tiếp nhận Thánh chỉ của Phật.
01-04 Phật bảo A Nan: “Ta với ông cùng huyết khí, tình như anh em. Lúc ông mới phát tâm, ở trong giáo pháp của Ta, thấy tướng gì thù thắng, bỗng nhiên xả bỏ những ân ái sâu nặng của thế gian.”
A Nan bạch đức Phật rằng: “Con thấy ba mươi hai tướng tốt của Như Lai thù thắng vi diệu. Hình thể sáng ánh như ngọc lưu ly. Thường tự suy nghĩ, những tướng tốt này không phải do ái dục sanh ra. Tại vì sao vậy? Khí dục thô đục, giao hợp tanh hôi, máu mủ lẫn lộn, không thể sinh ra thân tướng thù thắng thanh tịnh vi diệu ánh sáng vàng kim sáng rỡ. Vì thế khát ngưỡng, theo Phật xuống tóc.”
Phật dạy: “Lành thay A Nan! Các ông nên biết, tất cả chúng sanh, từ vô thỉ đến nay. Sanh tử liên tục, đều do không biết, chân tâm thường trụ, thể tánh tịnh minh. Dùng các vọng tưởng. Các tưởng không thật, nên có luân chuyển. Nay ông muốn nghiên cứu đi sâu vào đạo Vô Thượng Bồ Đề, phải thật sự hiểu rõ tự tánh. Nên dùng tâm ngay thẳng, trả lời điều mà Ta hỏi. Mười phương Như Lai cùng một con đường, thoát ly sanh tử, đều dùng tâm ngay thẳng. Do tâm và lời nói ngay thẳng, cứ thế từ địa đầu tiên cho đến địa cuối cùng, ở chặng giữa không bao giờ có các tướng quanh co.”
Sai ở tâm và mắt
01-05 A Nan! Ta nay hỏi ông: “Lúc ông phát tâm, duyên vào ba mươi hai tướng tốt của Như Lai, dùng gì để thấy, và lấy gì yêu thích?”
A Nan bạch đức Phật rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Sự yêu thích này, dùng tâm mắt của con, do mắt nhìn thấy, thân tướng thù thắng của Như Lai, tâm sanh yêu thích. Nên con phát tâm, nguyện xả bỏ sanh tử.”
Phật bảo A Nan: “Như lời ông nói, sự yêu thích thật sự là do tâm và mắt. Nếu như không biết tâm mắt ở đâu, thì không thể điều phục trần lao. Ví như quốc vương, bị giặc xâm lăng, phát binh đánh dẹp. Thì lính phải biết, giặc ở chỗ nào. Khiến ông lưu chuyển, lỗi ở tâm mắt. Nay Ta hỏi ông, tâm và mắt, hiện ở chỗ nào?”
Tâm Ở Trong Thân
1-06 A Nan bạch đức Phật rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Tất cả thế gian, mười loài dị sanh, đều biết tâm ở trong thân. Dù thấy Như Lai, mắt hoa sen xanh, cũng ở trên mặt Phật. Con nay thấy vậy, bốn căn bên ngoài, chỉ ở trên mặt con. Tâm thức cũng vậy, thật ở trong thân.”
Phật hỏi A Nan: “Hiện giờ ông đang ngồi trong giảng đường của Như Lai, hãy nhìn xem khu rừng Kì Đà, hiện nằm ở đâu?”
“Bạch đức Thế Tôn! Ngôi giảng đường cao lớn thanh tịnh này, ở trong vườn Cấp Cô Độc, nay rừng Kì Đà thật ở bên ngoài giảng đường.”
“A Nan! Ông nay trong giảng đường, nhìn thấy cái gì trước?”
“Bạch đức Thế Tôn! Con ở trong giảng đường, nhìn thấy Như Lai trước. Thứ đến nhìn thấy đại chúng. Sau đó nhìn ra ngoài, mới thấy vườn rừng.”
“Này A Nan! Ông thấy vườn rừng, do cái gì mà thấy?”
“Bạch đức Thế Tôn! Giảng đường rộng này, các cửa đều mở, do đó con ở trong giảng đường, cũng thấy ngoài xa.”
1-7 Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn ở giữa đại chúng, đưa cánh tay sắc vàng kim, xoa đỉnh đầu A Nan. Chỉ dạy A Nan và các đại chúng rằng: “Có Tam Ma Đề, tên Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm Vương, đầy đủ vạn hạnh, mười phương Như Lai, một môn thoát khỏi trần lụy, con đường trang nghiêm vi diệu. Nay ông hãy lắng nghe!”
A Nan đảnh lễ, quỳ phục tiếp nhận giáo chỉ từ bi.
1-8 Phật bảo A Nan: “Như lời ông nói, thân ở trong giảng đường, do cửa mở rộng, nhìn thấy vườn rừng ngoài xa. Vậy có chúng sanh ở trong giảng đường này, không thấy Như Lai, nhưng nhìn thấy bên ngoài giảng đường không?”
A Nan thưa rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Ở trong giảng đường không thấy Như Lai, mà có thể thấy vườn rừng con suối, không có chuyện đó!”
“A Nan! Ông chính như vậy. Tâm linh của ông rõ biết tất cả. Nếu tâm biết rõ của ông bây giờ, quả thật ở trong thân, thì khi ấy trước hết biết rõ trong thân. Liệu có chúng sanh nào, trước thấy trong thân, sau thấy cảnh vật bên ngoài, hay không? Đã không thể thấy, tim, gan, lá lách, bao tử, móng mọc ra, tóc dài thêm, gân chuyển động, mạch máu nhảy, mọi thứ thật rõ ràng, sao lại không biết? Đã không biết được bên trong, sao lại biết được bên ngoài? Vì vậy nên biết, ông nói cái tâm hay biết rõ ràng, ở bên trong thân, không có chỗ đó.”
Tâm Ở Ngoài Thân
01-09 A Nan cúi đầu, mà bạch đức Phật rằng: “Con nghe pháp âm Như Lai dạy như vậy. Ngộ biết tâm con, quả thật ngoài thân. Tại vì sao vậy? Ví như ngọn đèn, thắp sáng ở trong nhà, ánh đèn này chắc chắn chiếu sáng trong nhà trước, rồi từ nơi các cửa, sau chiếu sáng ra ngoài sân. Tất cả chúng sanh, không thấy bên trong thân, mà chỉ thấy bên ngoài thân. Cũng như ngọn đèn, đặt ở bên ngoài nhà, thì không thể chiếu sáng bên trong nhà. Nghĩa ấy thật rõ ràng, chắc không còn mê hoặc, tương đồng với nghĩa rốt ráo của Phật, chắc không phải vọng tưởng đúng không!”
1-10 Phật bảo A Nan: “Chư vị Tỳ Kheo này, vừa theo Như Lai đến thành Thất La Phiệt, thứ tự khất thực, xong trở về rừng Kì Đà, Ta đã thọ trai. Ông hãy xem chúng Tỳ Kheo, khi một người ăn, mọi người no không?”
A Nan thưa rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Không thể! Tại vì sao vậy? Các vị Tỳ Kheo, tuy đều là A La Hán, nhưng cơ thể khác nhau. Làm sao một người ăn mà khiến mọi người no được?”
Phật bảo A Nan: “Nếu cái tâm thấy biết rõ ràng của ông, thật ở ngoài thân, thân tâm tách biệt, tự không liên can. Thì điều tâm biết, thân không thể biết. Thân thể hay biết, tâm không thể biết. Ta nay chỉ rõ cho ông xem bàn tay Đâu la miên, khi mắt ông nhìn thấy, tâm có phân biệt không?”
A Nan thưa rằng: “Bạch đức Thế Tôn, đúng vậy!”
Phật bảo A Nan: “Nếu cùng thấy biết, sao lại ở ngoài. Vì vậy nên biết, ông nói cái tâm thấy biết rõ ràng, nằm ở ngoài thân, không có chỗ đó.”
Tâm Trốn Sau Mắt
1-11 A Nan bạch Phật rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Như lời Phật dạy, do không thấy bên trong, nên không ở trong thân. Thân tâm cùng hay biết, nên không tách rời nhau, không ở ngoài thân. Nay con suy nghĩ, biết tâm ở một chỗ.” Phật hỏi: “Chỗ ấy là chỗ nào?”
A Nan thưa rằng: “Tâm hiểu biết này, đã không biết bên trong, nhưng lại có thể thấy bên ngoài. Thì theo con nghĩ, nó trốn sau mắt! Ví như có người, lấy chén lưu ly, che lên hai mắt. Tuy có vật che lên, mà không gây trở ngại, mắt ấy tùy chỗ nhìn thấy, lập tức theo đó phân biệt. Tuy tâm giác biết rõ ràng này của con, không thấy bên trong, vì nó ở nơi con mắt. Phân biệt rõ ràng bên ngoài, không hề trở ngại, do trốn sau con mắt.”
Phật bảo A Nan: “Như lời ông nói, tâm trốn sau mắt, giống như lưu ly. Người kia khi lấy lưu ly che lên mắt, nhìn thấy núi sông, có nhìn thấy lưu ly hay không?” “Bạch đức Thế Tôn, đúng vậy! Người kia khi dùng lưu ly che lên mắt, quả thật nhìn thấy lưu ly.”
Phật bảo A Nan: “Tâm ông nếu giống như lưu ly che lên mắt, khi thấy núi sông, sao không thấy mắt? Nếu nhìn thấy mắt, thì con mắt chính là ngoại cảnh, không thể thành lập. Nếu không thể thấy, sao lại nói rằng, tâm rõ biết ấy, trốn sau con mắt, giống như lưu ly? Vì vậy nên biết, ông nói tâm thấy biết rõ ràng, trốn sau con mắt, giống như lưu ly, không có chỗ đó.”
Tâm Ở Trong Ngoài
1-12 A Nan bạch đức Phật rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Con nay lại suy nghĩ như vậy. Thân của chúng sanh, phủ tạng bên trong, hang huyệt bên ngoài, có tạng thì tối, có lỗ thì sáng. Con nay thưa Phật, mở mắt thấy sáng, gọi là thấy bên ngoài, nhắm mắt thấy tối, gọi là thấy bên trong, nghĩa ấy thế nào?”
Phật hỏi A Nan: “Ông khi nhắm mắt, nhìn thấy bóng tối, cảnh giới tối ấy, đối xứng với mắt, hay không đối xứng?
Nếu đối xứng mắt, bóng tối trước mắt, sao thành bên trong?
Nếu thành bên trong, ở trong nhà tối, không trời trăng đèn, trong nhà tối này, đều là tạng phủ của ông.
Nếu không đối xứng, sao thành cái thấy.
Nếu ra ngoài nhìn, thành thấy bên trong. Nhắm mắt thấy tối, gọi là thấy trong thân. Mở mắt thấy sáng, sao không thấy mặt.
Nếu không thấy mặt, thấy trong không thành.
Nếu nhìn thấy mặt, tâm rõ biết này, cùng với con mắt, đều ở nơi hư không, sao thành ở trong.
Nếu ở hư không, đâu phải thân ông.
Lúc này Như Lai nhìn thấy mặt ông, thì cũng là thân ông. Mắt ông đã biết, thân đáng lẽ chẳng biết. Ông cứ chấp rằng, thân mắt đều biết, nên có hai cái biết, tức một thân của ông, nên thành hai vị Phật.
Vì vậy nên biết, ông nói thấy tối là thấy bên trong thân, không có chỗ đó.”
Tùy Theo Chỗ Hợp Tâm Theo Đó Có
1-13 A Nan bạch rằng: “Con thường nghe Phật khai thị cho bốn chúng. Do tâm sanh ra, nên các pháp sanh. Do các pháp sanh, nên các tâm sanh. Bây giờ con suy nghĩ, tức thể suy nghĩ này, nó quả thật là tâm tánh con. Tùy theo chỗ gặp, tâm theo đó mà có, cũng chẳng phải nơi ba chỗ trong ngoài khoảng giữa.”
Phật bảo A Nan: “Nay ông nói rằng, do pháp sanh ra, nên các tâm sanh, tùy theo chỗ gặp, tâm theo đó mà có, mà tâm không có thể, thì không có chỗ gặp. Nếu không có thể mà có chỗ gặp, tức có 19 giới do 7 trần hợp thành. Nghĩa này không đúng!
Nếu như có thể, giả như ông dùng tay tự nhéo thân ông. Tâm biết rõ của Ông, là từ trong ra, hay từ ngoài vào? Nếu từ trong ra, phải thấy trong thân; nếu từ ngoài vào, trước phải thấy mặt.”
A Nan bạch rằng: “Thấy là con mắt, tâm rõ biết không phải con mắt, nên nói thấy là không đúng.”
Phật dạy: “Nếu mắt có thể thấy, ông ở trong nhà, cánh cửa có thấy không? Thì những người đã chết, con mắt vẫn còn, đáng lẽ đều thấy cảnh vật. Nếu thấy cảnh vật, sao gọi là chết.
A Nan! Lại nữa tâm có thể biết, có thể hiểu của ông, nếu nhất định có thể, thì có một thể, hay có nhiều thể. Nay nơi thân ông, là đầy khắp thân, hay không khắp thân.
Nếu là một thể, khi ông dùng tay nhéo vào một chi, bốn chi đều có cảm giác. Nếu đều có cảm giác, chỗ nhéo phải không tồn tại. Nếu có chỗ nhéo, thì thuyết một thể của ông, tự nhiên không thể thành.
Nếu như nhiều thể, thì thành nhiều người, vậy thể nào là ông. Nếu đầy khắp thân, thì giống chỗ nhéo phía trước. Nếu không đầy khắp, khi ông chạm vào cái đầu, cũng chạm vào cái chân, cái đầu có cảm giác, cái chân phải không hay biết. Nay ông lại không phải như vậy. Vì vậy biết rằng, tùy theo chỗ gặp, tâm theo đó mà có, không có chỗ đó.”
Tâm Ở Khoảng Giữa
01-14 A Nan bạch đức Phật rằng: “Bạch đức Thế Tôn. Con cũng từng nghe Phật cùng Văn Thù và các vị Pháp vương tử khác, khi nói về thật tướng, Thế Tôn cũng dạy rằng, tâm không ở trong, cũng không ở ngoài. Theo như con suy nghĩ, bên trong không chỗ thấy, bên ngoài không cùng biết. Vì bên trong không biết, ở trong không thành. Thân tâm cùng biết, ở bên ngoài chẳng đúng. Nay vì cùng biết, lại không thấy bên trong, nên sẽ ở chính giữa.”
Phật dạy: “Ông nói chính giữa, chính giữa chắc không thể không nhận ra, không thể không có chỗ. Nay ông suy đoán chính giữa, chính giữa ở đâu. Là ở một nơi, hay ở nơi thân.
Nếu ở nơi thân, ở một bên không phải chính giữa, ở chính giữa thì giống như ở trong. Nếu ở một nơi, thì có chỗ đánh dấu, hay không có chỗ đánh dấu. Không thể đánh dấu giống như không có. Đánh dấu được thì không nhất định.
Vì sao như vậy? Ví như có người đánh dấu cột mốc, khi đánh dấu cột mốc ở chính giữa, phía đông nhìn thành tây, phía nam nhìn thành bắc. Đánh dấu mốc đã hỗn loạn, thì tâm cũng lộn xộn.”
A Nan bạch rằng: “Con nói chính giữa, không phải hai thứ này. Như Thế Tôn dạy, mắt lấy sắc làm duyên, sanh ra nhãn thức. Mắt có phân biệt, sắc trần không biết. Thức sanh ra ở chính giữa, thì tâm ở tại đó.”
Phật dạy: “Tâm ông nếu ở chính giữa căn và trần, thì tâm thể này, bao gồm cả hai, hay không bao gồm cả hai.
Nếu bao gồm cả hai, vật thể lộn xộn, thể biết vật chẳng biết, trở thành hai cái đối lập; sao gọi là ở chính giữa. Bao gồm cả hai không thành, không biết cũng không thể biết, tức không thể tánh, chính giữa lấy gì làm tướng. Vì thế nên biết, tâm ở chính giữa, không có chỗ đó.”
Tâm Không Chỗ Có
1-15 A Nan bạch Phật rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Trước đây con thấy Phật, cùng Đại Mục Kiền Liên, Tu Bồ Đề, Phú Lâu Na, Xá Lợi Phất, bốn vị đại đệ tử, cùng chuyển pháp luân. Thường nói tâm tánh hiểu biết phân biệt này, đã không ở trong, cũng không ở ngoài, không ở chính giữa, đều không có nơi chốn, tất cả không chấp trước, gọi đó là tâm. Vậy con không chấp trước, có gọi là tâm không?”
Phật bảo A Nan: “Ông nói tâm tánh hiểu biết phân biệt này, đều không có nơi chốn, thế gian các loài bay trong hư không, bơi dưới mặt nước, đi trên mặt đất, những hiện tượng này, gọi là tất cả.
Ông không chấp trước, là có hay không có.
Không có thì đồng với lông rùa sừng thỏ, sao nói là không chấp trước.
Có nhưng không chấp trước. Không thể gọi là không.
Không tướng tức là không, chẳng không tức là tướng.
Có tướng tức là có, sao nói không chấp trước.
Vì thế nên biết, tất cả không chấp trước, cho đó là tâm hiểu biết, không có chỗ đó.”
1-16 Lúc bấy giờ A Nan, ở trong đại chúng, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, vén vai áo bên phải, đầu gối bên phải quì xuống chạm đất, chắp tay cung kính, mà bạch đức Phật rằng:
“Con là đứa em nhỏ nhất của Như Lai, được lòng từ của Phật yêu thương, tuy nay xuất gia, vẫn còn kiêu mạn ỷ lại vào tình thương. Cho nên nghe nhiều nhưng chưa được Vô lậu. Không thể chế phục chú Ta Tì La. Bị nó lôi kéo, sa vào phòng dâm. Chính do không biết chân tánh chỗ nào. Cúi xin Thế Tôn, đại từ thương xót, chỉ dạy chúng con, con đường Xa Ma Tha, khiến những hạng người không tin, kẻ hư hoại tệ ác có con đường đi.”
Nói lời ấy xong, năm vóc sát đất, cùng các đại chúng, chí thành khát ngưỡng, kính nghe lời chỉ dạy.
1-17 Lúc bấy giờ đức Thế Tôn, từ trên khuôn mặt, phóng các ánh sáng, sáng chói rực rỡ, như trăm ngàn mặt trời. Khắp thế giới Phật, chấn động sáu cách. Mười phương vi trần cõi nước như thế, trong chốc lát hiện rõ oai thần của Phật, khiến các thế giới hợp thành một thế giới. Trong thế giới đó, tất cả các vị đại Bồ Tát, đều trụ nơi cõi nước mình, chắp tay lắng nghe tiếp nhận.
Hai Thứ Căn Bản
1-18 Phật bảo A Nan: Tất cả chúng sanh, từ vô thỉ đến nay, mọi thứ điên đảo, hạt giống nghiệp tự nhiên hình thành, như chùm trái ác xoa.
Những người tu hành, không thể thành tựu Vô Thượng Bồ Đề, thậm chí chỉ thành Thanh văn, Duyên giác, cho đến thành ngoại đạo, chư Thiên, Ma vương, và quyến thuộc của ma. Đều do không biết hai điều căn bản, tu tập sai lầm.
Giống như nấu cát, muốn trở thành cơm, dù trải qua trần kiếp, cuối cùng cũng không thể được. Hai điều đó là gì?
Này A Nan, một là, gốc rễ sanh tử từ vô thủy, tức là hiện nay ông, và các chúng sanh, dùng tâm phan duyên, lấy làm tự tánh.
Hai là, thể thanh tịnh vốn có của Bồ đề Niết Bàn từ vô thủy. Tức là ông hiện nay, tánh nhận biết ban đầu vốn sáng suốt, có thể sanh ra các duyên, chạy theo duyên rồi bỏ quên tâm linh.
Do các chúng sanh, sao nhãng bổn tâm, tuy dùng cả ngày, mà không tự biết, để rơi vào các đường một cách oan uổng.
1-19 Này A Nan! Nay ông muốn biết con đường Xa Ma Tha, nguyện thoát khỏi sinh tử. Nay Ta lại hỏi ông. Ngay lúc ấy Như Lai đưa cánh tay sắc vàng lên, gập năm ngón thành nắm, hỏi A Nan rằng: “Giờ ông thấy không?”
A Nan đáp rằng: “Con thấy.”
Phật lại hỏi: “Ông làm thế nào để thấy.”
A Nan thưa rằng: “Con thấy Như Lai đưa cánh tay lên gập ngón tay lại, thành nắm tay sáng rực, chói cả tâm mắt con.”
Phật lại hỏi: “Ông dùng cái gì để thấy?”
A Nan thưa rằng: “Con và đại chúng, đều dùng mắt để thấy.”
Phật bảo A Nan. “Nay ông trả lời Ta, Như Lai gập ngón tay thành nắm tay sáng rực, chói cả tâm mắt ông. Mắt ông có thể thấy, lấy gì làm tâm, để nhận biết nắm tay chói sáng của Ta.”
A Nan lại thưa: “Nay Như Lai hỏi tâm ở chỗ nào, mà con thì dùng tâm suy cứu truy tìm, tức cái có thể suy cứu đó, con lấy làm tâm.”
Tướng Vọng Tưởng Tiền Trần Hư Vọng
Phật dạy: “Sai rồi! A Nan, đó không phải tâm ông.”
A Nan giật mình kinh sợ, từ chỗ ngồi đứng dậy chắp tay bạch Phật: “Đó không phải tâm con, nên gọi là gì?”
Phật bảo A Nan: “Đó là tướng vọng tưởng tiền trần hư vọng, mê hoặc chân tánh ông. Do ông từ vô thủy đến nay, nhận giặc làm chính mình, đánh mất cội gốc thường hằng của ông, nên chịu luân chuyển.”
1-20 A Nan bạch Phật rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Con là em trai cưng của Phật, vì tâm kính yêu Phật, nên con xuất gia.
Tâm con đâu chỉ riêng cúng dường Như Lai. Thậm chí trải khắp hằng sa cõi nước, phụng sự chư Phật, và Thiện tri thức, phát tâm dõng mãnh lớn, làm tất cả các pháp sự khó làm, đều dùng tâm này. Dù có báng pháp, mất hết thiện căn, cũng do tâm này.
Nếu bây giờ phát hiện, hiểu được không phải tâm này, vậy con không có tâm giống như gỗ đất, rời xa tâm hiểu biết này, càng không có gì cả. Tại sao Như Lai lại nói đây không phải là tâm. Con thật sự kinh sợ. Bao gồm cả đại chúng đây, không ai không nghi hoặc. Cúi xin Phật rũ lòng đại bi, chỉ dạy cho những kẻ chưa giác ngộ.”
Việc Phân Biệt Tiền Trần Pháp Trần Bóng Ảnh
1-21 Lúc bấy giờ đức Thế Tôn, khai thị cho A Nan, và các đại chúng. Muốn khiến tâm đại chúng đi vào vô sanh pháp nhẫn. Phật ngồi nơi tòa sư tử, xoa đầu A Nan, mà dạy rằng: “Như Lai thường nói, các pháp sanh ra, do tâm biến hiện. Tất cả nhân quả, thế giới vi trần, do tâm mà thành thể.
Này A Nan! Nếu các thế giới, tất cả mọi thứ, trong đó thậm chí cỏ, lá, sợi dây, nút thắt, xét tận nguồn gốc, đều có thể tánh. Cho dù hư không, cũng có tên gọi tướng mạo. Huống hồ tâm sáng suốt thanh tịnh vi diệu, tánh của tất cả tâm, mà tự nó không có thể tánh sao.
Nếu Ông cố chấp tiếc rẻ, phân biệt và giác quán, tánh rõ biết tất cả, nhất định nó là tâm. Thì tâm này phải lìa khỏi tất cả sắc hương vị xúc những sự nghiệp trần, vẫn có tánh toàn vẹn. Như ông hiện nay nghe nhận pháp Ta, đây tức do âm thanh mà có phân biệt. Cho dù diệt hết tất cả cái thấy, cái nghe, cái hiểu, cái biết, bên trong giữ vắng lặng, vẫn chỉ là việc phân biệt pháp trần bóng ảnh.
Ta chẳng phải bảo ông, đừng chấp làm tâm. Nhưng ông ở nơi tâm này, nghiền ngẫm cho kỹ, nếu lìa khỏi tiền trần vẫn có tánh phân biệt, tức là chân tâm của ông!
Nếu tánh phân biệt, lìa trần không có thể, tức chỉ là việc phân biệt tiền trần bóng ảnh. Trần chẳng thường trụ, nếu lúc biến diệt, thì tâm này giống như lông rùa sừng thỏ, tức là pháp thân của ông cũng giống như đoạn diệt, vậy ai tu chứng, vô sanh pháp nhẫn”.
Lúc đó A Nan, cùng cả đại chúng, im lặng như đánh mất mình.
Phật bảo A Nan: “Tất cả những người tu học trong thế gian, hiện tiền tuy thành tựu chín bậc định theo thứ tự, nhưng không được lậu tận chỉ thành tựu A La Hán, đều do chấp vọng tưởng sanh tử này, lầm cho là chân thật. Vì thế nay ông tuy được đa văn nhưng không thành tựu Thánh quả.
1-22 A Nan nghe xong, lại buồn khóc, năm vóc sát đất, quì gối chắp tay, mà bạch đức Phật rằng: Từ khi con theo Phật phát tâm xuất gia, ỷ lại vào oai thần của Phật. Thường tự suy nghĩ, Con không cần cực khổ tu hành, rồi đây Như Lai sẽ ban cho con tam muội. Không biết thân tâm vốn không thể thay thế cho nhau. Con đánh mất bổn tâm. Tuy thân xuất gia, mà tâm không vào đạo. Ví như đứa con nghèo, bỏ cha chạy trốn. Hôm nay mới biết, tuy có nghe nhiều, mà không tu hành, như người không nghe. Như người chỉ nói ăn, cuối cùng chẳng được no.
Bạch Thế Tôn. Chúng con ngày hôm nay, bị hai thứ chướng ngại ràng buộc. Do đó không biết tâm tánh tĩnh lặng thường hằng, duy nguyện đức Như Lai, thương xót hiển lộ triệt để, phát khởi tâm sáng suốt nhiệm mầu, khai mở đạo nhãn cho con!
1-23 Lúc bấy giờ đức Như Lai, từ tướng chữ vạn ở trước ngực, phóng ra ánh sáng báu. Ánh sáng rực rỡ có trăm ngàn màu sắc. Mười phương vi trần, khắp thế giới Phật, cùng lúc soi khắp. Quán đảnh chư Như Lai trong khắp mười phương tất cả các cõi báu. Rồi chiếu đến A Nan, và cả đại chúng.
Bảo A Nan rằng: “Ta nay vì ông dựng pháp tràng lớn, cũng khiến cho mười phương tất cả chúng sanh, được tâm tánh thanh tịnh sáng suốt vi diệu sâu kín, được mắt thanh tịnh.
Này A Nan, trước tiên ông trả lời Ta thấy ánh sáng nắm tay. Ánh sáng của nắm tay này, do đâu mà có? Làm sao thành nắm tay? Ông dùng cái gì để thấy?”
A Nan bạch rằng: “Do toàn thân Phật như vàng diêm phù đàn, sáng ngời như núi báu, do thanh tịnh sanh ra, nên có ánh sáng ấy. Con quả thật dùng mắt để nhìn, năm đầu ngón tay, co lại đưa lên cho đại chúng xem, cho nên có tướng nắm tay.”
Phật bảo A Nan: “Hôm nay Như Lai nói lời thật cho ông. Những người có trí, cần lấy thí dụ mà được khai ngộ. Này A Nan! Ví như nắm tay của Ta, nếu không có bàn tay của Ta, thì không thành nắm tay của Ta. Nếu không có mắt của ông, thì không thành cái thấy của ông. Lấy nhãn căn của ông, để so sánh với nắm tay của Ta, nghĩa lý của nó giống nhau, đúng không?”
A Nan thưa rằng: “Đúng vậy thưa Thế Tôn. Đã không có đôi mắt của con, thì không thành cái thấy của con. Đem nhãn căn của con, so với nắm tay Như Lai, sự việc và nghĩa lí đều giống nhau.”
Phật bảo A Nan: “Ông nói giống nhau, nghĩa ấy không đúng. Vì sao? Như người không có tay, dĩ nhiên không có nắm tay. Nhưng người không có mắt, chẳng phải cái thấy hoàn toàn không có. Vì sao như vậy? Ông thử ra đường, hỏi người mù rằng, Ông thấy được gì, những người mù kia, nhất định trả lời Ông. Nay trước mắt tôi, chỉ thấy tối đen, không có gì khác. Lấy nghĩa này suy xét, tiền trần tự tối đen, tánh thấy nào có hao tổn.”
A Nan thưa: “Trước mắt những người mù, chỉ thấy tối đen, sao thành cái thấy.”
Phật bảo A Nan: “Những người mù không có mắt, chỉ thấy tối đen, và người có mắt, ở trong nhà tối, hai cái tối có khác nhau, hay không khác nhau?”
“Đúng vậy thưa Thế Tôn. Người trong nhà tối này, và những người mù kia, so sánh hai cái tối ấy, không có gì khác nhau.”
“A Nan. Nếu người không có mắt, toàn thấy trước mắt tối đen, bỗng nhiên mắt được sáng, vẫn nơi tiền trần, thấy đủ màu sắc, gọi là con mắt thấy. Người trong nhà tối kia, toàn thấy trước mắt tối đen, bỗng nhiên có ánh đèn, cũng nơi tiền trần, thấy đủ các sắc, nên gọi là đèn thấy. Nếu đèn thấy được, đèn có thể thấy, tự nó không gọi là đèn. Lại như đèn thấy, liên quan gì đến ông.
Vì thế nên biết, đèn có thể hiển rõ sắc vật. Cái thấy như thế, là mắt không phải đèn. Mắt có thể hiển rõ sắc vật, tánh thấy như thế, là tâm không phải mắt.”
1-24 A Nan, tuy lại được nghe lời dạy như thế, cùng cả đại chúng, miệng đã im lặng, nhưng tâm chưa khai ngộ. Vẫn mong từ âm của Như Lai tuyên dạy, chắp tay tâm thanh tịnh, chờ Phật thương xót dạy bảo.
1-25 Lúc bấy giờ đức Thế Tôn, liền duỗi cánh tay mềm mại sáng ngời, mở năm ngón tay ra, bảo A Nan, cùng cả đại chúng: “Lúc Ta mới thành đạo, ở trong vườn Nai, vì năm vị Tỳ kheo A Nhã Đa, cùng bốn chúng các ông dạy rằng. Tất cả chúng sanh, không thành tựu Bồ đề, và A La Hán, đều do bị khách trần phiền não làm hại. Các ông lúc ấy, nhân đâu khai ngộ, mà nay thành tựu Thánh quả?”
1-26 Lúc ấy Kiều Trần Na, đứng dậy bạch Phật: “Con nay làm trưởng lão, ở trong đại chúng, riêng được tên “Giải”. Nhân ngộ hai chữ khách trần mà chứng quả. Bạch đức Thế Tôn. Ví như hành khách, vào quán trọ nghỉ ngơi, hoặc ngủ hoặc ăn; việc ăn nghỉ ngơi đã xong, thu xếp hành trang tiếp tục lên đường, không ở yên được. Nếu thật là người chủ, ắt không phải đi đâu. Suy nghĩ như thế, Không ở yên gọi là khách, ở yên gọi là người chủ. Lấy việc không ở yên, để nói nghĩa của khách.
Lại như lúc trời quang tạnh, mặt trời sáng tỏ trên không trung, ánh sáng chiếu xuyên qua khe hở, làm hiện rõ những hạt bụi trong hư không, chất bụi thì dao động, hư không thì lặng yên. Suy nghĩ như vậy. Lặng yên thì gọi là “không”. Dao động thì gọi là “trần”. Lấy sự “dao động”, để nói nghĩa của “trần”.
Co Ngón Tay, Ánh Sáng Bay Ra, Kiểm Nghiệm Cái Thấy Không Dao Động.
1-27 Phật dạy: “ Đúng vậy.”
Tức thời Như Lai, ở trong đại chúng, co năm ngón tay lại, nắm rồi lại mở, mở rồi lại nắm.
Lại hỏi A Nan rằng: “Giờ ông thấy gì.”
A Nan thưa: “Con thấy bàn tay trăm báu của Như Lai, trong chúng mở nắm.”
Phật lại hỏi A Nan: “Ông thấy tay Ta, ở trong đại chúng mở nắm. Vậy tay của Ta, có mở có nắm. Hay tánh thấy của ông, có mở có nắm.”
A Nan bạch Phật: “Tay báu của Thế Tôn, ở trong đại chúng mở nắm. Con thấy tay Như Lai tự mở nắm. Không phải tánh thấy của con có mở có nắm.”
Phật hỏi: “Cái gì động, cái gì tĩnh.”
A Nan thưa: “Tay Phật không ở yên, chứ tánh thấy của con, tĩnh còn không có, lấy gì làm không yên.”
Phật dạy: “Đúng vậy!”
1-28 Như Lai liền từ trong lòng bàn tay, phóng ra một luồng ánh sáng báu, ở bên phải A Nan.
Lúc ấy A Nan, quay đầu nhìn bên phải. Lại phóng một luồng ánh sáng, ở bên trái A Nan, A Nan lại liền quay đầu nhìn sang bên trái.
Phật bảo A Nan: “Nay đầu của ông do đâu dao động.”
A Nan thưa rằng: “Con thấy Như Lai phóng ánh sáng báu vi diệu, đến bên phải bên trái con, nên nhìn bên phải bên trái, đầu con tự dao động.”
“A Nan! Ông nhìn ánh sáng của Phật, đầu dao động sang bên phải sang bên trái, là đầu ông dao động, hay tánh thấy dao động.”
Bạch đức Thế Tôn: “Đầu con tự dao động, chứ tánh thấy của con còn không có dừng, lấy gì làm dao động.”
Phật dạy: “Đúng vậy.”
Lúc ấy Như Lai, bảo khắp đại chúng: “Nếu có chúng sanh, lấy dao động gọi đó là trần, lấy việc không ở yên, gọi đó là khách. Ông xem A Nan đầu tự dao động, tánh thấy không dao động, Ông lại xem tay Ta tự nắm mở tánh thấy không duỗi co. Tại sao nay ông lấy động làm thân, lấy động làm cảnh. Từ đầu đến cuối, niệm niệm sanh diệt. Không biết tâm linh, làm việc điên đảo. Không biết tâm linh,nhận mọi vật là mình, Luân hồi trong ấy, tự chuốc luân hồi lưu chuyển.
Quan Sát Sông Phân Biệt Tánh Thấy
2-01 Lúc bấy giờ ngài A Nan, và cả đại chúng. Nghe Phật dạy xong, thân tâm thư thái. Nghĩ từ vô thỉ đến nay, quên mất bổn tâm, nhận lầm duyên trần, phân biệt bóng ảnh. Bây giờ đã tỏ ngộ, giống như đứa trẻ mất sữa, bỗng gặp được mẹ hiền. Liền chắp tay lễ Phật, muốn nghe Như lai, chỉ ra cái chân thật hư vọng của thân tâm, hiểu rõ hai tánh sanh diệt và không sanh diệt nơi hiện tiền.
2-02 Lúc bấy giờ, vua Ba Tư Nặc đứng dậy bạch Phật: Trước kia, khi con chưa tiếp nhận giáo pháp của chư Phật. Gặp được Ca Chiên Diên Tì La Chi Tử. Họ đều nói thân này sau khi chết thì mất hẳn, gọi đó là "Niết Bàn". Nay tuy con được gặp Phật, nhưng vẫn còn hoài nghi. Làm thế nào để phát huy chứng biết tâm này, là không sanh diệt. Nay trong đại chúng đây, các hàng hữu lậu, đều muốn được nghe.
02-03 Phật bảo Đại vương: “Cái thân hiện tại của ông. Nay Ta lại hỏi ông. Cái nhục thân này của ông, nó giống như kim cang thường còn không hư hoại, hay luôn thay đổi hư hoại.”
Bạch đức Thế Tôn: “Cái thân hiện tại của con, đến cuối cùng cũng sẽ thay đổi hoại diệt!”
Phật bảo Đại vương! Ông chưa từng hoại diệt, vì sao biết hoại diệt?”
“Bạch đức Thế Tôn! Thân vô thường biến hoại này của con, tuy chưa từng hoại diệt. Nhưng con quán sát việc trước mắt, niệm niệm thay đổi, biến chuyển không ngừng. Như lửa cháy thành tro, dần dần biến mất. Sự diệt vong đó không ngừng nghỉ, nên biết chắc thân này, sẽ phải diệt mất.”
Đức Phật dạy rằng: “Đúng vậy, Đại vương! Nay tuổi của ông, đã dần già yếu, vậy nhan sắc so với thời còn bé thì như thế nào?”
“Bạch đức Thế Tôn! Ngày xưa lúc con còn bé, da dẻ mịn màng. Đến tuổi trưởng thành, khí huyết dồi dào. Mà nay tuổi già, ngày càng suy yếu, hình sắc khô gầy, tinh thần không còn minh mẫn, tóc bạc da mặt nhăn nheo, sống không còn bao lâu nữa, đâu có thể so sánh được với những ngày còn trẻ khỏe mạnh!”
Phật bảo: “Đại vương! Tướng mạo của ông, đâu phải bỗng trong phút chốc mà suy yếu ngay.”
Vua bạch đức Thế Tôn: “Thân thể âm thầm biến hóa thay đổi, con thật không hay biết. Lạnh nóng đổi dời, dần dần mà thành ra như thế này. Vì sao như vậy? Năm con 20 tuổi, tuy nói là trẻ. Nhưng trông nét mặt thì đã già hơn lúc mới lên 10 tuổi. Năm 30 tuổi, lại sút kém hơn năm 20 tuổi. Đến nay đã 62 tuổi, nhìn lại lúc 50 tuổi, thì lúc ấy khỏe mạnh hơn bây giờ.
Bạch Thế Tôn! Con thấy sự biến đổi âm thầm lặng lẽ này, tiến đến sự suy yếu như hôm nay. Trong khoảng thời gian biến đổi ấy, xét từng giai đoạn 10 năm. Nếu lại bảo con suy xét tỉ mỉ hơn, sự biến đổi ấy đâu chỉ xảy ra trong từng mười năm hai mươi năm, mà thật sự mỗi năm mỗi biến đổi; cũng không chỉ biến đổi trong từng năm, mà biến đổi trong từng tháng; cũng không chỉ biến đổi từng tháng, mà biến đổi từng ngày. Suy xét cho cùng nghĩ cho kĩ, trong từng sát na, trong mỗi niệm niệm, không hề ngừng nghỉ! Cho nên biết thân này của con, cuối cùng phải hoại diệt.”
02-04 Phật bảo Đại vương: “Ông đã thấy sự biến hóa, thay đổi không ngừng, biết rõ ông nhất định sẽ diệt vong. Nhưng, trong lúc diệt vong đó, ông có biết trong thân vẫn có cái không diệt vong không?”
Vua Ba Tư Nặc chắp tay bạch Phật: “Con thật sự không biết!”
Đức Phật dạy rằng: “Bây giờ Như Lai sẽ chỉ cho ông thấy tánh không sanh diệt. Đại vương! Ông năm mấy tuổi, thì thấy nước sông Hằng.”
Vua bạch: “Con sinh ra được 3 tuổi, mẹ con dẫn đi lễ bái đền thờ trời Kì Bà, có đi ngang qua sông Hằng, nên lúc ấy con đã biết, đó là nước sông Hằng.”
Phật dạy Đại vương: “Như ông đã nói, lúc 20 tuổi, thì suy yếu hơn lúc 10 tuổi, cho đến 60 tuổi, năm tháng ngày giờ, niệm niệm thay đổi. Vậy, từ năm ba tuổi, ông đã thấy nước sông Hằng, đến lúc lên 13 tuổi, thì nước sông ấy như thế nào?”
Vua bạch rằng: “Cũng giống như lúc con ba tuổi, không khác chút nào. Cho đến hôm nay, con đã 62 tuổi, cũng không có gì khác.”
Đức Phật dạy rằng: “Nay ông tự thương mình tóc bạc mặt nhăn. Mặt Ông chắc chắn nhăn hơn lúc trẻ. Nhưng ông giờ đây, nhìn sông Hằng này, cùng với lúc trẻ, cái thấy lúc xem sông Hằng, có già trẻ gì không?”
Vua thưa rằng: “Bạch Thế Tôn, thưa không!”
Đức Phật dạy Đại vương: “Mặt ông tuy nhăn, nhưng cái thấy này tinh anh, tánh chưa từng bị nhăn. Bị nhăn là thay đổi, không nhăn là không thay đổi. Cái thay đổi thì phải diệt vong; cái không thay đổi, thì vốn không sanh diệt. Vì sao ở trong đó chịu sự sống chết của ông, mà ông còn dẫn thuyết của các ông Mạt Già Lê kia, đều bảo rằng thân này sau khi chết hoàn toàn mất hẳn?”
Vua nghe lời dạy như vậy, liền tin tưởng, biết rõ sau khi bỏ thân này sẽ thọ thân khác. Cho nên cùng với đại chúng, vui mừng hớn hở, được điều chưa từng có!
02-05 A Nan liền từ chỗ ngồi đứng dậy, chắp tay lễ Phật, quì xuống bạch Phật. Bạch đức Thế Tôn! Nếu tánh thấy tánh nghe này, thật không sanh diệt, vì sao đức Thế Tôn, bảo chúng con, không biết chân tánh, làm việc điên đảo? Xin đức Thế Tôn mở lòng từ bi, rửa sạch trần cấu cho chúng con.
02-06 Ngay lúc ấy, đức Phật duỗi cánh tay màu vàng kim, bàn tay chỉ xuống đất, hỏi A Nan rằng:
“Ông thấy bàn tay Mẫu Đà La của Như Lai, là xuôi hay ngược?”
A Nan thưa: “Chúng sanh ở thế gian, cho đó là ngược, riêng con thì không biết ai là xuôi, ai là ngược.”
Phật bảo A Nan: “Nếu người thế gian, cho rằng như thế này là ngược, vậy người thế gian, cho rằng thế nào gọi là xuôi?”
A Nan bạch rằng: “Đức Như Lai đưa cánh tay lên, bàn tay Đâu La Miên, chỉ lên không trung, thì gọi là xuôi.”
Đức Phật liền đưa cánh tay lên, bảo A Nan rằng: “Sự đảo ngược này, là đầu đuôi thay đổi nhau thôi. Những người thế gian, cùng nhau ngước nhìn. Thì biết được thân của các ông, và pháp thân thanh tịnh của Như Lai, so sánh với nhau thì thấy rõ, thân của Như Lai, gọi là Chánh Biến Tri. Còn thân của các ông, gọi là tánh điên đảo. Ông hãy xét thật kĩ, thân ông và thân Phật, cái gọi là điên đảo ấy, tên gọi chỗ nào, sao lại là điên đảo?”
02-07 Lúc bấy giờ, A Nan cùng cả đại chúng, đều nhìn chăm chú lên đức Phật, không nháy mắt, không biết thân tâm, điên đảo ở chỗ nào. Đức Phật khởi lòng từ bi, thương xót A Nan cùng cả đại chúng. Phát tiếng hải triều, bảo khắp hội chúng.
Duy Tâm Sở Hiện
Các thiện nam tử! Ta thường nói rằng: Sắc tâm các duyên, và tâm sở sai khiến, các pháp sở duyên, đều do tâm hiện ra. Thân tâm của ông, đều từ trong tâm vi diệu sáng suốt chân thật tinh diệu đó mà hiện ra mọi vật.
Vì sao các ông, lại đánh mất cái vi diệu vốn có, tâm vi diệu viên mãn sáng suốt, tánh vi diệu sáng suốt quý báu. Xác nhận ngộ trong mê, lấy u ám làm hư không, mà trong hư không thì tối tăm, kết bóng tối thành sắc, sắc xen lẫn với vọng tưởng, lấy tướng vọng tưởng làm thân, rồi góp nhặt duyên để vào bên trong mà dao động, còn bên ngoài phóng dật chạy bôn ba. Lấy tướng hôn mê nhiễu loạn, làm tâm tánh mình. Một khi lấy mê làm tâm, chắc chắn bị mê hoặc, cho rằng tâm ở bên trong sắc thân. Không biết sắc thân và sông núi, đất đai, ao hồ, hư không, đều là vật từ chân tâm diệu tánh hiện ra. Ví như trong trăm ngàn biển lớn trong xanh lại bỏ đi. Chỉ nhận lấy một tướng bọt bóng, rồi cho rằng đó đều là sóng biển, là toàn bộ biển lớn. Các ông chính là người mê muội chồng chất. Giống như tay Ta duỗi xuống. Không gì sai khác. Cho nên Như Lai gọi đó là kẻ thật đáng thương!
02-08. A Nan nương nhờ lời dạy bảo sâu xa do lòng từ bi cứu độ của đức Phật. Rơi lệ kính cẩn chắp tay, mà bạch đức Phật rằng: “Tuy con tin nhận diệu âm này của đức Phật, ngộ được tâm vi diệu sáng suốt ấy, nó vốn dĩ là tâm địa viên mãn, thường trú. Và con ngộ được pháp âm đức Phật vừa dạy, nay dùng tâm phan duyên, Phật cho phép con chiêm ngưỡng, cho dù có được tâm này; Con vẫn chưa dám nhận đó là tâm địa vốn có. Cúi xin đức Phật thương xót, dùng viên âm tuyên thuyết khai thị, nhổ bỏ gốc nghi hoặc của con, được quay về đạo Vô Thượng.”
02-09 Phật bảo A Nan: “Các ông vẫn đang dùng tâm phan duyên để nghe pháp, thì pháp này cũng là duyên, chẳng được pháp tánh. Ví như có người dùng ngón tay, chỉ mặt trăng cho người kia thấy, người kia nên dựa theo ngón tay chỉ, mà nhìn thấy mặt trăng. Nếu cứ nhìn vào ngón tay mà cho đó là mặt trăng, thì người này không những đánh mất mặt trăng, mà còn đánh mất cả ngón tay! Vì sao như vậy? Vì đã cho rằng ngón tay chính là mặt trăng. Đâu chỉ đánh mất ngón tay, mà cũng không phân biệt được ánh sáng và bóng tối! Vì sao như vậy? Vì lấy thể của ngón tay, làm tánh sáng của mặt trăng. Cho nên, hai tánh sáng tối, cũng không biết rõ.
Ông cũng như vậy, nếu dùng sự phân biệt âm thanh thuyết pháp của Ta, rồi cho đó là tâm ông. Thì tâm này phải tự rời sự phân biệt âm thanh vẫn có tánh phân biệt.
Ví như có người khách, nghỉ qua đêm ở quán trọ, tạm dừng lại liền đi, không thể ở lại luôn được. Nhưng người chủ quán trọ, thì không có chỗ để đi, nên gọi là chủ quán. Ở đây cũng vậy. Nếu thật là tâm ông, thì không có chỗ để đi. Tại sao rời khỏi âm thanh, lại không có tánh phân biệt.
Như vậy, chẳng phải chỉ khi có âm thanh mới có tâm phân biệt. Và ngay cả phân biệt tướng mạo của Ta, khi lìa khỏi sắc tướng, cũng không có tánh phân biệt nữa sao. Như vậy cho đến mọi sự phân biệt đều không có, chẳng phải sắc, chẳng phải không, như nhóm ông Câu Xá Li, mê lầm gọi là "tướng tối tăm". Lìa các pháp duyên trần, thì không có tánh phân biệt. Vậy tâm tánh của ông, mỗi thứ đều có chỗ trả lại, sao gọi là chủ nhân được.”
02-10 A Nan bạch rằng: “Nếu tâm tánh con, mỗi thứ đều có chỗ trả lại. Thì Như Lai nói, tâm tánh sáng suốt vi diệu vốn có ấy, tại vì sao lại không có chỗ trả lại. Cúi xin đức Thế Tôn rủ lòng thương xót, vì con giảng nói.”
Mặt Trăng Thứ Hai
02-11 Phật bảo A Nan: “Như ông nhìn thấy Ta, là cái thấy rõ ràng sáng suốt vốn có. Cái thấy này tuy không phải là chân tâm diệu tánh. Giống như mặt trăng thứ hai, không phải là bóng của mặt trăng. Ông nên nghe cho kĩ! Bây giờ Như Lai sẽ chỉ cho ông biết, thế nào gọi là "không có chỗ trả lại".
Tám Vòng Phân Biệt Tánh Thấy
A Nan! Ngôi giảng đường to lớn này, cửa mở ở hướng Đông, khi mặt trời lên, thì có ánh sáng. Trong đêm tối không trăng, thì mây mù tối mịt, thì lại tối tăm. Chỗ khe hở của cánh cửa, thì lại thấy thông suốt. Giữa vách tường, thì lại ngăn bít. Chỗ phân biệt được, thì lại thấy duyên. Ở trong hư không, tánh không đầy khắp; cảnh tượng mịt mờ, chính là bụi trần cuồn cuộn bay lên. Lúc trời quang mây tạnh, lại thấy trời trong xanh.
A Nan! Ông đã thấy các tướng biến hóa này. Nay Ta đem chúng trả lại chỗ cũ. Thế nào là chỗ cũ?
A Nan! Các tướng biến hóa này: Ánh sáng trả lại cho mặt trời, tại vì sao vậy? Vì không có mặt trời thì không có ánh sáng, ánh sáng thuộc về mặt trời, nên trả nó về cho mặt trời. Bóng tối trả lại cho đêm không trăng; Thông suốt trả lại cho cánh cửa; Ngăn bít trả lại cho vách tường; Sắc duyên trả lại cho sự phân biệt; Hư không trả lại cho hư không; mịt mờ trả lại cho bụi bặm; trong sáng trả lại cho trời quang mây tạnh.
Vậy tất cả mọi thứ trong thế gian, đều không ra ngoài những loại này.
Còn tánh thấy rõ ràng của ông nhìn thấy được tám tướng trên, ông định trả nó lại cho ai? Tại vì sao vậy? Vì nếu trả lại cho ánh sáng, thì lúc không có ánh sáng, lẽ ra không thấy được bóng tối. Tuy bóng tối và ánh sáng bình đẳng, có muôn vàn sự sai khác, nhưng tánh thấy thì không sai khác. Các tướng đều có chỗ trả lại, hẳn nhiên không phải chính ông. Tánh thấy ông không thể trả lại kia, nếu không phải ông thì là ai. Vì vậy nên biết tâm của ông, vốn thanh tịnh sáng suốt vi diệu, ông tự mê lầm, đánh mất bản thể chịu lấy luân hồi, ở trong sanh tử, thường bị chìm đắm nổi trôi. Cho nên Như Lai, gọi đó là “kẻ đáng thương xót!”
Chọn Giữa Vật Và Chính Mình
02-12 A Nan bạch rằng: “Tuy con biết tánh thấy này không thể trả lại.Nhưng làm thế nào để biết được đó chính là chân tánh của con?”
02-13 Phật bảo A Nan: “Nay Ta hỏi ông. Hiện nay ông chưa chứng được quả thanh tịnh vô lậu. Nhưng nhờ sức oai thần của Phật, mà thấy được cõi Sơ thiền, không bị chướng ngại. Và A Na Luật, thấy cõi Diêm phù đề, như thấy trái Am-ma-la trong lòng bàn tay. Các vị Bồ Tát khác, thấy đến trăm ngàn thế giới. Mười phương Như Lai, cùng tận hết thảy vi trần, các cõi nước thanh tịnh, không chỗ nào không thấy. Còn cái thấy của chúng sanh, không quá gang tấc.
A Nan! Nay Ta dẫn ông, đi xem cung điện chỗ ở của Tứ Thiên vương. Nhìn khắp trong không gian, các loài bơi dưới nước, đi trên đất và bay trên không trung. Tuy có sáng tối, các thứ hình tượng, nhưng không gì chẳng phải là tiền trần, các tướng phân biệt ngăn ngại. Ông nên ở trong đây, mà phân biệt rõ mình và vật. Nay Ta dẫn ông, từ trong cái thấy đó mà lựa chọn, cái gì là bản thể của chính mình, cái gì là hiện tượng sự vật?
A Nan! Ông hãy mở rộng hết cái thấy của mình, từ cung mặt trời cung mặt trăng, là vật chứ không phải ông. Cho đến bảy núi vàng, nhìn kĩ khắp nơi, tuy có nhiều thứ ánh sáng, nhưng cũng đều là vật chứ không phải ông. Rồi xem dần đến, mây trôi chim bay, gió chuyển động bụi tung bay, cây cối núi sông, rau cỏ, người và súc vật, tất cả đều là vật chứ không phải ông.
A Nan: Các vật xa gần đó tánh chất của nó, tuy có thù thắng hèn kém sai khác, nhưng đều do tánh thấy rõ ràng, thanh tịnh của ông nhìn thấy. Chứ các loại sự vật kia, tự có sai khác, nhưng tánh thấy thì không sai khác. Tánh thấy rõ ràng sáng suốt vi diệu đó, chính là tánh thấy của ông.
Tánh Thấy Không Phải Vật
Nếu cái thấy là vật, thì Ông cũng có thể thấy được cái thấy của Ta.
Nếu cùng một cái thấy, gọi là cái thấy của Ta. Vậy khi Ta không thấy, tại sao không thấy được chỗ không thấy của Ta?
Nếu thấy được chỗ không thấy, thì tự nhiên chẳng phải tướng không thấy của Ông. Còn nếu không thấy được chỗ không thấy của Ta, tự nhiên chẳng phải là vật. Tại sao không phải là Ông.
Lại nữa bây giờ lúc Ông nhìn thấy vật, ông đã nhìn thấy vật, thì vật cũng thấy Ông. Thể tánh xen tạp, thì Ông và Ta, cùng cả thế gian, không thể thành lập. A Nan! Nếu khi Ông thấy, thì chính là Ông không phải Ta. Tánh thấy cùng khắp, không phải Ông thì là ai? Tại sao Ông tự nghi ngờ chân tánh của mình? Ông không nhận chân tánh của mình, mà lại bám vào Ta để cầu chứng thật!
Tánh Thấy Không Dãn Ra Không Co Rút Lại
02-14 A Nan bạch đức Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn! Nếu tánh thấy này, là chính con chứ không phải ai khác. Vậy khi con cùng đức Như Lai, xem cung điện quí báu của trời Tứ Thiên Vương, ở cung mặt trời mặt trăng, cái thấy này viên mãn, rộng khắp cõi Ta bà. Khi trở về Tinh xá, chỉ thấy chốn già lam, giảng đường phòng ốc thanh tịnh, chỉ thấy hành lang cùng mái hiên. Bạch đức Thế Tôn! Cái thấy như vậy, bản thể của nó vốn cùng khắp pháp giới. Nhưng nay ở trong phòng này, chỉ thấy khắp trong một căn phòng, vì sao cái thấy này lại thay đổi lúc lớn lúc nhỏ. Là do bức tường ngăn cách, khiến cho hẹp lại hay sao? Nay con không biết ý nghĩa này như thế nào, cúi xin đức Thế Tôn rủ lòng thương xót chỉ dạy cho con.
02-15 Phật bảo A Nan: Tất cả thế gian, lớn nhỏ trong ngoài, tất cả mọi sự nghiệp, đều thuộc tiền trần, không nên nói rằng, tánh thấy có co có duỗi.
Ví dụ như đồ đựng hình vuông, thì bên trong thấy hư không hình vuông. Lại nữa Như Lai hỏi Ông. Trong cái đồ đựng hình vuông này, thấy hư không hình vuông, là hình vuông cố định, hay hình vuông không cố định? Nếu là hình vuông cố định, thì khi đặt đồ đựng hình tròn vào, hư không lẽ ra không thể tròn. Nếu không cố định, thì trong đồ đựng hình vuông, lẽ ra hư không không thể vuông! Ông nói ông không biết ý nghĩa ấy là như thế nào, thì ý nghĩa ấy là như thế. Sao có thể nói có.
A Nan! Nếu muốn làm cho hư không đi vào chỗ không vuông không tròn. Thì chỉ cần bỏ cái đồ đựng hình vuông; chứ hư không vốn không vuông. Không nên bảo rằng: còn phải trừ bỏ tướng vuông tròn của hư không.
Lại như lời Ông hỏi, khi vào trong nhà, làm cho cái thấy co rút nhỏ lại. Khi ngước lên nhìn mặt trời, lẽ nào Ông kéo dài cái thấy ngang bằng với mặt trời sao. Nếu vách nhà chia cách, làm cho tánh thấy đứt đoạn, thì khi khoét một cái lỗ nhỏ trên vách, tại sao không thấy dấu nối? Nghĩa này không đúng.
Nếu Có Thể Chuyển Vật Tức Đồng Như Lai
Tất cả chúng sanh, từ vô thỉ đến nay, mê mình là vật, đánh mất bổn tâm, bị vật xoay chuyển. Cho nên ở trong đó, thấy lớn thấy nhỏ. Nếu có thể xoay chuyển được vật, tức đồng với Như Lai, thân tâm tròn đầy sáng suốt, đạo tràng không dao động. Trong một mảy lông, có thể chứa trọn mười phương cõi nước.
02-16 A Nan bạch đức Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn! Nếu tánh thấy này, chính là diệu tánh của con. Nay diệu tánh này, phải ở trước con. Tánh thấy này thực sự là chân tánh của con. Vậy thân tâm hiện giờ của con, lại là vật gì? Mà hiện giờ thân tâm này thật sự có thể phân biệt.
Còn tánh thấy kia thì không thể phân biệt được thân con. Nếu thật sự là chân tâm của con, thì nay khiến cho con được thấy, tánh thấy đó thật sự là chính con, chứ thân này không phải chính con. Như vậy, đâu có khác gì trước đây đức Thế Tôn đã hỏi vặn con: "Vật có thể thấy được con" . Cúi xin đức Thế Tôn rủ lòng đại từ thương xót, khai mở cho con điều chưa tỏ ngộ.
02-17 Phật bảo A Nan: Nay như lời Ông nói, tánh thấy ở trước Ông, điều này không đúng. Nếu quả thật ở trước mắt Ông, Ông thật sự thấy nó, thì tánh thấy tinh anh này, đã có nơi chỗ nhất định, chẳng phải không chỉ ra được.
Hơn nữa, bây giờ Như Lai cùng Ông ngồi trong rừng Kì Đà, nhìn khắp cây cối, suối khe, giảng đường, trên cho đến mặt trời mặt trăng, phía trước đối diện là sông Hằng. Bây giờ Ông ở trước tòa sư tử của Như Lai, Ông đưa tay chỉ rỏ, các hình tướng này. Chỗ râm mát là rừng, chỗ sáng là mặt trời, chỗ che khuất là vách tường, chỗ thông suốt là hư không. Như vậy cho đến cỏ cây dây sợi, tuy lớn nhỏ khác nhau. Nhưng đều có hình tướng, không thứ gì là không chỉ ra được. Nếu tánh thấy kia, hiện tại nhất định ở trước Ông. Thì Ông hãy dùng tay chỉ ra một cách chính xác, cái gì là tánh thấy đó.
A Nan Ông nên biết. Nếu hư không là tánh thấy, đã thành tánh thấy, sao gọi là hư không. Nếu vật là tánh thấy, đã thành tánh thấy, sao gọi là vật? Ông hãy phân tích tỉ mỉ muôn vàn hiện tượng kia, phân tích ra nguồn gốc tánh thấy trong sáng nhiệm mầu, và chỉ cho Như Lai thấy, cũng như các vật kia, rõ ràng không lầm lẫn.
02-18 A Nan bạch rằng: Nay con ở trong giảng đường này, nhìn ra xa đến tận sông Hằng, trên thấy đến mặt trời mặt trăng, lấy tay mà chỉ, đưa mắt mà xem, những thứ chỉ ra được đều là vật, không phải tánh thấy. Bạch đức Thế Tôn! Như lời Thế Tôn vừa dạy, huống hồ con chỉ là hàng Thanh Văn hữu lậu sơ học, cho dù là hàng Bồ Tát, cũng không thể ở trước vạn vật hiện tượng, phân tích ra tánh thấy tinh anh, lìa khỏi tất cả vật, không có tự tánh khác.
02-19 Đức Phật dạy rằng: Đúng vậy! Đúng vậy!
Đức Phật lại bảo A Nan: Như lời Ông vừa nói, không có tánh thấy tinh anh, lìa tất cả vật, có tự tánh khác. Nên trong tất cả những vật Ông chỉ ra, không phải tánh thấy. Bây giờ lại hỏi Ông: Ông cùng Như Lai, ngồi trong rừng Kì Đà, lại xem rừng cây, cho đến mặt trời mặt trăng, cùng các hiện tượng khác, chắc chắn không có tánh thấy, mà Ông có thể chỉ ra được.
Ông lại tìm cho kĩ trong các vật này, cái gì không phải là tánh thấy.
A Nan bạch rằng: Quả thật con nhìn khắp rừng Kì Đà này, không biết ở trong đó cái gì không phải là tánh thấy. Vì sao vậy? Nếu cây cối không phải là tánh thấy, thì làm sao thấy được cây cối. Nếu cây cối tức là tánh thấy, thì tại sao gọi là cây cối. Cũng vậy cho đến hư không chẳng phải là tánh thấy, thì làm sao thấy được hư không. Nếu hư không tức là tánh thấy, thì tại sao gọi là hư không. Con lại suy nghĩ, ở trong muôn vàn hiện tượng kia, tìm kiếm thật kĩ, không có cái gì chẳng phải là tánh thấy!
02-20 Phật dạy: Đúng vậy! Đúng vậy! Lúc bấy giờ trong đại chúng, những vị chưa chứng quả Vô học, nghe lời Phật dạy như vậy, đều rất hoang mang không hiểu, nghĩa lí ấy đầu đuôi như thế nào, nhất thời kinh hoàng sợ hãi, mất chỗ bám víu!
Đức Như Lai biết rõ tâm niệm đại chúng, đang bị rối loạn, liền sanh lòng thương xót, an ủi A Nan cùng các đại chúng rằng: Này các Thiện nam tử! Bậc Pháp Vương Vô Thượng, là đấng nói lời chân thật, giống như sự thật mà nói, không lừa dối không hư vọng, không giống như hàng Mạt Già Lê. Đối với bốn hạng bất tử, nghị luận tán loạn. Ông nên tư duy thật kỹ, chớ nên sanh lòng lo lắng sợ hãi tự trách mình.
02-21 Lúc bấy giờ Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử. Thương xót bốn chúng, ở trong đại chúng, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật, cung kính chắp tay, mà bạch đức Phật rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Đại chúng giờ đây, không hiểu rõ hai điều tánh thấy thanh tịnh và sắc không mà Như Lai giác ngộ, là chính nó hay không phải nó.
Bạch đức Thế Tôn! Nếu những hiện tượng sắc không ở trước mắt đây, nếu đúng là tánh thấy, thì phải có chỗ chỉ ra được. Còn nếu không phải là tánh thấy, thì không thể thấy được. Nhưng nay đại chúng không hiểu được hai nghĩa này như thế nào. Cho nên hoang mang kinh sợ; chứ không phải vì căn lành đời trước ít ỏi. Cúi xin đức Thế Tôn rủ lòng đại từ thương xót dạy rõ, mọi sự vật hiện tượng và tánh thấy tinh anh này, vốn là cái gì, mà ở giữa vạn vật và tánh thấy này, không có hai nghĩa "đúng" và "không đúng"?
Tánh Thấy Và Thấy Các Duyên Cùng Với Tướng Vọng Tưởng Như Hoa Đốm Giữa Hư Không
02-22 Đức Phật bảo Văn Thù, cùng cả đại chúng rằng: Mười phương Như Lai, cho đến chư vị đại Bồ Tát, ở trong thiền định mà các Ngài an trú, tánh thấy và thấy vạn vật hiện tượng, cùng với tướng vọng tưởng, đều như hoa đốm giữa hư không, vốn không chỗ thật có. Tánh thấy và các duyên này, vốn là thể tánh bồ đề thanh tịnh sáng suốt nhiệm mầu. Thì làm sao ở trong đó lại có cái "đúng" hay "không đúng". Văn Thù! Bây giờ Như Lai hỏi ông: Như Ông là Văn Thù, lại còn có cái Văn Thù chính là Văn Thù, hay không phải Văn Thù" nữa sao?
02-23 Bạch đức Thế Tôn, đúng như vậy! Con thật sự là Văn Thù, không phải là Văn Thù, vì sao? Vì nếu có cái "đúng" tức có hai Văn Thù. Nhưng nay con cũng không có cái "chẳng phải Văn Thù". Quả thật, ở trong đây thật không có hai tướng "đúng" hay "không đúng".
Chân Tâm Thanh Tịnh Viên Mãn Vì Vọng Mà Cho Rằng Có Sắc Không Và Nghe Thấy
02-24 Đức Phật dạy rằng: Tánh thấy sáng suốt vi diệu này, cùng các không trần, cũng lại như vậy. Vốn là chân tâm bồ đề vô thượng, trong sạch tròn đầy, sáng suốt vi diệu. Vì vọng mà cho rằng có sắc, không, và nghe, thấy. Như mặt trăng thứ hai, cái nào là mặt trăng, và cái nào không phải là mặt trăng? Văn Thù! Chỉ có một mặt trăng chân thật, trong đó không có cái "chính là mặt trăng" hay "không phải là mặt trăng". Là do, hiện giờ cái ông nhìn thấy và các trần, mọi hiện sự vật hiện tượng, đều gọi là vọng tưởng. Không thể ở trong đó mà nói là "đúng" hay "không đúng". Đều do chân tánh sáng suốt tinh anh vi diệu này, nên có thể khiến cho ông "chỉ được" và "không chỉ được".
02-25 A Nan bạch đức Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn! Thật đúng như lời đấng Pháp Vương đã dạy, tự tánh biến khắp mười phương, trong lặng thường trú, tự tánh không sanh không diệt. So với thuyết của tiên phạm chí Ta Tì Ca La, nói về "minh đế", và các thuyết ngoại đạo của nhóm Đầu khôi, nói có "bản ngã chân thật biến khắp mười phương", có gì khác nhau?
Đức Thế Tôn cũng đã từng ở núi Lăng Già, vì Bồ Tát Đại Huệ và đại chúng diễn nói nghĩa này. Chúng ngoại đạo kia, thường nói tự nhiên, nhưng nhân duyên mà Ta nói, chẳng phải cảnh giới của họ.
Nay con quan sát tánh thấy này cũng là tự nhiên, không sanh, không diệt, xa lìa tất cả hư vọng điên đảo, hình như không phải là nhân duyên, mà giống như thuyết tự nhiên kia. Cúi xin đức Thế Tôn khai thị, khiến cho chúng con không lạc vào các tà kiến, đạt được tâm tánh chân thật sáng suốt giác ngộ vi diệu.
02-26 Phật bảo A Nan: Nay Như Lai dùng đủ mọi phương pháp khai thị như vậy, đều nói cho ông lời chân thật. Sao Ông vẫn chưa hiểu, lại mê hoặc cho là tự nhiên! A Nan! Nếu nhất định là tự nhiên, thì ông phải xác định rõ cái nào là thể tự nhiên. Hơn nữa ông hãy quán sát xem, ở trong tánh thấy sáng suốt nhiệm mầu này, lấy cái gì làm thể tự nhiên? Tánh thấy này lấy ánh sáng làm thể tự nhiên, lấy bóng tối làm thể tự nhiên, lấy hư không làm thể tự nhiên, hay lấy tướng ngăn bít làm thể tự nhiên? A Nan! Nếu lấy ánh sáng là thể tự nhiên, thì lẽ ra không thể thấy được bóng tối. Nếu lại lấy hư không là thể tự nhiên, thì lẽ ra không thể thấy được tướng ngăn bít. Như vậy cho đến lấy các tướng tối làm thể tự nhiên, thì đến lúc có ánh sáng, tánh thấy đã đoạn diệt, làm sao thấy được ánh sáng?
02-27 A Nan bạch rằng: Vậy nhất định tánh thấy vi diệu này, tự tánh của nó không phải là tự nhiên. Bây giờ con phát hiện ra, là do nhân duyên sanh ra. Nhưng tâm con vẫn chưa hiểu rõ, xin hỏi Như Lai, nghĩa lí này là thế nào, để phù hợp với tánh nhân duyên?
02-28 Đức Phật dạy rằng: Ông nói là nhân duyên. Vậy Như Lai lại hỏi Ông:
Nay ông do thấy, tánh thấy hiện tiền. Vậy thấy này là vì do ánh sáng mà có thấy, hay do bóng tối mà có thấy, do hư không mà có thấy, hay do tướng ngăn bít mà có thấy?
A Nan! Nếu do ánh sáng mà có, thì lẽ ra không thể thấy bóng tối; nếu do bóng tối mà có, thì lẽ ra không thể thấy ánh sáng. Cứ như vậy cho đến do tướng hư không, do tướng ngăn bít, cũng giống như do ánh sáng và bóng tối.
Lại nữa, A Nan! Tánh thấy này lại duyên ánh sáng mà có thấy, hay duyên bóng tối mà có thấy, duyên hư không mà có thấy, hay duyên tướng ngăn bít mà có thấy?
A Nan! Nếu duyên hư không mà có, thì lẽ ra không thấy được chỗ ngăn bít; nếu duyên tướng ngăn bít mà có, thì lẽ ra không thấy được hư không. Cứ như vậy, cho đến duyên nơi ánh sáng hay duyên vào bóng tối, cũng giống như duyên hư không hay ngăn bít.
Lìa Tất Cả Tướng Tức Tất Cả Pháp
Do đó nên biết rằng, tánh thấy biết tinh diệu này, chẳng phải nhân, chẳng phải duyên, cũng chẳng phải tự nhiên, chẳng phải không tự nhiên; chẳng không phải cũng không phải không phải, không đúng, chẳng phải đúng, lìa tất cả tướng, tức là tất cả pháp.
Nay tại sao ông ở trong đó mà khởi tâm nghiên cứu, dùng các danh tướng hí luận thế gian, để mà phân biệt. Như dùng tay mà nắm lấy hư không, thì chỉ tự làm nhọc mình thôi, hư không đâu có thể tùy Ông nắm bắt!
02-29 A Nan bạch đức Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn! Có lẽ Tánh giác vi diệu này, không phải là nhân, không phải là duyên. Vậy tại sao đức Thế Tôn thường dạy cho các vị Tỳ Kheo, giảng nói tánh thấy có đầy đủ bốn duyên. Đó là nhân nơi hư không, nhân nơi ánh sáng, nhân nơi tâm và nhân nơi con mắt, nghĩa này là như thế nào?
Đức Phật dạy: Này A Nan! Ta nói về các tướng nhân duyên trong thế gian, không phải là đệ nhất nghĩa. A Nan! Ta lại hỏi Ông. Mọi người trong thế gian, nói "tôi có thể thấy", thế nào gọi là "thấy"? Và thế nào gọi là "không thấy"?
2.30 A Nan bạch rằng: Người thế gian nhờ có ánh sáng của mặt trời, mặt trăng và đèn, mà nhìn thấy được mọi thứ, gọi đó là "thấy". Nếu không có ba thứ ánh sáng này, thì không thể thấy.
2.31 A Nan! Nếu khi không có ánh sáng, mà gọi là không thấy, thì lẽ ra không thấy được bóng tối. Nếu nhất định thấy được bóng tối, chỉ vì lúc đó không có ánh sáng, sao gọi là không thấy!
A Nan. Nếu khi ở chỗ tối, vì không thấy ánh sáng, gọi là không thấy, thì hiện giờ đang ở chỗ sáng, không thấy được bóng tối, cũng phải gọi là không thấy. Cả hai tướng này, đều gọi là không thấy!
Nếu hai tướng này tự lấn đoạt lẫn nhau, chẳng phải tánh thấy của Ông ở trong đó tạm thời không có.
Do đó biết rằng, cả hai đều gọi là "thấy", sao gọi là "không thấy"!
Vì vậy, A Nan! Bây giờ Ông nên biết rằng: Khi thấy ánh sáng, cái thấy không phải là ánh sáng; khi thấy bóng tối, cái thấy không phải là bóng tối; khi thấy hư không, cái thấy không phải là hư không; khi thấy ngăn bít, cái thấy không phải là ngăn bít. Bốn nghĩa đó phải được kiến lập.
Ông lại còn phải biết: Khi nhìn thấy cái thấy, thì cái thấy đó không phải là tánh thấy, tánh thấy xa lìa cái thấy; có cái thấy thì không thể đạt đến chỗ tự tánh, thì tại sao lại nói nhân duyên, tự nhiên, hay tướng hòa hợp.
Các Ông hàng Thanh văn tâm lượng hẹp hòi không biết, không thông đạt được thật tướng thanh tịnh. Nay Ta chỉ dạy cho các Ông, nên khéo tư duy, trên con đường Bồ Đề vi diệu không nên lười biếng giải đãi!
02-32 A Nan bạch đức Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn! Như Đức Thế Tôn đã vì chúng con, mà giảng nói về nhân duyên và tự nhiên; các tướng hòa hợp và không hòa hợp, nhưng tâm chúng con vẫn chưa tỏ ngộ. Và bây giờ lại được nghe cái nhìn thấy và cái được thấy không phải là tánh thấy, càng thêm mờ mịt! Cúi xin đức Thế Tôn thương xót, bố thí cho con mắt đại trí tuệ, chỉ bày cho chúng con cái tâm giác ngộ sáng suốt thanh tịnh này. Nói lời ấy xong, rưng lệ cung kính đảnh lễ, chờ tiếp nhậnThánh chỉ.
02-33 Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn, thương xót A Nan và toàn thể đại chúng. Muốn khai diễn pháp đại Đà La Ni (thần chú) và các Tam Ma Đề (tức chánh định). Con đường tu hành vi diệu. Bảo A Nan rằng: Ông tuy có trí nhớ mạnh mẽ, nhưng chỉ có ích cho phần nghe nhiều học rộng mà thôi; còn đối với pháp Xa Ma Tha (thiền định) quán chiếu chân lí sâu kín, thì tâm chưa tỏ rõ. Nay Ông hãy lắng nghe, Ta sẽ vì Ông mà phân tích chỉ bày. Cũng khiến cho hàng phàm phu hữu lậu trong tương lai, đạt được đạo quả bồ đề.
Hai Cái Thấy Hư Vọng Phân Biệt Điên Đảo
A Nan! Tất cả chúng sanh, luân hồi trong thế gian, đều do hai cái thấy hư vọng phân biệt điên đảo, ngay chỗ tạo nghiệp mà phát sinh, theo nghiệp lực mà xoay vần. Hai cái thấy đó là gì? Một là, cái thấy hư vọng do nghiệp riêng của chúng sanh; hai là, cái thấy hư vọng do nghiệp chung của chúng sanh.
Cái Thấy Hư Vọng Biệt Nghiệp
02-34 Thế nào gọi là "cái thấy sai lầm hư vọng do nghiệp riêng"? A Nan! Như người trong thế gian, mắt bị nhặm đỏ, ban đêm nhìn thấy ánh đèn, riêng thấy có bóng tròn, năm màu bao quanh. Ý Ông nghĩ sao? Cái bóng sáng tròn hiện ra nơi ngọn đèn đó, là màu sắc của ngọn đèn, hay màu sắc của cái thấy?
A Nan! Nếu đây là màu sắc của ngọn đèn, thì tại sao những người không bị nhặm mắt lại không cùng thấy, mà bóng tròn này, chỉ có người bị nhặm mắt mới thấy được? Nếu màu sắc này là của tánh thấy, thì cái thấy đã thành sắc rồi, vậy người bị nhặm mắt kia thấy cái bóng tròn, nên gọi là cái gì? Lại nữa, A Nan! Nếu cái bóng tròn này lìa khỏi đèn tự nó riêng có, thì lẽ ra, những vật kế bên khi nhìn tấm bình phong, bức màn, ghế ngồi, bàn trà..vv… đều có bóng tròn xuất hiện; Nếu lìa khỏi cái thấy tự nó riêng có, thì lẽ ra không thuộc về con mắt, tại sao người bị mắt nhặm thấy được bóng tròn?
Vì vậy nên biết rằng: màu sắc thật sự ở nơi ngọn đèn, do cái thấy bị bệnh tạo ra bóng tròn. Cái bóng và cái thấy đều bị bệnh, cái thấy được bệnh nhặm thì không phải bệnh.
Tóm lại không nên bảo rằng, là của ngọn đèn hay của cái thấy. Ở trong đó có cái không phải của ngọn đèn, hoặc không phải của cái thấy.
Ví như mặt trăng thứ hai, không phải là mặt trăng thật, cũng không phải là bóng của mặt trăng; vì sao vậy? Vì thấy có mặt trăng thứ hai là do dụi mắt mà ra vậy. Cho nên những người có trí tuệ, không nên nói rằng, mặt trăng do dụi mắt mà có, là hình tướng hay không phải hình tướng, là lìa khỏi cái thấy hay không phải cái thấy. Cái này ở đây cũng vậy, do con mắt bị nhặm mà có, nay muốn gọi nó là của ngọn đèn hay của cái thấy, hà huống còn phân biệt nó không phải của ngọn đèn hay không phải của cái thấy!
Cái Thấy Hư Vọng Cộng Nghiệp
02-35 Thế nào là "cái thấy hư vọng do nghiệp chung"? A Nan! Cõi Diêm phù đề này, ngoại trừ nước của biển cả ra, ở giữa phần đất liền, có ba ngàn châu, châu lớn ở chính giữa, bao gồm từ Đông sang Tây, có hai ngàn ba trăm nước lớn. Các châu nhỏ khác ở trong các biển, trong đó hoặc có châu thì hai trăm hay ba trăm nước, hoặc một hoặc hai, thậm chí đến ba mươi, bốn mươi hay năm mươi nước. A Nan! Nếu lại ở trong đó, có một châu nhỏ, chỉ có hai nước, mà chỉ riêng người ở trong một nước, đồng chiêu cảm duyên ác. Còn nước nhỏ kia, những chúng sanh trong nước đó, nhìn thấy tất cả các cảnh tượng không tốt, hoặc thấy có hai mặt trời, hoặc thấy có hai mặt trăng; cho đến những hiện tượng xấu khác, như hiện tượng nhật thực, sao chổi, sao băng; cầu vồng. Những tướng ác này, chỉ có chúng sanh trong nước đó thấy, còn chúng sanh ở nước bên kia, thì không thể thấy, cũng không thể nghe.
02-36 A Nan! Nay Ta vì ông, dùng hai sự việc này, mà biết rõ tiến, thoái, hợp, sáng. A Nan! Như chúng sanh kia, do nghiệp riêng mà có cái thấy hư vọng, nhìn trong ánh đèn mà thấy hiện bóng sáng tròn; tuy giống như cảnh thật ở trước mắt, nhưng rốt cuộc cái thấy đó, do bệnh mắt nhặm tạo thành. Mắt bị nhặm tức cái thấy mệt mỏi, không phải do màu sắc tạo ra. Do đó cái có thể thấy được bệnh nhặm, vốn không phải lỗi của tánh thấy.
Ví dụ như Ông hiện nay, dùng con mắt để nhìn núi sông, cõi nước, cho đến các chúng sanh, đều do cái thấy bị bệnh từ vô thỉ tạo thành. Tánh thấy và cái thấy các duyên, dường như cảnh tượng hiện ở trước mắt. Nguồn gốc của nó là tánh thấy biết rõ ràng sáng suốt vi diệu của chúng ta, mắt bệnh mà nhìn thấy vạn vật, cái thấy biết đó chính là bệnh, còn bổn tâm vốn sáng tỏ, tánh giác biết rõ các duyên chẳng phải bệnh, cái thấy và cái được thấy đều là bệnh, tánh nhận biết đó thì không hề có bệnh. Đây thật là cái thấy bị bệnh, sao lại đem nó gọi là tánh thấy, nghe, hay, biết?
Cho nên, nay Ông thấy Như Lai và chính Ông, cùng mười loại chúng sanh trong thế gian, đều là cái thấy bệnh, cái không phải là cái thấy bệnh, đó chính là tánh thấy chân thật tinh anh. Tánh thấy vốn không phải bệnh, cho nên không thể gọi là "thấy".
A Nan! Nếu chúng sanh kia cái thấy hư vọng do nghiệp chung, so sánh với cái thấy hư vọng do nghiệp riêng của một người, thì một người bị bệnh mắt nhặm, đồng như mọi người trong cả nước kia. Người kia thấy bóng tròn, do mắt nhặm vọng sanh ra. Những người cộng nghiệp này hiện ra các tướng không lành, công nghiệp cùng thấy, là do chướng ác tạo thành. Cả hai đều là cái thấy hư vọng từ vô thỉ sanh ra.
Ví như, ba ngàn châu trong cõi Diêm Phù Đề, cùng bốn biển lớn, thế giới Ta Bà, và các cõi nước hữu lậu trong mười phương và tất cả chúng sanh, đều cùng tánh giác sáng suốt, chân tâm vi diệu vô lậu, nhưng do cái thấy nghe giác biết hư vọng bệnh duyên, hòa hợp vọng sanh, hòa hợp vọng diệt. Nếu có thể lìa khỏi các tướng duyên hòa hợp và không hòa hợp, thì có thể diệt trừ các nhân sanh tử, Bồ Đề viên mãn, không sanh diệt, bổn tâm thanh tịnh, tánh giác thường trụ.
Chẳng Phải Hòa Hợp
02-37 A Nan! Tuy Ông phần trước đã ngộ được tự tánh sáng suốt vi diệu, tánh vốn chẳng phải nhân duyên, chẳng phải tánh tự nhiên. Nhưng vẫn còn chưa rõ nguồn gốc của tánh giác như vậy, vốn không phải do hòa hợp sanh, và không hòa hợp. A Nan! Bây giờ Ta lại dùng trần cảnh ở trước mắt mà hỏi Ông: Nay Ông còn lấy tất cả những tính nhân duyên, hòa hợp của vọng tưởng trong thế gian, để tự nghi hoặc rằng, chứng đắc tâm bồ đề cũng là do hòa hợp mà phát khởi.
Thì bây giờ tánh thấy thanh tịnh vi diệu tinh anh này của Ông, có cùng hòa hợp với ánh sáng không? Có cùng hòa hợp với bóng tối không? Có cùng hòa hợp với chỗ thông suốt không? Có cùng hòa với tướng ngăn bít không?
Nếu hòa hợp với ánh sáng, khi Ông thấy ánh sáng, ánh sáng đang ở trước mắt, nó hòa lẫn với tánh thấy ở chỗ nào? Tướng thấy có thể nhận rõ được, còn hình tướng xen tạp đó thì như thế nào?
Nếu không phải là tánh thấy, thì làm sao thấy được ánh sáng?
Nếu chính là tánh thấy, thì làm sao thấy được cái thấy? Tánh thấy nhất định viên mãn, thì ánh sáng hòa vào chỗ nào?
Nếu ánh sáng viên mãn, không hòa hợp với tánh thấy. Tánh thấy nhất định khác với tướng sáng. Khi xen tạp thì tánh và tên gọi của ánh sáng đều mất đi. Xen tạp thì mất tánh sáng, hòa với ánh sáng thì không đúng nghĩa lí. Đối với tướng tối, tướng thông suốt và các tướng ngăn bít, cũng đều như vậy.
Lại nữa, A Nan! Tánh thấy thanh tịnh vi diệu tinh anh của Ông hiện giờ, đang hợp với ánh sáng, hợp với bóng tối, hợp với chỗ thông suốt, hay hợp với tướng ngăn bít?
Nếu hợp với ánh sáng, thì lúc tối đến, tướng ánh sáng đã diệt mất, mà cái thấy này vốn không hợp với bóng tối, thì làm sao thấy được bóng tối?
Nếu lúc thấy tối, nhưng không hợp với bóng tối, mà hợp với ánh sáng, lẽ ra không thấy được ánh sáng; đã không thấy được ánh sáng, thì làm sao hợp với ánh sáng, thấy rõ ràng thì không phải là bóng tối.
Nghĩa lí này đối với tướng tối, tướng thông suốt và các tướng ngăn bít, cũng đều như vậy.
Chẳng Phải Không Hòa Hợp
02-38 A Nan bạch đức Phật rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Theo Con suy nghĩ: Tánh giác vi diệu vốn có này, với các duyên trần, và tâm niệm nhớ nghĩ, chẳng phải hòa hợp.
Đức Phật dạy rằng: Bây giờ Ông lại nói tánh giác chẳng phải hòa hợp, vậy Ta lại hỏi ông: Tánh thấy vi diệu tinh anh này chẳng phải hòa hợp, là không hòa với ánh sáng, không hòa với bóng tối, không hòa với chỗ thông suốt, hay không hòa với tướng ngăn bít?
Nếu không hòa với ánh sáng, thì giữa tánh thấy và ánh sáng, phải có ranh giới. Vậy Ông hãy xem cho kĩ, chỗ nào là ánh sáng? Chỗ nào là tánh thấy? Là ở nơi tánh thấy hay ở nơi ánh sáng, chỗ nào là ranh giới.
A Nan! Nếu ở trong chỗ ánh sáng, thì chắc chắn không có tánh thấy; tức hai tướng ấy không đến với nhau được, tự chúng không biết nhau, tướng ánh sáng ở chỗ nào, thì làm sao lập được ranh giới? Đối với bóng tối, chỗ thông suốt, nơi ngăn bít, cũng như vậy.
Lại nữa, tánh thấy vi diệu tinh anh, không hòa hợp, là không hợp với ánh sáng, không hợp với bóng tối, không hợp với tướng thông suốt, hay không hợp với tướng ngăn bít?
Nếu không hợp với ánh sáng, thì tánh thấy và tướng sáng, tánh tướng trái ngược nhau, giống như lỗ tai và ánh sáng, hoàn toàn không tiếp xúc với nhau; hơn nữa tánh thấy chẳng biết tướng ánh sáng ở đâu, làm sao xem xét rõ ràng đạo lí hợp hay không hợp? Đối với bóng tối và thông suốt, và các tướng ngăn bít, cũng đều như vậy.
Vốn Dĩ Là Như Lai Tạng
02-39 A Nan! Ông vẫn chưa biết rõ, tất cả phù trần, đều là các tướng huyễn hóa, ngay chỗ đó sanh ra, theo chỗ đó diệt mất. Huyễn vọng gọi là tướng, nhưng thể tánh của nó thật sự là thể tánh giác biết vi diệu sáng suốt. Như vậy cho đến năm ấm, sáu nhập, từ mười hai xứ, đến mười tám giới, nhân duyên hòa hợp, hư vọng có sanh, nhân duyên chia lìa, hư vọng gọi diệt mất. Lại không biết rằng sanh, diệt, đến, đi, vốn là Như Lai tạng, là tánh chân như thường trú, không dao động, sáng suốt vi diệu, tròn đầy cùng khắp. Ở trong tánh chân thường đó mà tìm các tướng đến, đi, mê, ngộ, sống, chết, hoàn toàn không thể có được.
Ngũ Ấm
02-40 Sắc ấm
A Nan! Vì sao nói rằng năm ấm, vốn là tánh Như Lai Tạng chân như vi diệu?
A Nan! Ví như có người, dùng con mắt trong sáng, nhìn bầu trời quang đãng, chỉ thấy hư không trong suốt, chẳng có gì khác. Người này vô cớ, nhìn chăm chú không nháy mắt, nhìn lâu mắt sanh ra mỏi mệt, liền ở trong hư không, thấy có đốm hoa lăng xăng, lại có tất cả hình tướng nhảy múa loạn xạ. Nên biết sắc ấm cũng giống như vậy.
A Nan! Những hoa đốm lăng xăng kia, chẳng phải từ hư không mà có, chẳng phải từ mắt mà ra.
Thật vậy, A Nan! Nếu từ hư không mà đến. Đã từ hư không đến, thì phải trả vào hư không; nếu có ra vào, thì chẳng phải là hư không.
Hư không nếu không phải hư không, thì tự nó không dung chứa những tướng hoa đốm sanh diệt ở trong ấy. Giống như thân thể của A Nan không thể dung chứa A Nan khác nữa.
Nếu từ mắt mà ra. Nếu đã từ mắt mà ra, thì phải trở vào lại trong con mắt. Tức tánh này của hoa vì đã từ mắt đi ra, lẽ ra phải có tánh thấy!
Nếu nó có tánh thấy, thì lúc ra làm hoa đốm giữa hư không, đến lúc trở vào phải thấy được con mắt.
Nếu không có tánh thấy, thì lúc đi ra chúng làm nhòe hư không, khi trở vào chúng làm lòa con mắt!
Lại nữa, khi thấy hoa đốm, lẽ ra con mắt không lòa, sao gọi là bầu trời quang đãng, con mắt trong sáng; Cho nên biết rằng, sắc ấm là hư vọng, vốn không phải nhân duyên, cũng không phải tánh tự nhiên.
02-41 Thọ ấm
A Nan! Ví như có người, tay chân an ổn, cơ thể điều hòa, bỗng như quên sự sống của mình, không thuận không nghịch. Người này vô cớ, đưa hai tay lên, ở trong hư không xoa vào nhau, trong hai tay này, vọng sanh các tướng trơn, rít, lạnh, nóng... Nên biết thọ ấm, cũng giống như vậy.
A Nan! Những cảm xúc hư huyễn kia, không phải từ hư không đến, cũng không phải từ bàn tay ra. Thật vậy, này A Nan!
Nếu từ hư không đến, liền có thể xúc chạm vào bàn tay, thì tại sao không xúc chạm thân thể. Không lẽ hư không, biết chọn lựa chỗ để xúc chạm?
Nếu từ bàn tay ra, thì lẽ ra không cần phải đợi hai bàn tay xoa vào nhau!
Lại nữa, nếu từ bàn tay ra, khi xoa vào nhau thì tay biết có cảm xúc, khi rời thì cảm xúc chạy vào, cổ tay, cánh tay, xương, tủy, đều phải biết tung tích. Chắc chắn phải có tâm hay biết, biết ra, biết vào. Tự có một vật đi lại trong thân. Tại sao đợi hai bàn tay xoa vào nhau mới biết, mới gọi là cảm xúc. Do đó biết rằng, thọ ấm là hư vọng, vốn không phải nhân duyên, cũng không phải tánh tự nhiên.
02-42 Tưởng ấm
A Nan! Ví như có người, nói đến quả mơ chua, thì trong miệng chảy nước miếng; nghĩ đến đứng trên vực núi chênh vênh, thì lòng bàn chân cảm thấy tê buốt. Nên biết tưởng ấm, cũng giống như vậy.
A Nan! Như vậy khi nói đến quả mơ, không từ quả mơ sanh ra, cũng không phải từ miệng vào. Thật vậy, A Nan! Nếu do quả mơ sanh ra, thì quả mơ phải tự nói, sao phải đợi người ta nói? Nếu từ miệng vào, miệng phải tự nghe, cần gì đến lỗ tai? Nếu chỉ riêng lỗ tai nghe, thì nước miếng này sao không từ lỗ tai mà chảy ra? Việc nghĩ đến đứng trên vực núi chênh vênh cũng như vậy. Do đó nên biết rằng, tưởng ấm là hư vọng, vốn không phải nhân duyên, cũng không phải tự nhiên.
02-43 Hành ấm
A Nan! Ví như thác nước chảy xiết, sóng tuôn cuồn cuộn tương tục, lớp trước lớp sau tiếp nối nhau, mà không vượt qua nhau. Nên biết hành ấm, cũng giống như vậy. A Nan! Hiện tượng chảy xiết đó, không nhân nơi hư không mà sanh ra, cũng không nhân nước mà có; không phải tánh nước, nhưng không ra ngoài hư không và nước.
Thật vậy, A Nan! Nếu do hư không mà sanh, thì khắp cả cõi hư không không cùng tận trong mười phương, đều trở thành dòng nước không cùng tận; thế gian tự nhiên đều bị nhấn chìm hết rồi!
Nếu do nước mà có, thì tánh chảy của thác nước này lẽ ra không phải là nước, có tướng sở hữu, bây giờ nên suy nghĩ.
Giả như chính là tánh nước, thì khi lặng trong, lẽ ra không phải là nước nữa!
Nếu lìa khỏi hư không và nước, ngoài hư không chẳng có, lìa khỏi nước không có nước chảy. Vì vậy nên biết, hành ấm là hư vọng, vốn không phải nhân duyên, cũng không phải tánh tự nhiên.
02-44 Thức ấm
A Nan! Ví như có người, lấy cái bình Tần Già, bịt kín hai lỗ của nó, rồi đựng đầy hư không, mang đi xa ngàn dặm, đem tặng cho nước khác. Nên biết rằng thức ấm cũng giống như vậy.
A Nan! Hư không đó, không phải từ phương kia đến, cũng không phải từ phương này vào. Thật vậy, A Nan! Nếu từ phương kia đến, thì chỗ cũ trong bình đó chứa hư không đã lấy đi, vậy ở chỗ cũ của bình, lẽ ra phải thiếu hư không. Nếu từ phương này vào, thì thì khi mở miệng bình trút ra, phải thấy hư không tuôn ra! Do đó nên biết rằng, thức ấm là hư vọng, vốn không phải nhân duyên, cũng không phải tánh tự nhiên.
Lục Nhập
03-01 Nhãn Nhập
Lại nữa, này A Nan! Vì sao nói rằng sáu nhập, vốn là tự tánh chân như Như Lai tạng?
A Nan! Như con mắt kia, nhìn chăm chú sinh ra mệt mỏi, Cả con mắt và tướng mệt mỏi, đều là tánh Bồ Đề nhìn chằm phát sanh tướng mệt mỏi. Nhân nơi sáng tối hai trần hư vọng, ở trong đó phát ra cái thấy, thâu nhận tướng trần này, gọi đó là tánh thấy. Tánh thấy này, lìa khỏi hai trần sáng tối kia, hoàn toàn không có tự thể.
Như vậy, A Nan! Nên biết rằng tánh thấy này, không phải từ sáng tối mà đến, không phải ở nơi con mắt mà ra, không do hư không phát sinh. Vì sao như vậy? Nếu từ ánh sáng đến, tối liền diệt theo, nên không thể thấy bóng tối.
Nếu từ bóng tối mà đến, sáng liền diệt theo, nên không thể thấy ánh sáng.
Nếu từ con mắt mà ra, thì chắc chắn không có sáng tối. Như vậy tánh thấy, vốn không có tự tánh.
Nếu do hư không sinh ra, nhìn ra trước thấy các cảnh tượng, quay trở về thì phải tự thấy con mắt. Vả lại, hư không tự nhìn thấy, đâu liên quan gì đến nhập của Ông. Do đó nên biết, nhãn nhập là hư vọng, vốn chẳng phải nhân duyên, cũng chẳng phải tánh tự nhiên.
03-02 Nhĩ Nhập
A Nan! Ví như có người, dùng hai ngón tay, bịt thật kín hai lỗ tai của họ. Vì lỗ tai mệt mỏi, trong đầu thành ra có tiếng ù. Đều là Bồ đề chăm chú lâu phát tướng mệt mỏi. Nhân nơi hai thứ vọng trần động tĩnh, ở trong đó phát ra cái nghe, thâu nhận tướng trần này, gọi đó là tánh nghe.
Tánh nghe này lìa khỏi hai trần động tĩnh kia, hoàn toàn không có tự thể. Như vậy, A Nan! Nên biết tánh nghe này, không phải từ nơi động tĩnh mà đến, không phải do nhĩ căn mà ra, không phải do hư không phát sinh. Vì sao như vậy?
Nếu từ tĩnh mà đến, khi động liền diệt theo, nên không thể nghe tiếng động.
Nếu từ động mà đến, khi tĩnh liền diệt theo, nên không thể biết tĩnh.
Nếu do nhĩ căn mà ra, thì nhất định không có động tĩnh, như vậy thì tánh nghe, vốn không có tự tánh.
Nếu do hư không phát sinh, đã có tánh nghe, tức không phải là hư không.
Vả lại, hư không tự nghe, thì liên quan gì đến nhập của ông. Bởi vậy nên biết, nhĩ nhập là hư vọng, vốn chẳng phải nhân duyên, chẳng phải tánh tự nhiên.
03-03 Tỉ Nhập
A Nan! Ví như có người, lỗ mũi hít thở gấp rút. Vì hít lâu nên thành ra mệt mỏi, thì ở trong mũi, nghe như có cảm giác lạnh. Nhân nơi xúc chạm mà phân biệt, thông, nghẹt, hư rỗng, hay cứng đặc, như vậy cho đến ngửi các mùi thơm hôi; cả lỗ mũi và tướng mệt mỏi đó, đều là Bồ đề ngửi lâu sanh tướng mệt mỏi. Nhân nơi hai thứ vọng trần thông nghẹt, ở trong đó phát ra, thâu nhận tướng trần này, gọi đó là tánh ngửi. Tánh ngửi này lìa khỏi hai trần thông nghẹt kia, thì hoàn toàn không có tự thể. Nên biết tánh ngửi này, không phải từ thông, nghẹt mà đến, không phải do tỷ căn mà ra, cũng không phải do hư không phát sinh. Vì sao như vậy? Nếu từ thông mà đến, lúc nghẹt tánh ngửi bị diệt mất, làm sao biết được nghẹt? Nếu nhân nghẹt mà có, thì khi thông sẽ không thể ngửi, làm sao biết được các mùi thơm, thối? Nếu từ lỗ mũi mà ra, chắc chắn không có thông nghẹt, như vậy tánh ngửi này, vốn không có tự tánh.
Nếu do hư không sanh ra, thì cái ngửi này phải quay lại ngửi lỗ mũi của Ông. Hư không tự có tánh ngửi, thì đâu có liên quan gì đến nhập của Ông. Do đó nên biết rằng, tỷ nhập là hư vọng, vốn chẳng phải nhân duyên, cũng chẳng phải tánh tự nhiên.
03-04 Thiệt Nhập
A Nan! Ví như có người dùng lưỡi liếm môi. Liếm lâu sanh ra mệt mỏi. Nếu người này bệnh, thì cảm thấy có vị đắng, nếu người không bệnh, thì cảm thấy có vị hơi ngọt. Do cảm xúc ngọt và đắng này, mà hiển rõ thiệt căn, lúc không cử động, thường có tánh nhạt. Cả lưỡi và tướng mệt mỏi, đều là Bồ đề liếm lâu sanh tướng mệt mỏi. Nhân nơi hai thứ vọng trần đắng ngọt và nhạt, ở trong đó phát ra tánh biết, thâu nhận tướng trần này, gọi đó là tánh biết vị. Tánh biết vị này, lìa hai thứ vọng trần đắng ngọt và nhạt kia, thì hoàn toàn không có tự thể.
Đúng vậy, A Nan! Nên biết nếm biết đắng nhạt như vậy, không phải từ vị ngọt đắng mà đến, không phải do vị nhạt mà có, không phải do thiệt căn mà ra, cũng không phải do hư không phát sinh. Vì sao như vậy? Nếu từ vị ngọt đắng mà đến, thì khi nhạt cái biết vị liền diệt theo, làm sao biết được vị nhạt?
Nếu từ vị nhạt mà ra, thì khi ngọt cái biết vị đã diệt theo, làm sao biết được hai tướng ngọt, đắng?
Nếu từ thiệt căn sanh ra, thì nhất định không có các vị trần ngọt nhạt, và đắng. Vậy thì cái biết vị căn này, vốn không có tự tánh.
Nếu do hư không phát sinh, thì hư không tự nếm vị, không phải miệng Ông nếm biết. Vả lại, hư không tự biết vị, có liên quan gì đến nhập của Ông. Do đó nên biết, thiệt nhập là hư vọng, vốn chẳng phải nhân duyên, cũng chẳng phải tánh tự nhiên.
03-05 Thân Thức (Nhập)
A Nan! Ví như có người, dùng bàn tay lạnh, chạm vào bàn tay nóng. Nếu thế lực bên lạnh nhiều hơn, thì bên nóng liền lạnh theo. Nếu bên nóng mạnh hơn, thì bên lạnh trở thành nóng. Do đây cảm giác xúc chạm khi hai bàn tay hợp lại, cũng hiển hiện lúc hai bàn tay rời ra. Nếu thế lực nào lớn thì thành, đều do nơi xúc giác mệt mỏi. Cả thân và tướng mệt mỏi, đều là tướng nhìn chằm phát sanh ra mệt mỏi từ thể tánh bồ đề. Nhân nơi hai thứ vọng trần hợp và ly, mà phát ra cảm giác ở bên trong, thu nạp các tướng trần này, gọi đó là tánh giác biết. Thể tri giác này, lìa khỏi hai tướng trần ly-hợp thuận-nghịch, thì hoàn toàn không có tự thể. Như vậy, A Nan! Nên biết cái cảm giác đó, không phải từ ly-hợp mà có, không phải do tướng thuận nghịch mà có, không phải do căn mà ra, cũng không phải do hư không phát sinh. Vì sao như vậy? Nếu lúc hợp mà có, thì đến khi lìa đã bị diệt, làm sao biết được lìa? Hai tướng thuận nghịch cũng lại như vậy. Nếu từ căn mà ra, thì chắc chắn không có bốn tướng ly-hợp, thuận-nghịch. Tức cái cảm giác nhận biết của thân, vốn không có tự tánh. Nếu nhất định do hư không phát sinh, thì hư không tự hay biết, liên quan gì đến “nhập” của Ông! Bởi vậy nên biết, thân nhập là hư vọng, vốn chẳng phải nhân duyên, cũng chẳng phải tánh tự nhiên.
03-06 Ý Nhập
A Nan! Ví như có người mỏi mệt thì ngủ, ngủ đủ rồi thì thức dậy. Nhìn trần cảnh thì nhớ, lúc mất trí nhớ gọi là quên. Các tướng điên đảo sanh trụ dị diệt này, thu nhận huân tập đưa vào bên trong, không vượt khỏi nhau, gọi là ý căn. Cả ý và tướng mệt mỏi, đều cùng là tướng nhìn chằm sanh ra mệt mỏi của tánh bồ đề. Nhân nơi hai thứ vọng trần sanh diệt, tập hợp lại cái biết ở bên trong, thu nạp nội trần; thấy nghe chảy ngược vào trong, chảy không đến đích, gọi là tánh giác biết. tánh giác biết này, lìa khỏi hai trần thức-ngủ, sanh-diệt kia, hoàn toàn không có tự thể. Như vậy A Nan! Nên biết căn của tri giác như vậy, chẳng phải từ thức-ngủ mà có, chẳng phải do sanh diệt mà có, cũng không phải nơi căn phát ra, cũng không phải do hư không sanh khởi. Vì sao như vậy? Vì nếu từ lúc thức mà có, thì lúc ngủ liền diệt theo, lấy ai làm ngủ. Nếu nhất định do sanh mà có, thì lúc diệt cũng đồng với không, lấy ai làm diệt. Nếu từ diệt mà có, thì lúc sanh diệt liền không có, ai biết cái sanh. Nếu từ căn mà có, thì hai tướng thứ và ngủ tùy thân khai hợp, lìa khỏi hai thể này, tánh giác biết này, đồng với đốm hoa trong hư không, rốt ráo không có thể tánh. Nếu từ hư không sanh ra, thì tự hư không biết, liên quan gì đến nhập của Ông. Do đó nên biết, ý nhập hư vọng. Chẳng phải nhân duyên, chẳng phải tánh tự nhiên.
03-07 Lại nữa A Nan! Thế nào gọi là mười hai xứ, vốn là tánh chân như vi diệu Như Lai Tạng?
Mười Hai Xứ
03-08 A Nan! Ông hãy nhìn rừng cây Kì Đà và các suối ao ở đó. Ý Ông nghĩ sao? Những tướng này là sắc sanh sanh ra mắt thấy, hay mắt sanh ra sắc tướng. A Nan! Lại nếu do nhãn căn, sanh ra sắc tướng. Thì khi nhìn thấy hư không chẳng phải sắc, lẽ ra tánh sắc phải diệt mất. Diệt mất thì hiển hiện tất cả đều là không. Sắc tướng đã không, thì ai rõ biết bản chất không. Không cũng như vậy, lại nếu sắc trần, sanh ra cái thấy của mắt, thấy không chẳng phải sắc, cái thấy liền diệt vong. Đã diệt vong thì đều không, lấy ai rõ biết sắc không. Do đó nên biết thấy và sắc không, đều không chỗ có. Tức sắc và cái thấy, cả hai đều là hư vọng, vốn chẳng phải nhân duyên, chẳng phải tánh tự nhiên.
03 -09 A Nan. Ông lại nghe trong vườn Kì Đà này, khi dọn cơm xong thì đánh trống, khi nhóm chúng thì đánh chuông, tiếng chuông tiếng trống, trước sau nối tiếp nhau. Ý Ông nghĩ sao? Những hiện tượng này là âm thanh chạy đến bên lỗ tai, hay lỗ tai chạy đến chỗ âm thanh? A Nan. Nếu âm thanh này, chạy đến bên lỗ tai, thì cũng giống như khi Như Lai đi khất thực trong thành Thất La Phiệt, tức ở trong rừng Kì Đà, không có Như Lai nữa. Âm thanh này tất yếu phải đến chỗ lỗ tai A Nan. Mục Liên Ca Diếp, đều không thể nghe. Huống hồ là một ngàn hai trăm năm mươi vị Sa Môn ở trong đó, một khi nghe tiếng chuông, đều cùng đến chỗ ăn cơm. Lại nếu lỗ tai của Ông, chạy đến chỗ âm thanh kia, giống như Ta trở về ở trong rừng Kì Đà, ở trong thành Thất La Phiệt, sẽ không có Ta nữa. Ông nghe tiếng trống, lỗ tai Ông đã chạy đến chỗ tiếng trống rồi, khi tiếng chuông gióng lên, lẽ ra không thể cùng lúc nghe được. Huống gì trong đó tiếng voi, tiếng ngựa, tiếng trâu, tiếng dê, và nhiều thứ tiếng khác. Nếu không đến đi, cũng lại không nghe. Do đó nên biết, nghe và âm thanh, đều không có xứ sở, vốn dĩ nghe và âm thanh, cả hai chỗ đều hư vọng, vốn chẳng phải nhân duyên, chẳng phải tánh tự nhiên.
A Nan! Ông lại ngửi mùi hương chiên đàn trong lư hương này. Loại hương ấy, chỉ cần đốt một cây, trong vòng 40 dặm của thành Thất La Phiệt đều cùng ngửi được mùi thơm. Ý thầy thế nào? Mùi hương đó phát sinh từ gỗ chiên đàn, từ mũi của thầy, hay từ hư không?
A Nan! Giả sử mùi hương đó phát sanh ra từ mũi của thầy, đã nói là mũi phát sinh, thì mùi hương phải từ mũi mà ra, nhưng mũi không phải là gỗ chiên đàn thì làm sao trong mũi có mùi hương chiên đàn? Nói rằng Thầy ngửi thấy mùi hương, thì mùi hương phải bay vào lỗ mũi, chứ nói mùi hương từ mũi phát ra là lời nói vô nghĩa!
Nếu mùi hương ấy phát sinh từ hư không, thì tánh của hư không là thường hằng, lẽ ra mùi hương cũng phải thường có, cần gì phải đốt miếng gỗ chiên đàn khô trong lư hương này?
Giả sử mùi hương phát sinh từ gỗ chiên đàn, thì chất thơm ấy nhân đốt mà thành khói, nếu mũi ngửi được, lẽ ra khói phải xông đến mũi. Tại sao khói ấy vừa bay lên không chưa được bao xa, mà cả mọi người trong vòng 40 dặm đều đã ngửi thấy được? Bởi vậy nên biết: mùi hương, mũi và cái ngửi đều không có xứ sở; có nghĩa là, cả tị xứ và hương xứ, hai xứ này đều là hư vọng, vốn không phải nhân duyên, cũng không phải tự nhiên.
03-10 A Nan! Ông thường mỗi ngày, cùng đại chúng ôm bình bát khất thực, trong quá trình này hoặc gặp được thí chủ cúng cho các món phô mai giòn, cháo, gọi là các món thượng vị. Ý ông nghĩ sao? Những vị này được sanh ra từ hư không, sanh ra từ lưỡi, hay sanh ra từ trong thức ăn?
A Nan! Nếu những thứ vị ấy, sanh ra từ lưỡi của ông, thì trong miệng ông, chỉ có một cái lưỡi, cái lưỡi lúc ấy đã thành vị phô mai rồi, nếu gặp cục đường đen, lẽ ra không thay đổi. Nếu không thay đổi, thì không gọi là biết vị.
Nếu thay đổi, thì lưỡi chẳng phải nhiều cái, làm sao một cái lưỡi mà biết được nhiều vị?
Nếu từ thức ăn sanh ra, thức ăn không có khả năng nhận biết, làm sao tự biết vị?
Vả lại, nếu thức ăn tự biết, tức giống như người khác ăn, có liên quan gì đến ông, mà gọi là biết vị.
Nếu từ không trung sanh ra, thì ông nếm hư không, xem là vị gì. Nếu nó nhất định là vị mặn, đã mặn thì lưỡi của ông, cũng mặn mặt của ông, thì tất cả mọi người trong thế giới này, giống như cá biển. Đã luôn luôn cảm nhận vị mặn, thì không còn biết vị nhạt nữa. Nếu không biết nhạt, cũng không biết mặn. Chắc chắn không biết gì, sao gọi là vị.
Bởi vậy nên biết: vị, lưỡi và nếm, đều không có xứ sở. Tức nếm và vị, cả hai đều là hư vọng. Vốn không phải nhân duyên, không phải tánh tự nhiên.
03-11 A Nan! Ông thường vào buổi sáng sớm dùng tay xoa đầu, ý ông thế nào? Việc xoa này là do ai biết (năng tri), ai là người có thể chạm, năng này là ở tay, hay là ở đầu? Nếu ở tay, thì đầu sẽ không biết, làm sao thành chạm? Nếu ở đầu, thì tay sẽ vô dụng, làm sao gọi là chạm? Nếu mỗi bên đều có, thì ông A Nan, nên có hai thân. Nếu đầu và tay cùng một (sở) chỗ chạm sinh ra, thì tay và đầu, phải là một thể. Nếu là một thể, thì chạm sẽ không thành. Nếu là hai thể, thì chạm ở chỗ nào? Ở (năng) chỗ có thể thì không phải là chỗ bị chạm (sở), ở chỗ bị chạm (sở) thì không phải là chỗ có thể chạm (năng). Không lẽ hư không cùng ông thành chạm. Vì vậy nên biết, giác xúc và thân, đều không có chỗ ở. Tức thân và xúc, cả hai đều hư vọng. Vốn không phải nhân duyên, không phải tánh tự nhiên.
Ý Và Pháp
03-12 A Nan! Ông thường trong ý nghĩ, duyên theo ba tính thiện, ác, vô ký, mà sinh ra các pháp tắc. Pháp này hoặc là từ tâm mà sinh ra, hoặc là lìa tâm, có chỗ ở riêng?
A Nan! Nếu là từ tâm, thì pháp không phải là trần. Không phải là chỗ duyên của tâm, làm sao thành chỗ ở? Nếu lìa khỏi tâm, có chỗ ở riêng, thì tự tính của pháp, là biết hay không biết? Biết thì gọi là tâm, khác với trần của ông, đồng với tâm lượng của người khác. Tức là tâm của ông, sao lại có hai với ông? Nếu không biết, thì trần này đã không phải là sắc, thanh, hương, vị, lìa hợp, lạnh, nóng, và tướng hư không, thì nên ở đâu? Nay trong sắc và không, đều không có biểu hiện, không ở nhân gian, lại ở ngoài hư không. Tâm không phải là chỗ duyên (sở duyên), (xứ) chỗ ở từ đâu mà lập?
Vì vậy nên biết, pháp và tâm, đều không có chỗ ở (xứ sở). Thì ý và pháp, cả hai đều hư vọng. Vốn không phải nhân duyên, không phải tánh tự nhiên.
Mười Tám Giới
03-13 Lại nữa A Nan. Vì sao gọi là 18 giới, bản tánh Như Lai tạng tánh diệu chân như?
03-14 A Nan! Như điều ông nói: Con mắt lấy sắc làm duyên, sanh ra nhãn thức. Thức này lại nhân nơi con mắt mà sanh ra, lấy con mắt làm ranh giới. Nhân nơi sắc trần mà sanh ra, lấy sắc trần làm ranh giới.
A Nan! Nếu do con mắt sanh ra, không có sắc trần và hư không, thì không thể phân biệt; dù Ông có Thức ấy, nhưng đâu có tác dụng gì! Cái Ông thấy lại chẳng phải xanh, vàng, đỏ, trắng, không thể chỉ ra được, thì căn cứ vào đâu mà lập ranh giới.
Nếu do sắc sanh ra, khi hư không không có sắc trần, Thức của Ông cũng diệt, làm sao Thức biết đó là tánh hư không.
Nếu khi sắc biến đổi, Ông cũng biết được sắc tướng của nó đã biến đổi; Thức của Ông không biến đổi, ranh giới do đâu mà thành lập.
Nếu thức biến đổi theo sắc trần, tướng ranh giới tự sẽ không tồn tại.
Không thay đổi tức thường tồn tại, đã từ sắc mà có, lẽ ra Thức không thể biết chỗ của hư không.
Nếu kiêm cả hai, do con mắt và sắc trần cùng sanh ra, thì hợp tức lìa ở giữa, lìa tức hai bên hợp, thể tánh tạp loạn, làm thế nào để thành ranh giới.
Bởi vậy nên biết, con mắt duyên với sắc trần sanh ra ranh giới nhãn Thức, cả ba chỗ đều không. Tức con mắt và sắc trần, và sắc giới ba thứ này, vốn chẳng phải nhân duyên, chẳng phải tánh tự nhiên.
03-15 A Nan! Lại như những gì Ông nói, nhĩ căn duyên với thanh trần sanh ra nhĩ thức. Thức này lại nhân nơi nhĩ căn mà sanh ra, lấy nhĩ căn làm ranh giới. Nhân nơi thanh trần mà sanh ra, lấy thanh trần làm ranh giới.
A Nan! Nếu do nhĩ căn sanh ra, hai tướng động tĩnh, lại không hiện tiền, căn không thể biết, đã không thể biết, biết còn không thành, Thức làm sao hình thành tướng mạo.
Nếu lỗ tai nghe, nhưng không có động tĩnh, cái nghe không thành. Làm sao đem lỗ tai, xen tạp sắc xúc trần, gọi đó là thức giới. Tức ranh giới của Nhĩ Thức, lại do đâu mà hình thành.
Nếu do âm thanh mà sanh ra, thức do âm thanh mà có, tức không liên quan đến tánh nghe; không nghe tức mất, tướng âm thanh không tồn tại. Thức từ âm thanh sanh ra, cho phép âm thanh do nghe mà có tướng âm thanh, thì tánh nghe nên nghe được thức, nếu không nghe tức chẳng có ranh giới. Nghe được tức đồng với âm thanh, Thức đã được nghe, thì cái nào nghe biết Thức. Nếu không người biết, cuối cùng như cây cỏ.
Không lẽ âm thanh và nhĩ căn xen lẫn thành ranh giới ở giữa. Ranh giới không có phương vị ở giữa, thì tướng trong ngoài, lại từ đâu sanh ra.
Bởi vậy nên biết: nhĩ căn duyên với thanh trần, sanh ra Nhĩ Thức Giới, cả ba chỗ đều không. Tức lỗ tai và âm thanh, cho Thanh giới cả ba, vốn chẳng phải nhân duyên, cũng chẳng phải tánh tự nhiên.
03-16 A Nan. Lại như lời Ông nói: Tị căn duyên với Hương trần sanh ra Tị thức. Thức này lai do Tị căn sanh ra, lấy Tị căn làm ranh giới. Hay do Hương trần sanh ra, lấy Hương trần làm ranh giới.
A Nan. Nếu do Tị căn sanh ra, tức trong tâm ông, lấy gì là Tị căn. Là lấy tướng của khúc thịt như đôi móng tay, hay lấy cái tánh biết ngửi dao động.
Nếu lấy hình khúc thịt, chất thịt thuộc về thân, thân biết tức là xúc, gọi là thân chứ chẳng phải Tị, gọi là xúc tức là trần. Tị còn không có tên gọi, làm sao thành lập ranh giới.
Nếu lấy tánh ngửi biết, lại theo ý ông, lấy gì để biết.
Nếu khúc thịt biết, tức cái biết của thịt, vốn là xúc không phải Tị.
Nếu lấy hư không làm tánh biết, thì hư không tự biết, thịt sẽ không biết. Như vậy lẽ ra hư không chính là Ông, nhưng thân ông chẳng biết. A Nan hiện tại, lẽ ra không có.
Nếu lấy hương làm tánh biết, tánh biết tự thuộc về hương, đâu liên quan gì đến Ông. Nếu mùi thơm hôi, nhất định từ mũi Ông sanh ra, thì hai thứ mùi thơm hôi kia, không phải phát sinh từ cây Y Lan và Chiên Đàn. Hai vật này không có, Ông tự ngửi mũi mình, là thơm hay là hôi, hôi tức không phải thơm, thơm thì chẳng phải hôi, nếu cả hai mùi thơm hôi đều có thể ngửi, thì một thân ông, nên có hai lỗ mũi. Hỏi đạo với Ta, có hai A Nan, ai là thân Ông. Nếu mũi là một, thơm hôi không hai, hôi tức là thơm, thơm lại thành hôi. Hai tánh không có, ranh giới từ đâu thành lập.
Nếu do Hương sanh ra, Thức này do Hương mà có, giống như cái thấy do con mắt sinh ra, thì không thể thấy con mắt. Vì do hương mà có, nên lẽ ra không biết được Hương; Biết được Hương tức chẳng phải do hương sanh ra. Nếu không biết thì không phải Thức.
Hương không có khả năng biết, thì ranh giới của Hương không thành. Thức không biết hương, do giới chẳng thành, từ Hương kiến lập, đã không ở giữa, trong ngoài không thành, các tánh ngửi kia, thảy đều hư vọng.
Bởi vậy nên biết, Tị căn duyên với hương trần, sanh ra thức giới, ba chỗ đều không. Tức cả ba thứ Tị và Hương, cho đến Hương giới, vốn chẳng phải nhân duyên, chẳng phải tánh tự nhiên.
03-17 A Nan! Lại như điều Ông đã nói: Lưỡi lấy vị làm duyên, sanh ra thiệt thức. Cái thức này do lưỡi mà sanh ra, lấy lưỡi làm ranh giới? Hay do vị sanh ra, lấy vị làm ranh giới? A Nan! Nếu do lưỡi sanh ra, thì ở trong thế gian, tất cả các loại vị như vị ngọt của mía, vị chua của ô-mai, vị đắng của hoàng-liên, vị mặn của muối, vị cay của tế-tân, gừng, quế vân vân, đều không có vị; Ông tự nếm lưỡi mình, là ngọt hay đắng? Nếu lưỡi là tánh đắng, thì cái gì đã nếm cái lưỡi? Lưỡi không tự nếm nó được, thì cái gì giác biết? Nếu tánh của lưỡi không phải đắng, vị không tự sanh, làm sao lập ranh giới. Nếu do vị sanh ra, thức tự là vị, đồng với thiệt căn, lẽ ra không thể tự nếm được, làm sao Thức biết có vị hay không có vị? Vả lại, tất cả các vị, không phải chỉ do một vật sinh ra. Vị đã do nhiều vật sinh ra, thì Thức cũng phải có nhiều thể. Nếu thể của Thức chỉ có một, thể ấy nhất định do vị sanh ra, thì mặn, nhạt, ngọt, cay, hòa hợp cùng sinh ra, các tướng biến đổi sai khác, cùng là một vị, thì phải không thể phân biệt. Đã không có phân biệt, thì không gọi là Thức; làm sao lại nói là thiệt giới, vị giới và thức giới? Chẳng lẽ hư không đã sinh ra tâm thức của Ông?
Nếu thiệt căn hòa hợp với vị trần, tức ở trong đó, vốn không có tự tánh, làm sao sanh giới. Bởi vậy nên biết: thiệt căn duyên với vị trần, sanh ra thiệt thức giới, ba chỗ đều không. Tức Lưỡi và vị, cho đến thiệt thức giới vốn không phải nhân duyên, cũng không phải tánh tự nhiên.
Thân, Xúc, Thân Thức Giới
03-18 A Nan! Lại như điều Ông đã nói: thân duyên với xúc, sanh ra thân thức. Thức này lại do thân sanh ra, lấy thân căn làm giới. Hay do xúc sanh ra, lấy xúc làm giới.
A Nan! Nếu do thân sanh ra, nhưng nhất định không có hai thứ cảm giác hợp và lìa làm duyên, thì thân làm thế nào nhận biết.
Nếu do xúc sanh ra, nhưng nhất quyết không có thân của Ông, thì có ai không có thân mà biết được cảm xúc hợp, lìa?
A Nan! Vật không biết xúc, thân biết có xúc. Biết thân tức là xúc, biết xúc tức là thân. Tức xúc chẳng phải thân, tức thân chẳng phải xúc.
Hai tướng thân và xúc, vốn không chỗ có. Hợp với thân tức lấy thân làm thể tánh, lìa khỏi thân tức đồng với tướng hư không. Trong ngoài không thành, ở giữa làm sao thành lập, giữa không thể lập, trong ngoài tánh không. Tức Thức của ông sanh, từ chỗ nào lập giới.
Bởi vậy nên biết: thân căn duyên với xúc trần, sanh ra thân thức giới, cả ba chỗ đều không. Tức cả ba thân giới, xúc giới và thân thức giới , vốn chẳng phải nhân duyên, cũng chẳng phải tánh tự nhiên.
Ý, Pháp, Ý Thức Giới
03-19 A Nan. Lại như lời ông nói: ý căn duyên với pháp trần, sinh ra ý thức. Thức này lại do ý căn mà sanh ra, lấy ý căn làm ranh giới, hay do pháp trần sanh ra, lấy pháp trần làm ranh giới.
A Nan. Nếu do ý sanh ra, ở trong ý của ông, chắc chắn phải có chỗ suy nghĩ, mới phát rõ ý ông. Nếu không có pháp trần, thí ý không có chỗ sanh. Lìa duyên không có hình tướng, thức làm sao khởi tác dụng? Vả lại tâm thức, và những sự suy nghĩ đo lường của ông, kiêm tánh rõ biết, là giống nhau hay khác nhau. Giống với ý tức là ý, làm sao nó tự sanh ra. Không đồng với ý, lẽ ra không có chỗ nhận biết, nếu không chỗ nhận biết, sao gọi là ý sanh. Nếu có chỗ nhận biết, sao gọi là thức ý. Duy chỉ giống và khác, hai tánh không thành, giới lập chỗ nào. Nếu do pháp trần sanh ra, các pháp trong thế gian, không lìa khỏi năm trần. Ông quán sát sắc pháp, cho đến các thanh pháp, hương pháp, vị pháp, cho đến xúc pháp, tướng trạng phân minh, dùng nó đối với năm căn, không thuộc ý thu nhiếp. Nếu thức của Ông nhất định y nơi pháp trần sanh ra, thì giờ đây Ông hãy quán sát thật kĩ, các pháp tướng trạng như thế nào?
Nếu lìa sắc không, động tĩnh, thông, bít, hợp, lìa, sanh, diệt, lìa khỏi các tướng này, rốt ráo không chỗ đắc. Sanh tức sắc không các pháp đó sanh. Diệt tức sắc không các pháp đó diệt. Chỗ nhân đã không, nhân sanh có thức, tạo thành hình tướng gì. Tướng trạng không có, giới sanh chỗ nào.
Bởi vậy nên biết: ý căn duyên với pháp trần sanh ra ý thức giới, cả ba chỗ đều không; Tức cả ba ý và pháp cho đến ý giới, vốn không phải nhân duyên, cũng không phải tánh tự nhiên.
03-20 A Nan bạch đức Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn. Như Lai thường nói về pháp "nhân duyên hòa hợp", tất cả thế gian đủ các thứ biến hóa, đều do bốn đại hòa hợp mà phát sanh ra. Tại sao Như Lai lại bác bỏ cả hai tánh nhân duyên và tự nhiên? Nay Con thật không biết, nghĩa lí ấy như thế nào, cúi xin đức Thế Tôn thương xót, khai thị cho chúng sanh, liễu nghĩa trung đạo, dứt các pháp hí luận.
03-21 Lúc bấy giờ đức Thế Tôn, bảo A Nan rằng: Ông trước đã nhàm lìa các pháp tiểu thừa của hàng Thanh văn, Duyên giác, phát tâm cần cầu vô thượng bồ đề. Do đó nay Ta, sẽ vì Ông khai thị "đệ nhất nghĩa đế”. Tại sao lại đem những hí luận của thế gian, nhân duyên vọng tưởng, để tự trói buộc mình. Ông tuy đa văn, nhưng như người chỉ giỏi nói tên các vị thuốc, khi có thuốc thật ngay trước mặt, lại không phân biệt được. Như lai gọi đó là người thật đáng thương xót! Bây giờ Ông hãy lắng nghe cho kĩ, Ta sẽ vì Ông, khai thị rõ ràng. Cũng khiến những người tu hành Đại Thừa trong đời tương lai, thông đạt thật tướng. A Nan lặng yên, tiếp nhận thánh chỉ của Phật.
Bảy Đại
03-22 A Nan. Như Ông đã nói, bốn đại hòa hợp, phát sinh ra mọi hiện tượng biến hóa trong thế gian. A Nan. Nếu tánh của bốn đại kia, thể không hòa hợp, thì không thể hòa lẫn với các đại khác; cũng giống như hư không, không hòa hợp được với các sắc tướng. Nếu là hòa hợp, thì đồng với biến hóa, từ đầu đến cuối hỗ trợ nhau mà thành, sanh diệt tương tục, sanh tử tử sanh, sanh sanh tử tử, như vòng lửa quay tròn, chưa hề ngưng nghỉ. A Nan, như nước đóng thành băng, băng trở lại thành nước.
Đất
Ông hãy quán sát tánh của Đất, thô là đất liền, nhỏ là hạt bụi vi trần, nhỏ nữa là lân hư trần, phân tích cực vi trần kia, tướng biên tế của sắc, chia làm bảy phần, lại chia lân hư, tức tánh thật không.
A Nan, nếu lân hư này, phân thành hư không, nên biết hư không, sanh ra sắc tướng.
Nay Ông hỏi rằng, vì do hòa hợp, sanh ra các tướng biến hóa trong thế gian, thì Ông hãy quan sát một hạt lân hư trần, phải dùng bao nhiêu hư không, hòa hợp lại mà có. Không lẽ lân hư, hợp lại thành lân hư. Lại nữa, lân hư trần đã có thể phân chia thành hư không, thì phải dùng bao nhiêu sắc tướng, để hợp thành hư không. Nếu khi sắc hợp, hợp sắc chẳng phải không. Nếu khi không hợp, hợp không chẳng phải sắc, sắc còn có thể phân chia, không làm sao hợp.
Ông vốn không biết trong Như Lai tạng, tánh của sắc là chân không, tánh của không là chân sắc, xưa nay vốn thanh tịnh, biến khắp pháp giới. Tùy theo tâm của chúng sanh, ứng sở tri lượng, theo nghiệp hiện hành. Thế gian không biết, lầm cho là nhân duyên, và tánh tự nhiên, đó đều là tâm Thức, phân biệt đo lường, nếu có nói ra, hoàn toàn không có nghĩa chân thật.
Hỏa Đại
03-23 A Nan. Tánh của HỎA (lửa) là vô ngã, nương vào các duyên. Ông xem ở trong thành những nhà chưa nấu cơm, khi muốn có lửa, tay cầm cái kính dương toại, đưa thẳng trước ánh nắng mặt trời mà lấy lửa.
A Nan. Cái gọi là hòa hợp, thì Ta và ông, cùng 1.250 Tỳ Kheo đây, bây giờ hợp thành một chúng. Chúng tuy chỉ có một, nhưng xét từ nguồn gốc, mỗi người mỗi thân, đều có nơi sinh, gia tộc tên tuổi riêng. Như Xá Lợi Phất, thuộc dòng Bà-la-môn, Ưu Lâu Tần Loa thuộc họ Ca-diếp-ba, cho đến A Nan thuộc họ Cồ-đàm.
A Nan. Nếu tánh lửa này, do hòa hợp mà có, thì khi người kia cầm cái kính đưa thẳng lên ánh nắng mặt trời để lấy lửa, lửa ấy là từ trong cái kính phát ra, hay từ nắm cỏ mà có, hay từ mặt trời mà đến?
A Nan. Nếu từ mặt trời đến, tự nó có thể đốt cháy nắm cỏ trong tay ông, thì bao nhiêu rừng cây mà ánh nắng mặt trời chiếu qua, lẽ ra đều phải bị đốt cháy.
Nếu từ trong kính phát ra, thì tự trong cái kính có thể phát ra đốt cháy nắm cỏ, vậy tại sao kính không bị tan chảy. Hơn nữa tay ông cầm cái kính, còn không thấy nóng, thì làm sao cái kính có thể bị chảy được.
Nếu do nơi nắm cỏ mà có, thì cần gì phải nhờ cái kính tiếp nhận ánh nắng mặt trời, sau đó mới sinh ra lửa. Ông lại quán sát cho kĩ, cái kính thì do tay cầm, mặt trời thì ở trên trời chiếu xuống, nắm cỏ từ đất sinh ra, vậy lửa đã từ phương nào đi đến đây. Mặt trời và cái kính ở cách nhau rất xa, không có hòa, không có hợp, không lẽ ánh lửa, không do đâu mà tự nhiên có.
Ông vốn không biết trong Như Lai tạng, tánh của lửa là chân không, tánh của không là thật hỏa, xưa nay vốn thanh tịnh, biến khắp pháp giới, tùy theo tâm của chúng sanh, ứng sở tri lượng. A Nan! Nên biết người trong thế gian, một chỗ cầm kính, chỗ kia có lửa, cầm khắp pháp giới, khắp thế gian bốc lửa. Lửa dậy khắp thế gian, đâu có nơi chỗ nào nhất định, tùy theo nghiệp mà triển hiện.
Nhưng thế gian không biết, lầm cho là nhân duyên, và tánh tự nhiên. Đều là tâm thức, phân biệt đo lường. Nếu có nói ra, hoàn toàn không có ý nghĩa chân thật.
Thủy Đại
03-24 A Nan. Tánh của THỦY (nước) không nhất định, tuôn chảy hay đứng lặng không thường hằng. Như trong thành Thất-la-phiệt, đạo sĩ Ca Tì La, Chước Ca La, và các nhà đại ảo thuật Bát Đầu Ma, Ha Tát Đa vv…, muốn luyện thái âm tinh để hòa vào các thứ thuốc ảo thuật, những nhà ảo thuật này, vào đêm trăng sáng như ban ngày, tay cầm viên ngọc đi khắp nơi, để lấy nước trong ánh sáng trăng. Vậy, nước này từ trong hạt ngọc mà ra, từ không không mà có, hay từ mặt trăng mà đến.
A Nan. Nếu từ mặt trăng đến, từ phương xa mà còn có thể làm cho hạt ngọc chảy nước ra, thì ánh trăng đi qua tất cả rừng cây, lẽ ra đều phải chảy nước ra. Chảy nước ra thì chỗ nào có ngọc đều có thể lưu xuất ra. Không chảy ra, thì nước trong chẳng phải từ ánh trăng mà tuôn xuống. Nếu từ viên ngọc ra, thì trong viên ngọc này, phải thường chảy ra nước, sao phải đợi đến nữa đêm rằm nhờ ánh trăng sáng như ban ngày. Nếu từ hư không sinh ra, tánh không vô biên, nước sẽ không bờ bến, vậy thì tất cả trời và người đều bị ngập chìm trong biển nước mênh mông. Tại sao lại còn có các loài khác nhau bơi dưới nước, đi trên đất liền, bay trong hư không?
Ông càng quán sát cho kĩ, mặt trăng treo trên bầu trời, hạt ngọc được cầm trong tay người, cái đĩa hứng nước từ hạt ngọc, vốn do người sắp đặt, vậy nước kia từ phương nào đến, chảy ra từ chỗ này. Mặt trăng và hạt ngọc ở cách nhau rất xa, không phải hòa, không phải hợp, không lẽ tinh nước kia không do đâu mà tự có.
Ông vốn không biết, trong Như Lai Tạng, tánh nước chân thật là không, tánh không chân thật là nước, xưa nay vốn thanh tịnh, biến khắp pháp giới. Tùy theo tâm của chúng sanh, ứng sở tri lượng. Một nơi cầm hạt ngọc, một nơi có nước. Cầm ngọc khắp pháp giới, khắp pháp giới sanh ra nước; nước sanh đầy khắp thế gian, đâu có nơi chốn nào nhất định, tuần hoàn theo nghiệp mà hiển hiện. Thế gian vô tri, lầm cho là nhân duyên, hoặc tánh tự nhiên. Đều là tâm thức, phân biệt đo lường. Nếu có nói năng gì, hoàn toàn không có nghĩa chân thật.
Phong Đại
03-25 A Nan. Tánh gió không có tự thể, động tĩnh bất thường. Ông thường chỉnh Y đi vào trong đại chúng, góc y Tăng Già Lê dao động chạm vào người kế bên, liền có làn gió nhẹ phất qua mặt người kia. Làn gió này phát ra từ góc y Ca Sa, hay phát ra từ hư không, hay sanh ra từ mặt người kia.
A Nan! Nếu gió ấy phát ra từ góc y Ca Sa, thì Ông mặc luôn cả gió, chiếc y lẽ ra phải bay tung ra, lìa khỏi thân Ông. Nay Ta rũ y xuống ở trong hội chúng thuyết pháp. Ông nhìn xem chiếc y của Ta, gió ở chỗ nào? Không lẽ ở trong chiếc y, có chỗ chứa gió.
Nếu từ hư không sanh ra, y của ông không lay động, sao không phất gió. Tánh của hư không là thường trụ, thì gió phải thường sanh ra. Nếu khi không có gió, thì hư không phải diệt mất. Gió diệt mất thì có thể thấy biết được, còn hư không diệt mất thì hình trạng như thế nào. Nếu đã có sanh có diệt, thì không gọi là hư không. Đã gọi là hư không, thì làm sao phát sanh ra gió. Nếu gió tự sanh ra từ mặt của người bị phất, gió từ mặt người kia sanh ra, thì lẽ ra phải phất vào Ông. Tự Ông chỉnh Y, tại sao phất ngược lại. Ông hãy quan sát cho kĩ, người chỉnh y là Ông, cái mặt thuộc của người kia, hư không thì yên tĩnh, không hề lay động, vậy gió từ phương nào mà chuyển động đến đây. Tánh của gió và tánh của hư không cách biệt, không phải hòa, không phải hợp; không lẽ tánh gió, không do đâu mà tự có. Ông vốn không biết trong Như Lai Tạng, tánh của gió chân thật là không, tánh của không chân thật là gió, xưa nay vốn thanh tịnh, biến khắp pháp giới, tùy theo tâm của chúng sanh, ứng sở tri lượng. A Nan, Như một mình Ông động nhẹ y phục, có gió nhẹ sanh ra. Biến khắp pháp giới phất, khắp cõi nước sanh, biến khắp thế gian, không có nơi chỗ nhất định, tuần hoàn theo nghiệp mà hiển hiện. Thế gian vô tri, mê lầm cho là nhân duyên, và tánh tự nhiên. Đều là tâm Thức, phân biệt đo lường. Nếu có nói năng gì, đều không có nghĩa chân thật.
Không Đại
03-26 A Nan. Tánh hư KHÔNG là vô hình, nhân sắc mà hiển hiện. Như thành Thất La Phiệt, ở cách xa sông, những người trong các dòng Sát Đế Lợi, và Bà La Môn, Tì Xá, Thủ Đà, kể cả họ Phả La Đọa, Chiên Đà La, khi cất nhà mới, họ phải đào giếng để lấy nước. Đào lên được một thước đất, thì trong đó có một thước hư không. Như vậy cho đến khi đào lên được một trượng đất, thì trong đó vẫn có một trượng hư không. Hư không sâu cạn, tùy theo đào lên bao nhiêu. Hư không này nhân nơi đất mà sanh ra, do đào mà có, hay không do đâu cả mà tự nó sanh ra.
A Nan. Nếu khoảng hư không này, không do đâu mà nó tự phát sinh, thì khi chưa đào đất, sao không trống rỗng, mà chỉ thấy toàn đất liền, đều không thông suốt.
Nếu do đất sinh ra, thì khi đào đất lên, phải thấy hư không đi vào. Nếu đất đã đào lên rồi, mà không thấy hư không đi vào, làm sao gọi là hư không nhân nơi đất mà sinh ra.
Nếu không ra không vào, thì lẽ ra hư không và đất vốn không khác nhau, không khác tức là giống nhau, thì khi đào đất ra, sao hư không không ra theo.
Nếu do đào mà có, thì phải đào ra hư không, chứ không phải đào ra đất.
Nếu đào tự ra đất, thì tại sao thấy hư không.
Ông nên quán xét cho thật kĩ càng, nhìn cho thật kĩ thẩm xét thật thấu, đào là do tay người, tùy theo phương hướng vận chuyển, đất theo đó mà di dời, như vậy thì hư không, từ đâu mà ra.
Đào và hư không, một cái thật một cái hư, không tác dụng lẫn nhau, không phải hòa, không phải hợp, không lẽ hư không, không do đâu mà tự có.
Nếu hư không này, tánh viên mãn biến khắp, vốn không dao động.
Phải biết rằng hiện tại đất, nước, lửa, gió, gọi chung là "năm đại". Tánh vốn chân thật viên dung, đều là Như Lai Tạng, vốn không sanh không diệt.
A Nan. Tâm Ông mê muội, không tỏ ngộ bốn đại vốn là Như Lai Tạng. Nên quán sát hư không, dù ra hay vào, chẳng phải ra chẳng phải vào. Ông hoàn toàn không biết trong Như Lai Tạng, Tánh giác chân không, tánh không chân giác, vốn dĩ thanh tịnh, biến khắp pháp giới. Tùy tâm chúng sanh, ứng sở tri lượng.
A Nan, cũng như hư không trong một cái giếng, hư không sanh trong một giếng. Mười phương hư không, cũng lại như vậy. Viên mãn mười phương, không có nơi chỗ nhất định, theo nghiệp hiển hiện. Thế gian vô tri, mê hoặc cho là nhân duyên và tánh tự nhiên, đều là tâm thức, phân biệt đo lường, nếu có nói năng, đều không thực nghĩa.
Kiến Đại
03-27 A Nan. Thấy biết vô tri, nhân sắc không mà có. Như Ông hiện đang ở rừng Kì-đà, bình minh thì sáng, hoàng hôn thì tối. Giả như đêm khuya, có trăng thì sáng, không trăng thì tối. Các tướng sáng tối, do thấy mà phân biệt. Cái thấy này cùng với tướng sáng tối, và cả hư không, là cùng một thể, hay chẳng phải một thể. Là giống nhau, hay không giống nhau. Hoặc là khác hay chẳng phải khác.
A Nan. Nếu cái thấy này cùng với sáng, tối và hư không vốn cùng một thể. Thì tướng sáng và tối này, cả hai thể đều mất.
Lúc tối thì không sáng, lúc sáng thì chẳng tối.
Nếu cùng tướng tối hợp nhất, thì lúc sáng cái thấy sẽ diệt mất.
Nếu nhất định một thể với sáng, thì lúc tối sẽ diệt mất. Đã diệt mất thì sao gọi là thấy sáng thấy tối.
Nếu sáng tối khác biệt, tánh thấy không sanh diệt, làm sao thành một thể.
Nếu tánh thấy tinh anh này, cùng với tướng sáng tối, không đồng một thể. Ông lìa khỏi sáng tối và hư không, phân tích tánh thấy vốn có, hình tướng thế nào.
Lìa khỏi sáng tối và lìa khỏi hư không, tánh thấy này vốn đồng như lông rùa sừng thỏ.
Sáng, tối và hư không, cả ba việc đều khác, tánh thấy do đâu mà kiến lập.
Tướng sáng tối trái ngược nhau, sao gọi là "đồng".
Lìa khỏi ba thứ này vốn không, sao gọi là khác.
Phân hư không phân tánh thấy, vốn không ranh giới, sao gọi là chẳng đồng.
Thấy tối thấy sáng, tánh chẳng đổi dời, sao gọi là chẳng phải khác.
Ông hãy thẩm xét thật kĩ, thật tỉ mĩ, tường tận: tướng sáng là từ mặt trời, tướng tối là do đêm không trăng, tướng thông suốt thuộc về hư không, tướng ngăn bít thuộc về đại địa, như vậy tánh thấy tinh anh này, do đâu mà sinh ra. Tánh thấy thì hay biết, hư không thì không biết gì, không phải hòa, không phải hợp, chẳng lẽ tánh thấy tinh anh này, không do đâu mà tự có.
Như thấy nghe biết, tánh viên mãn châu biến, vốn không dao động. Nên biết hư không vô biên không dao động, và bốn yếu tố dao động đất, nước, lửa, gió, gọi chung là "sáu đại". Tánh chân thật viên dung, đều là Như Lai Tạng, vốn không sanh diệt. A Nan! Tâm tánh của Ông trầm luân, không tỏ ngộ được những sự thấy nghe giác biết của ông, vốn là Như Lai Tạng. Ông nên quán sát những sự thấy nghe giác biết này, là sanh hay là diệt? Là đồng hay khác? Hay không phải sanh diệt? Hoặc là không phải đồng, không phải khác?
Ông chưa từng biết, trong Như Lai Tạng, tánh thấy giác biết rõ ràng, tánh giác rõ thấy, xưa nay vốn thanh tịnh, biến khắp pháp giới. Tùy theo tâm của chúng sanh, ứng sở tri lượng. Như một nhãn căn, tánh thấy biến khắp pháp giới. Nghe, ngửi, nếm, xúc, giác xúc giác tri, diệu đức rõ ràng, biến khắp pháp giới, viên mãn mười phương hư không, không có nơi chỗ nhất định, tuần hoàn theo nghiệp mà hiển hiện. Nhưng thế gian không biết, mê hoặc cho là nhân duyên, và tánh tự nhiên, đều là thức tâm, phân biệt đo lường. Dù có nói năng, đều không thật nghĩa.
Thức Đại
03-28 A Nan. Tánh Thức không có nguồn gốc, nhân nơi sáu thứ căn trần mà vọng sanh. Nay Ông hãy nhìn khắp Thánh chúng trong pháp hội này. Dùng mắt nhìn quanh. Mắt này nhìn khắp, nhưng chỉ như hình ảnh trong gương, không mảy may sai khác. Ở trong Thức này của Ông, thứ tự chỉ ra, đây là Văn Thù, đây là Phú Lâu Na, đây là Mục Kiền Liên, đây là Tu Bồ Đề, đây là Xá Lợi Phất. Thức này rõ biết, là từ cái thấy sanh ra, là từ tướng sanh ra, hay từ hư không sanh ra, là không có chỗ nhân mà đột nhiên sanh ra?
A Nan. Nếu tánh thức của Ông, do cái thấy sanh ra, như không có các tướng sáng, tối, và sắc, không, bốn thứ này nhất định không có, vốn không có tánh thấy của Ông, tánh thấy còn không có, thức do đâu mà phát sanh?
Nếu tánh thức của Ông, do các tướng sanh ra, không phải do thấy sanh, đã không thấy sáng, cũng không thấy tối; sáng tối đã không thấy, tức cũng không có sắc và không. Các tướng kia còn không có, thì thức do đâu mà sanh ra?
Nếu từ hư không sanh ra, không phải tướng không phải thấy, không phải thấy thì không phân biệt, tự không thể biết được, sáng, tối, sắc, không, không phải tướng diệt duyên, thấy nghe giác biết, không có chỗ an lập. Chẳng phải hai chỗ này (thấy, tướng), không tức đồng với không có, có thì chẳng phải đồng như vật. Cho dù phát khởi Thức của ông, lấy gì phân biệt.
Nếu không chỗ nhân, đột nhiên sanh ra, sao mặt trời không phân biệt nhận thức được mặt trăng.
Ông hãy suy xét thật kĩ càng, suy xét tường tận, thấy nương vào con mắt của ông, tướng thì trả về tiền cảnh, có tướng trạng thành có, không tướng thành không, Thức duyên như vậy, do đâu sanh ra. Thức động Thấy tĩnh, chẳng phải hòa chẳng phải hợp. Sư nghe giác biết, cũng lại như vậy, không lẽ Thức duyên, không do đâu mà tự sanh.
Nếu Tâm Thức này, vốn không do đâu, thì nên biết rằng, biết rõ Thấy Nghe Giác Biết, viên mãn tịch nhiên, tánh chẳng chỗ sanh. Bao gồm cả Hư Không Đất Nước Lửa Gió, gọi chung là Bảy Đại. Tánh chân thật viên dung, đều là Như Lai Tạng, vốn không sanh diệt.
A Nan. Tâm Ông còn nông cạn, không ngộ Thấy Nghe, phát biết rõ ràng, vốn Như Lai Tạng. Ông nên quán sát, Tâm Thức sáu xứ, là đồng hay khác? Là không hay có? Là chẳng phải đồng chẳng phải khác? Hay là chẳng phải không chẳng phải có? Ông vốn không biết, trong Như Lai Tạng, Tánh Thức rõ biết, giác rõ chân thật nhận biết (thức), diệu giác trạm nhiên, biến khắp pháp giới. Bao hàm khắp mười phương, không có nơi chỗ nhất định, theo nghiệp hiển hiện. Thế gian vô tri, mê hoặc cho là nhân duyên, và tánh tự nhiên, đều là tâm thức, phân biệt đo lường, dù có nói năng, đều không thật nghĩa.
03-29 Lúc bấy giờ, A Nan cùng tất cả đại chúng, được đức Như Lai, khai thị vi diệu, thân tâm thản nhiên, được vô quái ngại. Các đại chúng này, mỗi người tự biết, tâm biến khắp mười phương. Thấy mười phương hư không, như nhìn chiếc là cầm trong lòng bàn tay. Tất cả mọi vật trong thế gian, đều là Tâm Bồ Đề Diệu minh vốn có. Tâm tánh biến khắp viên mãn, bao hàm khắp mười phương. Trở lại nhìn thân do cha mẹ sanh, như mười phương kia, ở trong hư không, thổi một hạt vi trần, hoặc tồn hoặc vong. Như trong biển lớn, chảy một bong bóng, sanh diệt không chỗ nương. Tự nhiên biết rõ, được tâm bổn diệu, thường trụ không diệt. Chắp tay lễ Phật, được chưa từng có. Ở trước Như Lai, nói kệ tán Phật.
03-30 Diệu trạm Tổng trì bất động Tôn
Thủ Lăng Nghiêm Vương trên đời thật hiếm có,
Diệt vọng tưởng điên đảo ức kiếp của con
Chẳng trải qua tăng kì mà được pháp thân,
Nguyện con nay đắc quả trở thành Bảo vương,
Trở lại cứu độ chúng sanh như hằng sa,
Dùng thâm tâm này phụng sự khắp quần sanh,
Đó mới được gọi là báo đáp ân Phật
Cúi xin Thế Tôn vì con mà chứng minh,
Đời ác năm trược con xin thề vào trước,
Nếu có một chúng sanh vẫn chưa thành Phật,
Con không ở đó mà chứng nhập Niết Bàn,
Đức Phật Đại hùng, Đại lực, Đại từ bi,
Mong được xét trừ nghiệp phiền não vi tế,
Khiến con sớm chứng bậc Vô Thượng Giác,
Ngồi trong đạo tràng khắp mười phương thế giới
Tánh Thuấn-Nhã-Đa có thể bị diệt vong,
Nhưng tâm Thước-Ca-La không hề chuyển động
04-01 Lúc bấy giờ, Phú Lâu Na Di Đa La Ni Tử, ở trong đại chúng, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trạch vai áo bên phải, đầu gối chân phải quì xuống đất, chắp tay cung kính, mà bạch Phật rằng: Thế Tôn oai đức lớn. Khéo vì chúng sanh diễn nói Như Lai Đệ Nhất Nghĩa Đế. Thế Tôn thường dạy rằng, trong những người thuyết pháp, con là người đứng đầu. Nhưng hôm nay nghe pháp âm vi diệu của Như Lai, con như người điếc, bước xa ngoài trăm bước, lắng nghe tiếng muỗi vo ve, hình dáng còn không thấy được, huống gì là nghe được tiếng. Đức Phật tuy đã chỉ dạy rõ ràng, khiến cho con dứt trừ mê hoặc; nhưng hôm nay con vẫn chưa hiểu tường tận nghĩa lí cứu cánh không còn chỗ nghi hoặc. Như Lai còn dạy: đất, nước, lửa, gió, bổn tánh viên dung, biến khắp pháp giới, trong lặng thường trú. Thế Tôn! Nếu tánh của đất là biến khắp, làm sao dung được nước. Nếu tánh của nước là biến khắp, thì lửa không thể sanh. Vậy tại sao lại nói rõ ràng hai tánh của nước và lửa đều biến khắp hư không, không xâm lấn và tiêu diệt lẫn nhau. Thế Tôn! Tánh của đất là chướng ngại, tánh của Hư không là thông rỗng, làm sao cả hai đều biến khắp pháp giới. Hơn nữa nghĩa lí này con chưa hiểu thấu. Cúi xin đức Như Lai, phát lòng đại từ, khai mở đám mây mê muội cho con và cả đại chúng! Nói lời ấy xong, năm vóc gieo xuống đất, cung kính khát ngưỡng chờ nghe lời dạy từ bi vô thượng của Như Lai.
04-02 Lúc bấy giờ Thế Tôn bảo Phú Lâu Na, cùng các vị A-la-hán vô học tận sạch các lậu trong pháp hội rằng. Hôm nay Như Lai sẽ vì khắp toàn thể hội chúng, tuyên thuyết trong nghĩa lí thù thắng, tánh nghĩa chân thật thù thắng. Khiến các ông trong hội chúng này, hàng định tánh Thanh văn, và tất cả các vị A-la-hán chưa chứng đắc nhị không hồi tâm hướng lên Phật thừa tối thượng, đều được chỗ Nhất thừa tịch diệt, chân a lan nhã, chỗ tu hành chân thật. Ông nay lắng nghe, Như Lai sẽ vì ông mà nói. Phú Lâu Na cùng đại chúng, kính vâng pháp âm Phật dạy, yên lặng lắng nghe tiếp nhận.
04-03 Phật dạy: "Phú-lâu-na! Như lời ông hỏi: Vốn dĩ thanh tịnh bản nhiên, cớ sao bỗng nhiên sinh ra sơn hà đại địa? Ông há chẳng từng nghe Như Lai tuyên thuyết rằng: Tánh giác diệu minh, Bản giác minh diệu đó sao?"
Phú Lâu Na thưa: Vâng, thưa Thế Tôn! Con thường được nghe Phật tuyên thuyết nghĩa này.
Phật nói: Theo Ông là giác minh, hay là tánh minh? Gọi đó là giác, giác này không minh, gọi là minh giác.
Phú Lâu Na thưa. Nếu cái này không minh, gọi đó là giác, tức không chỗ minh.
Phật nói: Nếu không chỗ minh, tức vô minh giác. Có chỗ thì không phải giác, không có chỗ thì không phải minh. Vô minh lại chẳng phải bản tánh giác sáng suốt. Tánh giác nhất định phải sáng suốt, vọng làm minh giác. Giác chẳng phải chỗ minh. Do minh lập sở. Sở đã vọng lập, sanh ra khả năng vọng của ông. Trong không đồng không khác, bùng cháy lên sự khác biệt. Khác với cái khác đó, do khác nên lập ra cái đồng. Đồng khác tương minh, vì thế lại lập ra không đồng không khác. Như vậy mà xáo trộn, lẫn lộn sinh ra mệt mõi. Mệt mõi lâu ngày sinh ra bụi trần, tự mình trở nên hỗn tạp. Từ đó sinh ra phiền não trần lao. Do vậy mà khởi lên phiền não trần lao, sanh khởi làm thành thế giới, khi tĩnh lặng thì thành hư không. Hư không là đồng, thế giới là khác. Cái không đồng không khác đó, thật có pháp hữu vi.
Thế Giới Tương Tục/ Giác Minh Không Mê Muội
04-04 Giác sáng tỏ, hư không tối tăm, tương hỗ tạo nên sự dao động, do đó có bánh xe gió duy trì thế giới.
Do không mà sinh ra dao động, vững chắc sáng tỏ dựng nên trở ngại, những thứ vàng bảo kia, là minh giác dựng nên vững chắc, do đó có bánh xe vàng bảo trìcõi nước.
Vững chắc giác biết thành bảo, dao động sáng tỏ sinh ra gió, gió và vàng ma sát, do đó có ánh sáng lửa là tính chất biến hóa.
Bảo sáng sinh ra ẩm ướt, ánh sáng lửa bốc lên, do đó có bánh xe nước chứa đựng mười phương giới.
Lửa bốc lên nước hạ xuống, giao hòa phát sinh dựng nên vững chắc, ẩm ướt thành đại hải, khô khan thành châu đảo. Vì lý do này, trong đại hải kia ánh sáng lửa luôn sinh khởi, trong châu đảo kia sông ngòi luôn đổ vào.
Thế nước (thủy) yếu hơn lửa (hỏa), kết thành núi cao. Vì vậy đá núi, đánh vào thì thành ngọn lửa, nung chảy thì thành nước.
Thế của đất (thổ) yếu hơn nước (thủy), rút ra thành cỏ cây, vì vậy rừng rậm gặp lửa thiêu thì thành đất, vặn vẹo thì thành nước.
Giao hòa vọng tưởng sinh khởi, lần lượt trở thành hạt giống. Vì nhân duyên này, nên thế giới tương tục.
Chúng Sanh Tương Tục/ Giác Minh Là Lỗi Lầm
Lại nữa Phúc Lâu Na.
Minh (明觉) vọng chẳng do cái khác (他), lỗi ở giác minh (觉明). Sở đã vọng lập, lí lẽ của minh (sự biết rõ) cũng không vượt khỏi nó. Vì nhân duyên này, thính giác (nghe) không thể vượt ra ngoài âm thanh, thị giác (nhìn) không thể vượt ra ngoài sắc. Sắc, hương, vị, xúc, sáu trần vọng tạo thành sáu thức. Từ đó phân biệt ra thấy, giác, nghe, biết. Các nghiệp tương đồng (cộng nghiệp) quấn quýt nhau, hợp lại rồi tách ra, biến hóa. Thấy sắc mà sinh ra phân biệt, phân biệt lại sinh ra tư tưởng. Khác biệt sinh ra sân hận, giống như suy nghĩ sinh ra ái chấp. Ái chấp trở thành hạt giống, thu nạp tư tưởng trở thành bào thai. Giao hợp mà sinh ra, hấp dẫn những nghiệp tương đồng. Do đó, vì nhân duyên mà sinh ra các loài chúng sanh. Trứng sinh, thai sinh, ẩm sinh, hóa sinh, tùy theo nhân duyên mà sinh ra. Trứng chỉ sinh ra do tư tưởng. Thai sinh do có tình. Ẩm sinh do hợp lại mà cảm ứng. Hóa sinh do tách rời mà ứng hợp. Tình và tưởng hợp lại rồi tách rời, luôn luôn biến đổi. Tất cả các nghiệp báo, đều theo nghiệp lực của mình mà thăng trầm. Vì nhân duyên này, chúng sinh tiếp nối không ngừng.
Nghiệp Quả Tương Tục
04-06 Phúc Lâu Na! Tưởng và ái chấp kết hợp với nhau, ái chấp không thể tách rời, thì trong các thế giới, cha mẹ, con cái, sinh sôi không ngừng, đó đều lấy dục tham làm gốc.
Tham ái cùng nhau nuôi dưỡng, tham không thể dừng lại, thì trong các thế giới, trứng sinh, thai sinh, ẩm sinh, hóa sinh, tùy theo sức mạnh yếu, ăn thịt lẫn nhau, đó đều lấy sát tham làm gốc.
Ví như người ăn thịt cừu, cừu chết làm người, người chết làm cừu, cứ như vậy cho đến mười loại sinh vật, chết rồi lại sống, sống rồi lại chết, ăn nuốt lẫn nhau, nghiệp ác đồng sinh, đến vô tận tương lai, đó đều lấy trộm tham làm gốc.
Ngươi nợ ta một mạng, ta trả lại nợ ngươi, vì nhân duyên này, trải qua hàng trăm ngàn kiếp, luôn luôn ở trong sinh tử. Ngươi yêu thích sắc đẹp của ta, ta thương xót sắc đẹp của ngươi, vì nhân duyên này, trải qua hàng trăm ngàn kiếp, luôn luôn bị trói buộc. Chỉ có sát, đạo, dâm ba nghiệp này làm gốc. Vì nhân duyên này, nghiệp quả nối tiếp nhau.
04-07 Phúc Lâu Na! Ba loại điên đảo này nối tiếp nhau, đều là do minh giác (明觉) – tức là tánh nhận thức rõ ràng – vì hiểu biết mà phát sinh tướng, từ vọng kiến mà sinh ra. Sơn hà đại địa, các pháp hữu vi lần lượt chuyển hóa. Vì vậy, sự hư vọng này kết thúc rồi lại bắt đầu.
04-08 Phú Lâu Na nói: Nếu chân tâm diệu tánh này, so với tâm của Như Lai không tăng không giảm, vậy thì làm sao các pháp hữu vi như sông núi, đại địa lại có thể vô cớ sinh ra? Bây giờ Như Lai đã chứng đắc tâm vi diệu không linh rõ ràng rồi, vậy thì các pháp hữu vi như sông núi, đại địa, cùng với các tập khí, lậu hoặc, làm sao có thể lại sinh khởi?
Phật dạy Phú Lâu Na: Ví dụ giống như người lạc đường, ở trong một ngôi làng, lầm tưởng phía Nam là phía Bắc. Vậy sự lạc đường này có phải là do lạc đường mà sinh ra, do giác ngộ mà chấm dứt không?
Phú Lâu Na nói: Người lạc đường này, cũng không phải do lạc đường mà sinh ra, cũng không phải do giác ngộ mà chấm dứt. Vì sao vậy? Vì lạc đường vốn không có gốc rễ, làm sao có thể nói là do lạc đường mà sinh ra được? Giác ngộ không phải là nguyên nhân sinh ra lạc đường, làm sao có thể nói là do giác ngộ mà chấm dứt được?
Phật nói: Người lạc đường đó, khi đang lạc đường, bỗng nhiên có người giác ngộ chỉ đường cho họ. Phú Lâu Na, theo ý ông thấy thế nào? Người này dù đã lạc đường ở ngôi làng này, có thể lại sinh ra lạc đường lần nữa không?
Phú Lâu Na: Không phải thế, thưa Thế Tôn.
Mười phương Như Lai cũng lại như vậy. Sự lạc đường này vốn không có gốc rễ, tính chất của nó vốn là không. Xưa kia vốn không có lạc đường, chỉ là có cảm giác như đang lạc đường. Khi giác ngộ thì lạc đường tiêu mất, giác ngộ không sinh ra lạc đường. Cũng giống như người bị bệnh mắt thấy hoa trong không trung, khi bệnh mắt khỏi rồi, hoa trong không trung cũng biến mất. Bỗng nhiên có người ngu si, ở chỗ không trung nơi hoa đã biến mất, lại mong đợi hoa sẽ mọc lên lần nữa. Ông thấy người này là ngu hay là khôn?
Phú Lâu Na nói: Không trung vốn không có hoa, là do vọng tưởng mà sinh ra. Thấy hoa tan biến trong không trung, do sự sai lầm này, lại ra lệnh cho hoa mọc lên lần nữa, thật là điên rồ. Làm sao có thể gọi người điên rồ như vậy là ngu hay là khôn?
Phật nói: Như lời ông nói, vậy ông hỏi làm sao có thể có chuyện tự tánh không linh chân như vi diệu rõ ràng của Như Lai, lại sinh ra sông núi, đại địa? Cũng giống như vàng lẫn tạp chất, khi vàng trở nên tinh khiết, sẽ không còn tạp chất nữa. Cũng như gỗ khi cháy thành tro, sẽ không còn là gỗ nữa. Bồ Đề Niết Bàn của Chư Phật Như Lai, cũng lại như vậy.
04-09 Phú Lâu Na: Lại như lời ông hỏi: Đất, nước, lửa, gió, bản tính vốn tròn đầy, bao trùm khắp pháp giới. Sao lại nghi ngờ rằng tính chất của nước và lửa không tương khắc? Lại lấy ví dụ về không gian và các đại địa, đều bao trùm khắp pháp giới, sao lại không thể dung hợp? Phú Lâu Na. Ví như hư không, bản chất không phải là một hình tướng, nhưng lại không ngăn cản các hình tướng phát triển. Vì sao vậy? Phú Lâu Na, không gian bao la kia, khi mặt trời chiếu vào thì sáng, khi mây tụ lại thì tối, khi gió thổi thì động, khi trời quang mây tạnh thì trong, khi khí đọng lại thì đục, khi đất tích tụ thành bụi, khi nước trong thì phản chiếu. Theo ý ông thấy thế nào? Các pháp hữu vi khác nhau ở các phương khác nhau, là do không gian sinh ra, hay là không gian và các pháp hữu vi đồng tồn tại? Nếu nói là do không gian sinh ra, Phú Lâu Na, vậy khi mặt trời chiếu sáng, toàn bộ mười phương thế giới đều sáng rực ánh mặt trời, vậy tại sao trong không gian vẫn còn thấy mặt trời tròn? Nếu nói là do không gian sáng, thì không gian tự nó phải sáng, vậy tại sao vào ban đêm khi có mây mù, không gian lại không phát sáng? Nên biết rằng sự sáng này, không phải là của mặt trời, cũng không phải của không gian, mà không khác gì mặt trời và không gian. Quan sát các hình tướng vốn là hư vọng, không thể chỉ ra được. Cũng giống như người ta mong đợi hoa trong không trung, rồi lại kết luận rằng có quả không. Làm sao có thể đi hỏi về ý nghĩa của sự tương khắc? Quan sát bản chất vốn là chân thật, chỉ là giác ngộ sáng suốt. Tâm diệu giác sáng suốt vốn không phải là nước lửa. Làm sao lại hỏi về việc chúng không thể dung hợp? Chân tâm diệu tánh sáng suốt cũng lại như vậy.
04-10 Nếu lấy không mà phát sinh, thì sẽ có không xuất hiện. Đất, nước, lửa, gió, mỗi thứ đều phát sinh, thì mỗi thứ đều hiện hữu. Nếu chúng đều phát sinh, thì sẽ có chung một sự hiện hữu. Vậy làm sao có thể có sự hiện hữu chung? Phú Lâu Na: Giống như một vũng nước có hình ảnh mặt trời chiếu vào. Hai người cùng nhìn hình ảnh mặt trời trong nước, đi về hai hướng Đông Tây, thì mỗi người đều thấy mặt trời theo mình đi. Một người ở Đông, một người ở Tây, trước đó không có một vị trí cố định. Không nên khó hiểu mà nói rằng, mặt trời này là một, vậy sao lại đi theo hai hướng khác nhau? Mặt trời lại có hai cái, vậy sao lại chỉ thấy một cái? Điều này thật là hư ảo, không có căn cứ.
Phú Lâu Na: Ông lấy sắc và không đối lập và tranh giành nhau trong Như Lai tạng. Nhưng Như Lai tạng theo đó mà trở thành sắc và không. Nó bao trùm khắp pháp giới. Vì vậy, ở trong đó, gió thổi thì không trong, mặt trời chiếu thì sáng, mây tụ lại thì tối, chúng sinh mê mờ, quay lưng lại với tánh giác mà hợp nhất với bụi trần, do đó phát sinh phiền não trần lao, nên có các tướng của thế gian.
Ta dùng diệu tánh sáng tỏ không sanh không diệt hợp nhất với Như Lai tạng. Mà Như Lai tạng chỉ có ánh sáng giác biết diệu kỳ, chiếu sáng viên mãn khắp pháp giới. Vì vậy, ở trong đó, một làm vô lượng, vô lượng làm một. Trong nhỏ chứa lớn, trong lớn chứa nhỏ. Đạo tràng bất động, biến khắp mười phương giới. Pháp Thân chứa đựng mười phương hư không vô tận. Nơi đầu một sợi lông hiện ra cõi Phật trang nghiêm. Ngồi trong một hạt bụi mà quay chuyển bánh xe Pháp lớn. Diệt trừ bụi trần, hợp nhất với tánh giác, do đó phát tánh chân như, ánh sáng giác ngộ diệu kỳ.
Và Như Lai tạng vốn là chân tâm viên mãn vi diệu. Nó không phải tâm, không phải không. Không phải đất, không phải nước. Không phải gió, không phải lửa. Không phải mắt, không phải tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Không phải sắc, không phải thanh, hương, vị, xúc, pháp. Không phải nhãn thức giới, như vậy cho đến không phải ý thức giới. Không phải sáng (minh), không phải tối (vô minh), minh và vô minh đều diệt tận. Như vậy cho đến không phải già, không phải chết, không phải hết già hết chết. Không phải khổ, không phải tập, không phải diệt, không phải đạo. Không phải trí, không phải được (đắc). Không phải bố thí, không phải giới luật, không phải tinh tấn, không phải định, không phải tuệ, không phải ba-la-mật-đa. Như vậy cho đến không phải tất cả mọi thứ của Phật. Không phải Đại Niết bàn. Không phải thường, không phải lạc, không phải ngã, không phải tịnh. Vì cùng không thuộc về thế gian và xuất thế gian. Chính là Như Lai tạng chân tâm vốn có sáng suốt vi diệu. Cũng chính là tâm, cũng chính là không. Cũng chính là đất, cũng chính là nước. Cũng chính là gió, cũng chính là lửa. Cũng chính là mắt, cũng chính là tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Cũng chính là sắc, cũng chính là thanh, hương, vị, xúc, pháp. Cũng chính là nhãn thức giới, như vậy cho đến cũng chính là ý thức giới. Cũng chính là sáng (minh), cũng chính là tối (vô minh), cũng chính là hết sáng hết tối. Như vậy cho đến cũng chính là già, cũng chính là chết, cũng chính là hết già hết chết. Cũng chính là khổ, cũng chính là tập, cũng chính là diệt, cũng chính là đạo. Cũng chính là trí, cũng chính là được (đắc). Cũng chính là bố thí, cũng chính là giới luật, cũng chính là tinh tấn, cũng chính là định, cũng chính là tuệ, cũng chính là ba-la-mật-đa. Như vậy cho đến cũng chính là tất cả mọi thứ của Phật. Cũng chính là Đại Niết bàn. Cũng chính là thường, cũng chính là lạc, cũng chính là ngã, cũng chính là tịnh. Vì cùng thuộc về thế gian và xuất thế gian.
Như Lai tạng, tức là tâm vốn có sáng suốt diệu kỳ, lìa tức lìa không, nhưng cũng chính là tức, cũng chẳng phải tức (chính là). Thế gian chúng sinh trong ba cõi, kể cả thánh nhân Thanh Văn và Duyên giác, đều dùng tâm hiểu biết hữu hạn của mình để đo lường Bồ đề tối thượng của Như Lai, dùng ngôn ngữ thế gian để vào tri kiến của Phật. Điều này giống như đàn tỳ bà, dù có âm thanh tuyệt vời, nhưng nếu không có ngón tay tài hoa thì không thể phát ra được. Ông và các chúng sinh cũng lại như vậy. Chân Tâm quý báu của mỗi người đều viên mãn. Giống như ta ấn ngón tay vào hải ấn, ánh sáng liền phát ra. Còn ông, chỉ cần tạm động một niệm, phiền não liền sinh khởi. Do không tinh tấn tìm cầu con đường giác ngộ tối thượng, mà lại chấp trước vào Tiểu thừa, đạt được chút ít ỏi cho rằng là đủ.
04-11 Phú Lâu Na hỏi: “Con với Đức Phật, đều có trí tuệ giác ngộ sáng suốt, chân tâm thanh tịnh viên mãn vi diệu, không khác biệt gì nhau. Nhưng trước đây, con đã bị vọng tưởng vô minh che phủ, luân hồi sinh tử rất lâu. Bây giờ con đã được nghe pháp của Phật, nhưng chưa đạt đến giác ngộ hoàn toàn. Kính thưa Đức Phật, tất cả các vọng tưởng đều có thể diệt trừ, chỉ có chân tâm vi diệu viên mãn là thường hằng. Con xin hỏi Đức Phật, tại sao tất cả chúng sinh lại có vọng tưởng, tự mình che lấp đi trí tuệ sáng suốt, và phải chịu khổ đau chìm đắm trong vòng luân hồi?”
04-12 Phật dạy Phú Lâu Na: “Dù ông đã giải trừ một số nghi ngờ, nhưng vẫn còn những nghi hoặc khác chưa được diệt sạch. Ta sẽ dùng những việc đang xảy ra trong thế gian để hỏi ông.
Ông có nghe nói về người tên là Diễn Nhã Đạt Đa ở thành Thất La không? Một hôm vào buổi sáng, khi soi gương, y rất thích cái đầu của mình trong gương, mắt mi đều có thể nhìn thấy, nhưng lại tức giận vì sao gương không phản chiếu được đầu của mình. Y cho rằng mình là ma quỷ, rồi điên cuồng chạy loạn. Ý ông thấy sao? Tại sao người này lại vô cớ chạy điên cuồng như vậy? Phú Lâu Na đáp: “Là do tâm của người đó điên loạn, không có nguyên nhân nào khác.” Phật nói: “Trí tuệ giác ngộ vốn viên mãn, sáng suốt vi diệu. Nếu gọi đó là vọng thì làm sao có nguyên nhân? Nếu có nguyên nhân, thì làm sao gọi là vọng? Các vọng tưởng sinh ra từ chính các vọng tưởng, từ mê lầm này đến mê lầm khác, trải qua vô số kiếp. Dù Phật đã khai thị, nhưng vẫn khó quay trở lại. Nguyên nhân của sự mê lầm này, chính là do mê lầm sinh ra. Khi biết tâm mê lầm không nguyên nhân, thì vọng tưởng không có chỗ nương tựa. Nếu không có sự khởi sinh, thì làm sao có sự diệt trừ? Người đạt được Bồ Đề, cũng giống như người tỉnh giấc kể về giấc mơ. Dù tâm có sáng suốt đến đâu, thì làm sao có thể lấy được vật gì trong giấc mơ? Huống hồ, vọng tưởng vốn không có nguyên nhân, không có thực thể. Cũng giống như người tên Diễn Nhã Đạt Đa ở thành kia, làm sao có nhân duyên nào khiến y sợ hãi và chạy loạn như vậy? Khi bổng nhiên cơn điên chấm dứt, đầu của y vẫn ở đó, không mất đi. Dù cơn điên chưa chấm dứt, thì cũng không có gì bị mất cả.”
04-13 Phật dạy Phú Lâu Na: “Tâm vọng tưởng vốn là như vậy, vậy thì tại sao nó lại tồn tại? Nếu ông không chạy theo phân biệt thế gian, nghiệp quả và chúng sanh ba thứ tương tục này. Khi ba duyên này bị cắt đứt, thì ba thứ Nhân không sinh khởi. Lúc đó, trong tâm ông, tánh điên cuồng của Diễn Nhã Đạt Đa tự nhiên sẽ chấm dứt, và khi chấm dứt chính là Bồ đề. Tâm sáng suốt thanh tịnh vốn bao trùm khắp pháp giới, không phải do người khác ban cho. Vậy tại sao phải khổ công tu tập? Cũng giống như một người có một viên ngọc như ý cất giấu trong áo, nhưng lại không biết. Người đó đi khắp nơi để xin ăn, dù rất nghèo khổ nhưng viên ngọc vẫn chưa từng mất đi. Đến một ngày, bỗng có người trí chỉ cho người đó viên ngọc, sở nguyện tùy tâm, người đó liền trở nên giàu có. Lúc đó, người ấy mới hiểu ra rằng viên ngọc quý không phải từ bên ngoài mà có.”
04-14 Lúc ấy, A Nan đứng dậy giữa đại chúng, cung kính đảnh lễ chân Phật, rồi bạch Phật rằng: “Kính bạch Thế Tôn, Ngài vừa nói về ba nghiệp sát, đạo, dâm, khi ba duyên bị cắt đứt, thì ba nhân này không sinh khởi. Cái điên cuồng của Diễn Nhã Đạt Đa trong tâm sẽ tự nhiên chấm dứt. Khi chấm dứt chính là bồ đề, không phải do người khác ban cho. Vậy thì nhân duyên đã rõ ràng như vậy, tại sao Ngài lại đột ngột bỏ qua nhân duyên? Con đã giác ngộ nhờ hiểu rõ về nhân duyên. Kính bạch Thế Tôn, ý nghĩa này không chỉ dành cho chúng con hàng Thanh Văn những người trẻ tuổi hữu học. Ngay cả những vị cao niên như Đại Mục Kiền Liên, Xá Lợi Phất, và Tu Bồ Đề, đều đã từ các vị Bà La Môn nghe về nhân duyên của Phật, và từ đó phát tâm khai ngộ tu hành đạt được quả vị A La Hán. Vậy mà nay Ngài lại nói rằng Bồ Đề không do nhân duyên. Như vậy, những thuyết tự nhiên của Câu Xá Ly ở Vương Xá, sẽ trở thành chân lý tối thượng. Kính mong Ngài từ bi khai thị để chúng con hết mê lầm.
04-15 Phật dạy A Nan: “Cũng như trường hợp của Diễn Nhã Đạt Đa ở trong thành, nếu nhân duyên gây ra sự điên cuồng của y bị tiêu diệt, thì tính cách không điên cuồng của y sẽ tự nhiên hiện ra. Nhân duyên tự nhiên, lý lẽ đến đây là hết. A Nan à, cái đầu của Diễn Nhã Đạt Đa vốn là như vậy, vốn dĩ là như vậy, không có cái gì là không phải như vậy. Vậy do nhân duyên gì, y lại sợ hãi cái đầu của mình và chạy loạn? Nếu nói rằng cái đầu vốn có của y là nhân duyên khiến y điên cuồng, thì tại sao cái đầu vốn có của y lại không bị mất đi vì nhân duyên đó? Cái đầu vốn có không mất đi, mà sự sợ hãi và điên cuồng lại xuất hiện một cách sai lầm. Chưa từng có sự thay đổi nào, vậy thì cần gì đến nhân duyên? Nếu nói rằng bản tính của y vốn là điên cuồng, vốn đã sợ hãi, thì trước khi điên cuồng, sự điên cuồng đó ẩn nấp ở đâu? Nếu nói rằng bản tính tự nhiên của y vốn không điên cuồng, cái đầu vốn không có gì sai lầm, thì tại sao y lại điên cuồng chạy loạn? Nếu hiểu được bản chất của cái đầu, nhận ra sự điên cuồng chạy loạn, thì nhân duyên và tự nhiên đều là những lý thuyết vô nghĩa.
Vì vậy Ta nói khi ba duyên bị cắt đứt thì đó chính là tâm Bồ đề. Khi tâm Bồ đề sinh khởi, thì tâm sinh diệt tiêu diệt, đây chỉ là sự sinh diệt. Sinh và diệt đều chấm dứt, không có con đường nào để tu hành. Nếu có cái gọi là tự nhiên, thì rõ ràng rằng khi tâm tự nhiên sinh khởi, thì tâm sinh diệt tiêu diệt, đây cũng là sự sinh diệt. Cái không sinh không diệt mới gọi là tự nhiên. Cũng giống như các pháp trong thế gian hòa hợp lại thành một thể, thì được gọi là tính hòa hợp. Cái không hòa hợp được gọi là tính bản nhiên. Bản nhiên không phải là nhiên, hòa hợp cũng không phải là hợp. Hòa hợp và bản nhiên đều rời xa nhau, rời xa và hòa hợp đều không phải. Câu nói này mới gọi là pháp không có sự hý luận.
Phật dạy A Nan: Con đường đến Bồ Đề Niết bàn còn xa lắm, không phải chỉ bằng việc con chăm chỉ tu hành trong nhiều kiếp là có thể đạt được. Mặc dù con đã ghi nhớ thọ trì mười hai bộ kinh của mười phương Như Lai, những lý thuyết thanh tịnh và sâu sắc nhiều như cát sông Hằng, nhưng chỉ là những lý thuyết suông. Mặc dù con nói về nhân duyên và tự nhiên một cách rất rõ ràng, đến nỗi người đời gọi con là người có học thức bậc nhất (đa văn đệ nhất), nhưng với những kiến thức tích lũy huân tập qua nhiều kiếp như vậy, con vẫn không thể tránh khỏi cám dỗ của Ma Đăng Già. Vậy mà con còn chờ đợi thần chú Phật đảnh của ta để dập tắt dục lửa trong lòng Ma Đăng Già, khiến y đạt đến quả A La Hán, trở thành một vị tỳ kheo tinh tấn trong pháp của Ta. Dòng sông ái dục đã cạn khô, giúp y giải thoát. Vì vậy, A Nan à, mặc dù con đã ghi nhớ những lời dạy bí mật và diệu kỳ của Như Lai trong nhiều kiếp, nhưng không bằng việc con tu tập một ngày nghiệp vô lậu, xa lìa khỏi hai thứ khổ đau do tham ái và sân gây ra. Cũng giống như Ma Đăng Già, kiếp trước là một người dâm nữ, nhờ sức thần chú mà dục vọng của y bị tiêu diệt, giờ đây ở trong pháp Ta y được gọi là Tánh Tỳ Kheo ni. Y cùng với mẹ của La Hầu là Da Du Đà La đều hiểu được nhân quả đời xưa của mình, biết rằng trong nhiều kiếp, tham ái là nguồn gốc của khổ đau. Chỉ cần huân tu một niệm thiện vô lậu, người ta có thể thoát khỏi mọi ràng buộc, hoặc được thọ kí. Vậy mà con lại tự lừa dối mình, vẫn còn ở đây nghe giảng.
04-16 A Nan và tất cả đại chúng nghe Phật thuyết pháp, hết thảy nghi ngờ đều tan biến, tâm hiểu được chân lý thật tướng. Thân tâm nhẹ nhàng, cảm giác chưa từng có. Lặp lại rơi lệ, đảnh lễ chân Phật, quỳ gối chắp tay mà bạch Phật rằng: “Kính bạch Vô Thượng Đại Bi Thanh Tịnh Bảo Vương, Ngài đã khéo khai mở lòng con. Nhờ những nhân duyên như vậy, Ngài đã từ bi khuyến khích, dẫn dắt những người đang chìm đắm trong khổ hải ra khỏi. Kính bạch Thế Tôn, mặc dù nay con đã nghe pháp âm của Ngài, biết được Như Lai tạng minh tâm diệu giác giác, bao trùm mười phương thế giới, nuôi dưỡng mười phương cõi Phật, thanh tịnh và trang nghiêm. Nhưng Ngài lại trách con chỉ nghe nhiều mà không thực hành, không bằng những người thực hành. Nay Con giống như một người khách lang thang, đột nhiên được vua ban cho một ngôi nhà tráng lệ, mặc dù đã có nhà lớn, nhưng vẫn phải biết cửa để vào nhà. Kính mong Như Lai không xả bỏ lòng đại bi, chỉ dạy cho những người trong hội chúng đang mù lòa này, xả bỏ Tiểu thừa, để đạt được Niết bàn vô dư, con đường phát tâm ban đầu của Như Lai. Khiến cho những hàng hữu học, làm thế nào để chế ngự những chấp trước phan duyên trước đây, để có được thần chú và vào được tri kiến của Phật. Nói xong, quỳ lạy bằng năm vóc sát đất, một lòng chờ đợi lời dạy từ bi của Phật.
04-17 Lúc ấy, Thế Tôn thương xót các vị Duyên Giác và Thanh Văn trong hội chúng, những người chưa tự tại nơi tâm Bồ đề, và vì những chúng sinh trong thời kỳ pháp diệt sau khi Phật nhập Niết bàn, muốn phát khởi tâm Bồ đề, mở ra con đường tu hành vi diệu vô thượng thừa. Thế Tôn tuyên thuyết khai thị cho A Nan và tất cả đại chúng: “Các ông quyết định phát khởi tâm Bồ đề, nơi Tam ma đề (thiền định) vi diệu của Như Lai, không nên sanh lòng mỏi mệt. Trước hết, các ông nên làm rõ, hai định nghĩa quyết định, sơ phát tâm giác ngộ.
04-18 Thế nào là hai nghĩa quyết định sơ tâm.
04-19 A Nan, nghĩa thứ nhất là: Nếu các ông muốn bỏ Tiểu thừa Thanh Văn, tu hành Bồ tát thừa để vào kiến giải (tri kiến) của Phật, thì nên xem xét kỹ tâm phát khởi ở nhân địa và giác ngộ ở quả địa có giống nhau hay khác nhau. A Nan, nếu ở nhân địa, lấy tâm sinh diệt làm gốc để tu hành, mà lại cầu quả vị Phật là không sinh không diệt, thì điều đó là không có. Vì lẽ đó, các ông nên sáng tỏ rằng tất cả pháp hữu vi trong thế gian đều từ sanh diệt mà ra. A Nan, các ông xem trong thế gian, pháp hữu vi nào là không hư hoại? Nhưng các ông chưa bao giờ nghe nói hư không bị hủy hoại. Vì sao? Vì không gian không phải là pháp hữu vi, cho nên từ đầu đến cuối không bao giờ bị hủy hoại. Vậy thì trong thân thể ông, tướng cứng rắn là đất, ẩm ướt là nước, ấm áp là lửa, rung động là gió. Bốn đại này bủa vây, phân chia tâm sáng suốt viên mãn của ông thành thấy, nghe, cảm, nhận. Từ đầu đến cuối, năm uẩn đều hỗn tạp.
04-20 Thế nào là Trược.
04-21 A Nan! Ví như nước trong, vốn dĩ tinh khiết, mà những hạt bụi bẩn, cát sỏi kia vốn có tính chất ngưng tụ, hai loại bản chất này vốn không tương hợp. Có người đời lấy những hạt bụi đất đó ném vào nước trong, đất mất đi tính chất ngưng tụ, nước mất đi sự tinh khiết, hình tướng trở nên đục ngầu, đó gọi là hỗn tạp (trược). Năm lớp hỗn tạp của Ông cũng lại như vậy.
Ngũ Trược
04-22 A Nan! Ông thấy hư không biến khắp mười phương, Không và Thấy không tách biệt; có Không nhưng không có thể, có Thấy nhưng không có giác biết, chúng đan xen với nhau mà hư vọng tạo thành, Đó là tầng thứ đầu tiên, gọi là kiếp trược.
Thân thể Ông hiện tại được cấu tạo bởi bốn đại. Các thức thấy, nghe, biết, nghĩ bị chướng ngại và ngăn trở. Nước, lửa, gió, đất, luân chuyển khiến giác biết. Chúng đan xen vào nhau hư vọng tạo thành. Đó là tầng thứ hai, gọi là kiến trược.
Lại nữa, trong tâm thức của ông, do ghi nhớ và học tập mà sinh ra kiến giải (cái thấy biết). Kiến giải này bao hàm sáu trần. Khi lìa khỏi sáu trần thì không có tướng, lìa khỏi giác nhận thì không có tánh. Chúng đan xen vào nhau hư vọng tạo thành. Đó là tầng thứ thứ ba, gọi là phiền não trược.
Lại nữa, Ông ngày đêm sinh diệt không ngừng. Kiến giải (cái thấy biết) của ông luôn muốn lưu lại thế gian. Nghiệp lực của ông thường xuyên chuyển dịch giữa các cõi. Chúng đan xen vào nhau hư vọng tạo thành. Đó là tầng thứ thứ tư, gọi là chúng sinh trược.
Cái thấy và nghe của các ông, vốn không có tính chất khác nhau. Nhưng vì bị nhiều trần lao ngăn cách, nên sinh ra những hình tướng khác biệt. Trong tánh giác, chúng vốn là một, nhưng trong dụng thì lại trái ngược nhau. Do mất đi tiêu chuẩn giống và khác, chúng đan xen vào nhau hư vọng tạo thành. Đó là tầng thứ thứ năm, gọi là mạng trược.
Hai Thứ Căn Bản
04-23 A Nan, nay ông muốn khiến thấy, nghe, giác, biết, có thể vĩnh viễn khế hợp với thường lạc, ngã tịnh của Như Lai, trước hết phải chọn lựa ra căn bản của sinh tử, dựa vào tánh không sinh không diệt trong lành viên mãn, dùng tánh trong lành ấy xoay sự hư vọng sinh diệt về, nằm yên để để trở về tánh giác ban đầu, được tính giác ngộ viên mãn, không sinh không diệt làm tâm ở nhân địa. rồi sau đó, mới có thể tu chứng thành tựu quả địa viên mãn. Cũng như nước đục khi chứa vào bình sạch, để yên không động, cát sỏi tự lắng xuống, nước trong hiện ra, đó gọi là sơ phục khách trần phiền não. Khi loại bỏ hết bùn đất, chỉ còn nước trong tinh khiết, đó gọi là vĩnh viễn đoạn trừ vô minh căn bản. Khi tướng sáng trở nên tinh khiết, mọi hiện tượng biến hiện, đều không còn là phiền não, mà hòa hợp với diệu đức thanh tịnh của Niết-bàn.
Nghĩa thứ hai, các ông nhất định muốn phát khởi tâm Bồ đề, nên sinh khởi tâm đại dõng mãnh trên con đường Bồ tát, quyết định từ bỏ hết thảy các pháp hữu vi, nên thận trọng thẩm xét căn bản của phiền não. Kể từ vô thủy đến nay, nghiệp lực phát sinh nuôi dưỡng chúng sinh, ai tạo ai thọ?
04-24 A Nan, khi con tu hành Bồ đề, nếu không xem xét kỹ căn bản của phiền não, thì không thể biết căn bản của các căn trần hư vọng bị điên đảo ở đâu. Chỗ còn chưa biết, làm sao có thể hàng phục và đạt được địa vị của Như Lai? A Nan, con hãy xem những người trong thế gian tháo dây buộc, nếu không thấy chỗ bị buộc, làm sao biết chỗ tháo? Con có nghe thấy không gian bị con phá vỡ không? Vì sao? Vì không gian không có hình tướng, không có chỗ buộc và tháo. Vậy thì, hiện tại mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và tâm của con, sáu căn này chính là môi giới của kẻ trộm, tự mình cướp đi bảo vật của nhà mình. Vì thế, từ vô thủy đến nay, thế giới chúng sinh bị trói buộc, nên không thể vượt ra khỏi thế giới hữu hình này.
04-25 A Nan, thế nào gọi là thế giới của chúng sinh? Thế là chuyển lưu, giới là phương vị. Nay ông nên biết, đông, tây, nam, bắc, đông nam, tây nam, đông bắc, tây bắc, trên, dưới là giới. Quá khứ, hiện tại, tương lai là thế (đời). Phương vị có mười, dòng chảy có ba. Tất cả chúng sinh đan xen hư vọng tạo thành. Trong thân thể luân chuyển, tương tác với thế giới. Mặc dù giới tánh có thể ở mười phương, nhưng vị trí có thể xác định rõ ràng. Thế gian chỉ nhìn thấy đông, tây, nam, bắc, còn trên dưới không có vị trí cố định, trung tâm (ở giữa) không có phương vị xác định, nhưng bốn số lượng phải rõ ràng. Tương tác với thế, 3 x 4 x 4 x 3, xoay chuyển mười hai vòng. Dòng chảy biến đổi ba lần, một, mười, trăm, ngàn. Tổng kết từ đầu đến cuối. Trong sáu căn, mỗi căn có một ngàn hai trăm công đức.
04-26 A Nan, ông lại so sánh ưu khuyết trong đó. Như mắt nhìn thấy, phía trước sáng, phía sau tối. Phía trước sáng hoàn toàn, phía sau hoàn toàn tối. Quan sát hai bên, chỉ được hai phần ba. Tóm lại, công đức của mắt không hoàn hảo. Nên nói có ba phần công, một phần không có đức. Nên biết mắt chỉ có tám trăm công đức. Như tai nghe khắp, không bỏ sót mười phương. Dù gần dù xa đều nghe rõ, khi tĩnh lặng thì không có giới hạn. Nên biết nhĩ căn (tai) viên mãn một ngàn hai trăm công đức. Như mũi ngửi mùi, thông suốt hơi thở ra vào. Có ra có vào, nhưng thiếu phần giao nhau. Xem xét tỉ căn (mũi), thiếu một phần ba. Nên biết mũi chỉ có tám trăm công đức. Như lưỡi tuyên dương, hết thảy trí tuệ thế gian và xuất thế gian. Lời nói có giới hạn, lý trí vô tận. Nên biết thiệt căn (lưỡi) viên mãn một ngàn hai trăm công đức. Như thân cảm nhận, nhận biết được thuận nghịch. Khi hợp lại thì có thể cảm nhận, khi tách ra thì không biết. Tách một hợp hai. Xem xét căn thân, thiếu một phần ba. Nên biết thân chỉ có tám trăm công đức. Như ý nghĩ bao dung, mười phương ba đời, tất cả pháp thế gian và xuất thế gian, chỉ có thánh và phàm, không có gì mà không bao hàm, tận cùng giới hạn. Nên biết ý căn viên mãn một ngàn hai trăm công đức.
04-27 A Nan, nay ông muốn nghịch dòng dục lưu sanh tử, quay về tìm gốc của dòng chảy đó, để đạt đến cảnh giới không sinh không diệt. Phải nên kiểm nghiệm thọ dụng của sáu căn này, xem cái nào hợp, cái nào rời, cái nào sâu, cái nào nông, cái nào viên thông, cái nào không viên mãn. Nếu có thể ở trong đây ngộ được căn viên thông, thì có thể nghịch dòng nghiệp lực hư vọng đan dệt từ vô thủy, theo đuổi căn viên thông, so với căn không viên thông, sẽ nhanh gấp nhiều lần. Ta nay bày tỏ rõ ràng công đức vốn có của sáu căn viên minh, số lượng như vậy. Con hãy tùy ý chọn căn để vào. Ta sẽ khai mở, để con tiến bộ. Mười phương Như Lai, ở mười tám giới, mỗi giới đều tu hành, đều đạt được Bồ đề viên mãn vô thượng. Ở giữa chúng, cũng không có ưu việt gì. Chỉ vì con thấp kém, chưa thể ở trong đó tu chứng được trí huệ viên mãn tự tại. Vì vậy, ta tuyên dương, để con chỉ chuyên tâm vào một pháp môn. Vào một pháp môn không sai lầm, thì sáu căn biết sẽ cùng lúc thanh tịnh.
04-28 A Nan bạch Phật rằng: Thế Tôn, làm thế nào nghịch dòng vào sâu một pháp môn, có thể khiến cho sáu căn cùng lúc thanh tịnh được?
04-29 Phật dạy A Nan. Ông giờ đã đạt được quả vị Tu đà hoàn rồi. Con đã loại bỏ được những hiểu lầm căn bản của chúng sinh trong ba cõi. Nhưng con vẫn chưa biết những thói quen sai lầm sâu trong tâm thức của mình tích lũy từ vô thủy đến nay. Những thói quen này cần phải tu tập mới có thể loại bỏ được. Huống hồ ở trong đây, có sinh trụ dị diệt, có phân biệt. Bây giờ con hãy nghĩ xem, sáu căn hiện tiền của con, là một hay là sáu? A Nan, nếu là một, thì tại sao tai không thấy, mắt không nghe được, đầu không thể đi, chân không thể nói? Nếu sáu căn này nhất định là sáu, thì nay Ta ở trong pháp hội này, tuyên dương pháp môn vi diệu cho ông, sáu căn của ông, cái nào dùng lãnh thọ.
04-30 A Nan nói rằng. Con dùng tai để nghe.
04 – 31 Đức Phật dạy: Tai con tự nghe, sao lại liên quan đến thân và miệng? Miệng hỏi về đạo lý, thân cung kính tiếp nhận. Vì vậy, con nên biết rằng sáu căn không phải là một, cũng không phải là sáu riêng biệt. Sáu căn không có một gốc rễ duy nhất hoặc sáu gốc rễ riêng biệt. A Nan hãy biết rằng, sáu căn không phải là một cũng không phải là sáu. Do từ vô thủy đến nay, chúng ta đã bị điên đảo và phân biệt, nên nơi tánh trạm nhiên viên mãn sinh ra quan niệm về một và sáu.
Con đã đạt được quả vị Tu đà hoàn, tuy đã loại bỏ được sáu trần, nhưng vẫn chưa hoàn toàn diệt trừ được một cái. Cũng giống như không gian bao la chứa đựng muôn vật. Do hình dạng của vật khác nhau mà chúng ta gọi chúng là những không gian khác nhau. Nếu bỏ qua các vật chỉ nhìn không gian, chúng ta nói không này là một. Vậy không gian bao la kia, đối với con là đồng hay không đồng, huống hồ lại gọi là một hay chẳng phải một có phải là một.
Vậy con hãy hiểu rằng, thọ dụng sáu căn của con, cũng lại như vậy.
Sáu Căn
04-32 Do hai tướng sáng và tối, trong chân tâm diệu tánh viên mãn trạm nhiên này nhìn thấy. Tánh thấy tinh anh chiếu rọi lên sắc tướng, kết sắc thành căn. Căn này vốn được gọi là con mắt tinh khiết của bốn đại. Vì thế gọi là mắt thể, ví như bông nho. Phù căn bốn trần, trôi nổi và đuổi theo sắc tướng.
Do hai trạng thái va chạm giữa động và tĩnh, trong chân tâm viên mãn nhiệm mầu phát ra tánh nghe. Tánh nghe tinh anh chiếu rọi vào âm thanh, cuộn âm thanh trở thành căn. Căn này vốn được gọi là tai thanh tịnh của bốn đại. Vì thế gọi là thể tai, ví như chiếc lá non cuộn. Phù căn bốn trần, trôi nổi và đuổi theo âm thanh.
Do hai tướng thông thoáng và tắc nghẽn, trong chân tâm viên mãn nhiệm mầu phát ra tánh ngửi. Tánh ngửi tinh anh chiếu rọi vào mùi hương, kết nạp mùi hương thành căn. Căn này vốn được gọi là mũi, thanh tịnh của bốn đại. Vì thế gọi là thể mũi, ví như hai chiếc móng vuốt rũ xuống. Phù căn bốn trần, trôi nổi và đuổi theo mùi hương.
Do hai tướng thay đổi giữa vị giác, trong chân tâm viên mãn nhiệm mầu phát ra tánh nếm. Tánh nếm tinh anh chiếu rọi vào vị giác, kết vị giác thành căn. Căn này vốn được gọi là lưỡi thanh tịnh của bốn đại. Vì thế gọi là thể lưỡi, ví như vầng trăng lưỡi liềm. Phù căn bốn trần, trôi nổi và đuổi theo vị giác.
Do hai tướng tiếp xúc và tách rời, trong chân tâm viên mãn nhiệm mầu phát ra tánh cảm giác, Tánh giác tinh anh chiếu rọi vào xúc giác, chuyển xúc thành căn. Căn bản này vốn được gọi là thân, thanh tịnh của bốn đại. Vì thế gọi là thân thể, ví như cái trống lưng. Phù căn bốn trần, trôi nổi và đuổi theo xúc giác.
Do hai tướng sinh và diệt, trong chân tâm viên mãn nhiệm mầu, phát ra tánh biết. Tánh biết tinh anh chiếu rọi vào pháp (sự vật, hiện tượng), thâu nhận các pháp tạo thành căn. Căn bản này được gọi là ý thanh tịnh của bốn đại. Vì thế gọi là ý nghĩ, ví như thấy trong phòng tối. Phù căn bốn trần, trôi nổi và đuổi theo pháp.
04-33 A Nan, sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) này, đều do giác (ý thức) sáng tỏ mà có. Khi giác sáng tỏ, mất đi tánh tinh anh rõ ràng, nó dính mắc vào vọng tưởng và phát ra ánh sáng. Do đó, bây giờ con rời xa bóng tối và ánh sáng, không còn hình tướng để thấy. Rời xa động và tĩnh, không còn bản chất để nghe. Không có thông và tắc, không sinh ra tính chất của khứu giác. Không có biến đổi và không thay đổi, vị giác không xuất hiện. Không rời xa và không kết hợp, xúc giác vốn không có. Không có diệt và không có sinh, nhận thức an trú. Một khi Con không theo đuổi động, tĩnh, hợp, ly, biến đổi không biến đổi, thông, tắc, sinh, diệt, sáng, tối, 12 tướng hữu vi như vậy. Tùy tiện nhổ bỏ một căn, tách khỏi sự dính mắc an trụ bên trong, nương tựa trở về với nguồn gốc chân thật, phát huy ánh sáng bản nguyên. Tự tánh phát huy ánh sáng, năm căn dính mắc còn lại, cũng sẽ nhổ bỏ và tách rời hoàn toàn. Không bị ảnh hưởng bởi tri kiến phát sinh từ tiền trần. Ánh sáng không theo đuổi căn, mà dựa vào căn để phát huy ánh sáng. Bởi vậy, sáu căn hỗ trợ lẫn nhau phát huy tác dụng.
04-34 A Nan, không lẽ ông không biết rằng trong hội chúng này, A Na Luật Đà không có mắt mà vẫn thấy, Bạt Nan Đà Long không có tai mà vẫn nghe, Hằng Ca thần nữ không dùng mũi mà vẫn ngửi thấy hương thơm, Kiêu Phạm Bát Đề, dùng lưỡi khác thường mà vẫn biết vị, Tuấn Nhược Đa thần không có thân mà vẫn cảm nhận được xúc giác. Tất cả đều do ánh sáng của Như Lai, chiếu rọi mà tạm thời hiện ra. Vì thân thể của họ vốn là tính chất của gió, nên không có thực thể. Những hàng Thanh Văn đạt được định diệt tận thanh tịnh. Như trong hội chúng này ngài Ma Ha Ca Diếp, đã từ lâu diệt trừ ý căn, đạt được sự giác ngộ viên mãn và rõ ràng, không bị ảnh hưởng bởi tư tưởng.
04-35 A Nan, nếu bây giờ con đã hoàn toàn nhổ bỏ các căn, bên trong sẽ sáng tỏ và phát ra ánh sáng. Lúc đó, những bụi trần và các hiện tượng biến đổi trong thế giới vật chất sẽ tan biến như băng tan trong nước nóng, và con sẽ lập tức đạt đến giác ngộ tối thượng.
04-36 A Nan, giống như khi người đời hội tụ cái thấy nơi mắt, nếu nhắm thật chặt, bóng tối sẽ bao trùm, sáu căn sẽ tối tăm, đầu và chân trở nên giống nhau. Người đó dùng tay sờ khắp cơ thể, mặc dù không thấy gì nhưng vẫn phân biệt được đầu và chân, tri giác là giống nhau. Nhìn thấy được là do có ánh sáng, khi tối đen thì không thể thấy gì. Nếu không có ánh sáng thì không thể tự phát, thì các tướng bóng tối vĩnh viễn không thể chướng ngại. Khi căn và trần (cảm quan và đối tượng cảm giác) đều tan biến, làm sao giác (ý thức) sáng tỏ có thể không viên mãn?
04-37 A Nan bạch Phật rằng: “Thế Tôn, như Phật đã dạy, tâm giác khi ở nhân địa, muốn cầu chân tâm thường trụ, thì phải tương ứng với danh hiệu của quả vị. Thế Tôn, ở trong quả vị, Bồ đề, Niết bàn, Chân như, Phật tánh, thức A Ma La, Không như lai tạng, Đại viên cảnh trí, là bảy danh hiệu khác nhau, tuy tên gọi khác nhau, nhưng đều thanh tịnh viên mãn, thể tánh kiên cố, như Kim cang vương, thường trụ bất hoại. Nếu thấy và nghe như vậy, rời xa sáng tối, động tĩnh, thông tắc, vốn không có thể. Giống như tâm niệm, rời xa đối tượng trước mắt (tiền trần), vốn không có gì cả. Vậy làm sao có thể lấy sự diệt tận hoàn toàn này làm nhân để tu hành, mà muốn đạt được bảy quả vị thường trụ của Như Lai? Thế Tôn, nếu rời xa sáng tối, thấy tất cả đều trống không. Giống như không có đối tượng trước mắt, tự tánh của tâm niệm tự diệt. Dù tiến dù lùi, dù tìm tòi sâu sắc, vốn không có tâm ngã và tâm ngã sở, vậy thì lấy cái gì làm nhân để cầu Vô Thượng Giác? Như Lai trước đây đã nói về tánh tịch tịnh viên mãn chân thường. Nếu đi ngược lại lời nói chân thật này, cuối cùng sẽ trở thành hý luận vô ích. Làm sao lời nói của Như Lai có thể là lời nói chân thật? Kính xin Thế Tôn từ bi, khai mở sự mê lầm của con.
Đánh Chuông Kiểm Nghiệm Chân Thường
04-38 A Nan, con đã học hỏi rất nhiều, nhưng chưa thoát khỏi mọi phiền não, trong tâm chỉ biết nguyên nhân của sự điên đảo. Khi cái chân thật đưa ra trước mắt, con vẫn chưa thể nhận ra. Ta lo rằng lòng chân thành của con vẫn chưa thực sự tin phục. Bây giờ, Ta sẽ lấy những việc đời thường để giải trừ nghi ngờ của con.
Lúc bấy giờ, Như Lai sai La Hầu La thỉnh một tiếng chuông, rồi hỏi A Nan. Ông có nghe không? A Nan cùng đại chúng thưa: Dạ, chúng con có nghe.
Tiếng chuông im bặt, đức Phật lại hỏi: Bây giờ Ông có nghe không?
A Nan cùng đại chúng thưa: Dạ, không nghe.
Lúc ấy La Hầu Lai lại thỉnh một tiếng chuông, đức Phật lại hỏi: Bây giờ Ông có nghe không? A Nan cùng đại chúng lại thưa: Dạ, có nghe.
Phật hỏi A Nan, Theo Ông thế nào là có nghe? Thế nào là không nghe?
A Nan cùng đại chúng đồng bạch Phật rằng:
Tiếng chuông đánh lên thì chúng con có nghe; đánh hồi lâu sau tiếng chuông dứt, âm vang không còn nữa, tức gọi là "không nghe".
Đức Phật lại bảo La Hầu La thỉnh chuông, rồi hỏi A Nan. Theo Ông thì bây giờ có tiếng không? A Nan cùng đại chúng đồng thưa: Dạ, có tiếng.
Giây lát sau tiếng chuông im bặt, Phật lại hỏi: Theo Ông thì bây giờ có tiếng không? A Nan cùng đại chúng đồng thưa: Dạ, không có tiếng.
Giây lát sau La Hầu La lại tiếp tục thỉnh chuông, đức Phật lại hỏi: Theo Ông bây giờ có tiếng không? A Nan cùng đại chúng đồng thưa: Dạ, có tiếng.
Đức Phật hỏi A Nan: Theo Ông thế nào gọi là có tiếng? Thế nào gọi là không có tiếng? A Nan cùng đại chúng đồng thưa: Tiếng chuông được đánh lên, thì gọi là có tiếng; đánh một lát sau tiếng chuông dứt, âm vang không còn, thì gọi là không có tiếng.
Phật bảo A Nan và các đại chúng: Sao hôm nay các Ông nói năng lộn xộn như vậy? Đại chúng cùng A Nan cùng hỏi Phật: Nay chúng con nói năng lộn xộn như thế nào? Phật nói: Ta hỏi Ông Nghe, ông bảo nghe, lại hỏi ông tiếng, thì ông nói tiếng. Vì nghe và tiếng, trả lời không nhất quán. Như vậy sao không gọi là nói năng lộn xộn?
A Nan! Tiếng mất không còn âm vang, Ông nói là không nghe; nếu quả thật không nghe, thì tánh nghe đã diệt mất, đồng như cây khô, vậy khi tiếng chuông được đánh trở lại, làm sao Ông biết được? Biết có, biết không, tự là thanh trần, hoặc có hoặc không. Chẳng lẽ tánh nghe kia, vì ông mà có không, tánh nghe thật không có, thì ai biết là không?
Vì vậy, A Nan! Tiếng ở trong tánh nghe, tự có sanh có diệt; chứ không phải vì tánh nghe của ông, mà tiếng có sanh có diệt. khiến tánh nghe của ông có hoặc không, ông còn điên đảo, mê hoặc tiếng thành tánh nghe, chẳng trách mê muội lấy cái thường hằng cho là đoạn diệt. Tóm lại không nên nói, lìa các cảnh động tĩnh, thông nghẽn, mà cho rằng không có tánh nghe.
04-39 Ví như một người ngủ say, nằm trên giường gối. Trong nhà có người, khi người đó đang ngủ, giã vải, giã gạo. Người đó trong giấc mơ nghe thấy tiếng giã, nhưng lại cho rằng đó là âm thanh khác. Có khi cho là tiếng trống, có khi cho là tiếng chuông. Ngay trong giấc mơ, người đó tự hỏi tại sao tiếng chuông lại phát ra âm thanh của gỗ đá. Rồi chợt tỉnh dậy, mới biết ngay đó là tiếng chày giã. Người đó nói với người nhà rằng: ‘Khi tôi đang mơ, tôi lầm tưởng tiếng giã này là tiếng trống.’
A Nan, người đó khi đang mơ, có nhớ đến việc động tĩnh, mở mắt, nhắm mắt, thông hoặc tắc không? Mặc dù thân thể đang ngủ, nhưng khả năng nghe vẫn không bị mờ mịt. Dù thân thể con tan rã, ánh sáng của sự sống lụi tàn, thì cái tánh này làm sao có thể bị tiêu diệt được?
Các chúng sinh từ vô thủy đến nay, đều theo đuổi sắc, thanh, ý niệm mà luân hồi không ngừng. Chưa bao giờ giác ngộ được bản tánh thanh tịnh, vi diệu thường hằng. Không theo đuổi cái thường hằng, mà lại theo đuổi sự sinh diệt, vì vậy đời đời kiếp kiếp bị ô nhiễm lưu chuyển luân hồi.
Phương Pháp Tu:
Nếu bỏ qua sinh diệt, mà giữ lấy chân thường, ánh sáng thường hằng hiện tiền, thì căn, trần, thức, tâm sẽ lập tức tiêu tan. Tưởng tượng là bụi bẩn (trần), thức tình là vết dơ (cấu), hai thứ này đều xa lìa, thì pháp nhãn của con sẽ lập tức sáng tỏ. Làm sao không thể đạt đến giác ngộ tối thượng?
05-01 A Nan bạch Phật rằng: Thế Tôn, Như Lai tuy đã nói về cánh cửa chân lý thứ hai. Nay con thấy những người trên đời giải mối kết, nếu không biết căn nguyên của mối kết, con tin rằng người đó cuối cùng cũng không thể mở ra được. Thế Tôn, con và những người hữu học trong hội chúng cũng lại như vậy. Từ vô thủy, chúng con cùng với các vô minh sinh diệt không ngừng. Dù có được thiện căn đa văn, dù đã xuất gia, nhưng vẫn cách xa vời. Duy nguyện Thế Tôn đại từ, thương xót những người đang chìm đắm. Hôm nay thân và tâm của con, cái gì là nút thắt, làm sao mới gọi là giải mở? Cũng khiến cho những chúng sinh khổ đau trong tương lai, được thoát khỏi vòng luân hồi, không rơi vào ba cõi. Nói lời ấy xong, cùng các đại chúng năm vóc sát đất quỳ lạy Thế Tôn, nước mắt chảy ròng, hết lòng mong đợi lời khai thị tối thượng của Như Lai.
05-02 Lúc ấy, Thế Tôn thương xót A Nan và tất cả các hàng hữu học trong hội chúng. Cũng vì lợi ích cho tất cả chúng sinh trong tương lai, để làm mắt cho con đường xuất thế, Ngài dùng bàn tay tỏa ánh sáng vàng kim như hoa sen chạm vào đỉnh đầu của A Nan. Tức khắc, mười phương thế giới vô số chư Phật cùng rung động sáu cách. Mỗi vị Phật trong các thế giới đó đều có ánh sáng báu từ đỉnh đầu chiếu ra. Ánh sáng đó đồng thời ở nơi thế giới kia, chiếu đến vườn Kì Đà, tắm lên đỉnh đầu của Như Lai. Tất cả đại chúng đều được chứng kiến một cảnh tượng chưa từng có.
Lúc ấy, A Nan và tất cả đại chúng, cùng nghe thấy vô số chư Phật trong mười phương, dị khẩu đồng âm, nói với A Nan: Lành thay A Nan, con muốn biết cái vô minh đồng sinh, cái mối kết của căn khiến con luân hồi sinh tử, đó chính là sáu căn của con, không có gì khác. Con lại muốn biết Bồ đề tối thượng, khiến con nhanh chóng chứng đắc an lạc giải thoát, tịch tĩnh thường hằng, đó cũng chính là sáu căn của con, không phải là vật gì khác.
05-03 A Nan tuy đã nghe pháp âm như vậy, nhưng trong lòng vẫn chưa sáng tỏ. Đảnh lễ Thế Tôn và hỏi: Làm sao mà khiến con sinh tử luân hồi và an lạc, thường hằng, tối thượng lại cùng là sáu căn, không phải là vật khác?
05-04 Đức Phật dạy A Nan. Căn và trần có cùng một nguồn gốc. Sự trói buộc và giải thoát cũng không hai. Tánh thức là hư ảo, giống như hoa ở trong hư không.” A Nan, từ trần (vật đối tượng) mà sinh ra biết (nhận thức), do căn (cơ quan cảm giác) mà có tướng (hình dạng). Tướng thấy không có tánh, giống như hai cây sậy giao nhau.
Vì vậy nay ông, từ trên tri kiến dựng lên cái biết (nhận thức), tức là đang tạo ra căn bản của vô minh. Khi cái biết này không còn biết, tức là đã đạt đến Niết Bàn thanh tịnh chân thật, không còn phiền não. Vậy làm sao trong trạng thái đó còn có thể chứa đựng những thứ khác được?
05-05 Lúc ấy, Thế Tôn muốn nhấn mạnh lại ý nghĩa này, liền nói kệ rằng:
Chân Tánh hữu vi không, do duyên sinh nên như huyễn,
Vô vi, không sinh không diệt, Không thật như hoa ở trên không,
Lời nói hư vọng hiển các chân, Vọng chân đều là vọng,
Vẫn không phải là thật, không phải là không,
Làm sao thấy cái thấy, Ở giữa không có thực tính,
Vì vậy hai cây sậy giao nhau, Kết và giải có cùng một nguyên nhân,
Thánh phàm không có hai con đường,
Con hãy quan sát bản chất ở giữa hai cây sậy,
Không và có đều không phải, Mù mờ chính là vô minh,
Biết rõ thì giải thoát, Chỗ kết giải theo thứ tự,
Sáu căn giải một thảy đều vong, tùy chọn căn viên thông,
Vào dòng thành chính giác, Thức tàng vi tế,
Tập khí thành dòng thác, Thật không thật, sợ mê lầm,
Ta thường không khai diễn, Tự tâm lấy tự tâm,
Không phải huyễn mà thành pháp huyễn,
Không lấy đều là huyễn, Không phải huyễn còn không sinh,
Pháp huyễn làm sao mà lập, Đây gọi là hoa sen diệu kỳ,
Kim cương vương bảo giác, Như huyễn tam ma đề,
Búng tay vượt qua bậc vô học, Đây là A-tì-đạt-ma,
Mười phương Bạt già phạm, Một con đường đến Niết Bàn.
05-06 Lúc đó, A Nan và tất cả đại chúng, nghe Đức Phật Như Lai lời dạy vô thượng, đêm đêm thuyết giảng, những lời dạy tinh tế, sâu sắc, lý lẽ rõ ràng, khiến tâm trí mở rộng, cảm thấy chưa từng có.
05-07 A Nan chắp tay đảnh lễ Phật bạch rằng: “Con nay nghe Đức Phật đại bi không che đậy, nói pháp tánh thanh tịnh, diệu thường, chân thật. Tâm con vẫn chưa đạt đến cảnh giới sáu giải nhất vong, tháo gỡ các mối ràng buộc. Kính mong Đức Thế Tôn từ bi thương xót, lại ban cho chúng con và những người đời sau pháp âm, tẩy sạch những ô uế.
05-08 Lúc ấy, Đức Phật Như Lai ngồi trên tòa sư tử, chỉnh lại y Tăng Già Lê, lấy chiếc khăn bằng bảy loại báu mà các vị trời Kiếp Bà La cúng dường. Ngài lấy tay kéo chiếc khăn trên bàn, lấy chiếc khăn mà các vị trời Kiếp Bà La cúng dường, trước mặt mọi người buộc thành một cái nút. Hỏi A Nan rằng: “Cái này gọi là gì?” A Nan và tất cả đại chúng cùng thưa Phật rằng: “Đây gọi là nút thắt.” Rồi Đức Như Lai lại buộc chiếc khăn thành một nút nữa. Lại hỏi A Nan: “Cái này gọi là gì?” A Nan và tất cả đại chúng lại thưa Phật rằng: “Cái này cũng gọi là nút thắt.” Cứ như vậy, Ngài liên tục buộc chiếc khăn thành sáu cái nút. Mỗi khi buộc xong một cái nút, Ngài đều cầm cái nút đó hỏi A Nan: “Cái này gọi là gì?” A Nan và tất cả đại chúng đều trả lời Phật: “Đây gọi là nút thắt.”
Đức Phật bảo A Nan: Lúc Ta mới buộc chiếc khăn, các con gọi đó là cái nút thắt. Chiếc khăn này ban đầu chỉ là một dải vải liền mạch. Vậy mà khi Ta buộc lần thứ hai, lần thứ ba, sao các con lại lặp đi lặp lại gọi đó là cái nút thắt? A Nan bạch Phật rằng: Thế Tôn, chiếc khăn quý này được dệt từ nhiều sợi tơ kết lại, tuy ban đầu là một thể thống nhất. Nhưng theo con suy nghĩ, khi Như Lai buộc một lần, thì có một cái nút. Nếu buộc một trăm lần, thì sẽ có một trăm cái nút. Huống hồ chiếc khăn này chỉ có sáu cái nút, không thể có bảy cũng không thể thiếu năm. Tại sao Như Lai chỉ chấp nhận cái nút đầu tiên, mà không gọi các nút sau là nút?
Đức Phật bảo A Nan: Chiếc khăn quý này, con vốn biết nó chỉ là một dải vải liền mạch. Khi Ta buộc sáu lần, con gọi đó là sáu cái nút. Ông hãy quan sát kỹ, bản chất của chiếc khăn là không thay đổi, chỉ có số lượng nút là khác nhau. Ý ông thấy thế nào? Cái nút đầu tiên được buộc, ta gọi là nút thứ nhất. Cứ như vậy cho đến nút thứ sáu. Bây giờ Ta muốn gọi nút thứ sáu là nút thứ nhất, được không? Không được, Thế Tôn. Nếu sáu cái nút vẫn còn đó, thì cái gọi là nút thứ sáu sẽ mãi mãi không thể trở thành nút thứ nhất. Dù con có dùng hết mọi trí tuệ để phân tích, làm sao có thể đảo lộn tên gọi của sáu cái nút này được? Phật nói: Đúng vậy, sáu cái nút là khác nhau. Nếu truy tìm nguồn gốc, chúng đều được tạo ra từ một chiếc khăn. Dù có cố tình làm cho chúng trở nên hỗn loạn, cũng không thể thay đổi được sự thật này. Cũng như vậy, sáu căn của ngươi cũng vậy. Về bản chất là thống nhất, nhưng do các nghiệp khác nhau mà sinh ra các hiện tượng khác biệt.”
Đức Phật bảo A Nan: Ông nhất định thấy sáu cái nút này chưa hoàn hảo, muốn chúng hợp thành một, nhưng làm sao có thể được? A Nan bạch Phật: Nếu các nút này vẫn còn tồn tại, thì chúng không thể hòa hợp thành một. Mỗi nút sẽ tự sinh ra, cái này không phải cái kia, cái kia không phải cái này. Nếu hôm nay Như Lai tháo gỡ hết tất cả các nút, mà các nút không sinh ra nữa, thì sẽ không có cái này cái kia. Còn không thể gọi là một, chứ nói gì đến sáu?
Đức Phật nói: sáu căn giải một thảy tiêu vong, cũng lại như vậy. Do từ vô thủy tâm tánh điên đảo cuồng loạn của ông, kiến giải sai lầm phát sinh. Khi vọng tưởng phát sinh không ngừng, làm cho cái thấy mệt mỏi sanh ra những bụi trần. Giống như khi mắt mỏi mệt, sẽ xuất hiện những ảo ảnh. Còn đối với trí tuệ sáng suốt, thì không có nguyên nhân nào để sinh ra những loạn động. Tất cả mọi thứ trên thế gian này, từ núi sông đại địa cho đến sinh tử, niết bàn, đều là những hình tướng cuồng loạn, mỏi mệt và đảo điên.
05-09 A Nan bạch rằng: Cái mỏi mệt này cũng giống như những cái nút, vậy làm sao để tháo gỡ được?
05-10 Đức Phật dùng tay kéo mạnh phần bên trái của cái khăn đã buộc, hỏi A Nan rằng, như vậy có gọi là tháo gỡ không? A Nan đáp: “Không phải, Thế Tôn.” Rồi Đức Phật lại dùng tay kéo mạnh phần bên phải. Lại hỏi A Nan: “Như vậy có gọi là tháo gỡ không?” A Nan đáp: “Không phải, Thế Tôn.” Đức Phật nói: “Ta dùng tay kéo mạnh cả hai bên, cuối cùng cũng không thể tháo gỡ được. Ngươi thử nghĩ xem, phải làm sao để tháo gỡ được các nút này?” A Nan bạch Phật: “Thế Tôn, phải tháo gỡ ở chính chỗ nút thắt thì mới có thể tách chúng ra được.” Đức Phật nói: “Đúng vậy, đúng vậy. Nếu muốn trừ bỏ các nút thắt, phải tác động vào chính chỗ tâm nút thắt.”
A Nan, Ta đã nói pháp Phật từ nhân duyên sinh khởi, không phải lấy tướng hòa hợp thô thiển của thế gian. Như Lai quán chiếu các pháp thế gian và xuất thế gian, biết rõ nguồn gốc căn bản của chúng tùy theo duyên khởi mà sinh ra. Thậm chí một giọt mưa ngoài hằng hà sa thế giới, Như Lai cũng biết rõ số lượng hạt nước trong đó. Hiện tại, các loài cây cối như thông thẳng tắp, gai góc, chim hạc trắng đen, Như Lai đều hiểu rõ nguồn gốc của chúng. Vì vậy A Nan, tùy theo suy nghĩ của ông, hãy chọn lấy một trong sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý). Nếu có thể loại bỏ nút thắt của căn đó, thì các tướng bên ngoài tự nhiên sẽ tiêu diệt. Khi mọi vọng tưởng đều tiêu tan, thì đâu cần phải chứng minh cái gì là không thật nữa?”
A Nan, Ta nay hỏi ông, sáu cái nút trên chiếc khăn này hiện hữu trước mặt, nếu cùng một lúc tháo gỡ hết, thì có thể cùng lúc tháo gỡ được không?” A Nan đáp: Không thể, thưa Thế Tôn. Vì các nút này được buộc một cách có thứ tự, nên hôm nay cũng phải tháo gỡ theo thứ tự. Mặc dù sáu cái nút cùng thuộc về một chiếc khăn, nhưng thời điểm buộc chúng lại khác nhau. Vậy thì khi tháo gỡ các nút, làm sao có thể cùng lúc tiêu diệt được?
từ tam ma địa đươc vô sanh nhẫn
Đức Phật nói: Sáu căn được giải trừ, cũng giống như vậy. Khi căn này được giải trước tiên, thì trước hết phải đạt được tánh nhân không. Tánh không này sáng suốt viên mãn, thành tựu pháp giải thoát. Khi pháp giải thoát thành tựu, tất cả đều không, không sinh. Đây được gọi là Bồ tát từ tam ma địa đạt được vô sinh nhẫn.
05-11 A Nan và các đại chúng, nhờ Đức Phật khai thị, trí tuệ đã sáng tỏ viên thông, không còn nghi ngờ gì nữa. Lúc ấy, tất cả cùng chắp tay, đảnh lễ hai chân Đức Phật, mà bạch rằng: ‘Chúng con hôm nay thân tâm thanh tịnh, vui mừng không vướng mắc. Mặc dù đã hiểu được nghĩa của việc giải một căn thì sáu căn đoạn diệt, nhưng vẫn chưa đạt được căn bản viên thông. Thế Tôn, chúng con đã lang thang phiêu bạt, cô độc qua nhiều kiếp. Bằng tâm ý nào, chúng con mới được dự vào hàng ngũ của Phật và trời? Giống như đứa trẻ bị lạc, bỗng nhiên gặp lại mẹ hiền. Nếu nhờ lần hội ngộ này mà đạo nghiệp thành tựu, thì những lời mật ngôn mà chúng con nhận được, cũng giống như tự mình thể ngộ, thì cùng với lúc chưa nghe chẳng khác gì. Kính mong Phật rũ lòng thương xót, ban cho chúng con những lời dạy bí mật, để chúng con thành tựu những lời dạy cuối cùng của Như Lai. Nói xong, năm thể liền chạm đất, khép kín tâm ý, mong Đức Phật thầm truyền thọ.
05-12 Lúc ấy Đức Thế Tôn, nói với tất cả các đại Bồ tát, và các vị đại A La Hán đã đoạn trừ phiền não trong hội chúng. Các vị Bồ tát và A La Hán, những người đã sinh ra trong pháp của Ta, và đã thành tựu quả vị vô học, Ta nay hỏi các ông, khi bắt đầu phát tâm và giác ngộ mười tám giới, cái nào là viên thông, và đã dùng phương tiện nào để nhập vào tam ma địa?
05-13 Thanh Trần Viên thông
Lúc ấy, năm vị Tỳ kheo Kiều Trần Như, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ chân Phật, mà bạch rằng: “Con ở Lộc Uyển và Cấp Cô Độc viên, đã được chứng kiến Như Lai vừa thành đạo. Nghe tiếng nói của Phật, con đã ngộ rõ tứ đế. Phật hỏi Tỳ Kheo, con ban đầu đã hiểu rõ, và Như Lai ban cho con pháp danh là A Nhã Đa, Diệu Âm Viên Thông. Con đã đạt được quả vị A La Hán nhờ vào thanh âm. Khi Phật hỏi về phương tiện viên thông, như những gì con chứng ngộ, thanh âm là phương tiện tối thượng.
05-14 “Sắc trần viên thông”
Lúc ấy, Ưu Ba Ni Sa Đà, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ chân Phật, mà bạch rằng: “Con cũng đã chứng kiến Như Lai vừa thành đạo. Con đã quán chiếu tướng không sạch, sinh khởi tâm chán ghét lớn lao, ngộ được tánh không của sắc. Từ những hạt bụi xương không sạch, con đã thấy chúng trở về với hư không. Sắc và không đều là không, con đã thành tựu đạo vô học. Như Lai ban cho con pháp danh là Ni Sa Đà. Sắc trần đã hết, sắc tướng vi diệu viên mãn. Con đã đạt được quả vị A La Hán nhờ vào sắc tướng. Khi Phật hỏi về phương tiện viên thông, như những gì con chứng ngộ, thì sắc là phương tiện tối thượng.
05-15 “Hương Trần Viên Thông”
Hương Nghiêm Đồng Tử, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ chân Phật, mà bạch rằng: “Con nghe Như Lai dạy con quán sát kỹ các pháp hữu vi. Lúc đó con xin phép Phật, ăn chay tịnh giới. Con thấy các vị Tỳ kheo đốt trầm hương, mùi hương lặng lẽ vào mũi con. Con quán sát mùi hương này, nó không phải là gỗ, cũng không phải là không, không phải là khói, cũng không phải là lửa, đi không có chỗ nương tựa, đến không có chỗ xuất phát. Từ đó, ý niệm của con tan biến, phát sáng được pháp vô lậu. Như Lai ban cho con pháp danh là Hương Nghiêm. Mùi hương của bụi trầm nhanh chóng tiêu tan, mùi hương vi diệu viên mãn. Con đã đạt được quả vị A La Hán nhờ vào mùi hương. Khi Phật hỏi về phương tiện viên thông, như những gì con chứng ngộ, thì mùi hương là phương tiện tối thượng.”
05-16 “Vị trần viên thông”
Lúc ấy, hai vị pháp vương tử làDược Vương và Dược Thượng, cùng với năm trăm vị Phạm thiên trong hội chúng, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ chân Phật, bạch rằng: “Con từ vô thủy kiếp, đã làm lương y cho thế gian, đã nếm trải tất cả các loại thảo mộc, kim loại, đá của thế giới Ta Bà này, tổng cộng có mười vạn tám nghìn loại. Con biết rõ hết các vị như chua, cay, mặn, ngọt, đắng... cùng với các sự biến đổi khi chúng kết hợp với nhau, lạnh hay nóng, có độc hay không độc, đều biết rõ hết. Khi hầu hạ Như Lai, con đã hiểu rõ tính chất của vị, nó không phải là không, cũng không phải là có, không dính mắc vào thân tâm, cũng không tách rời thân tâm. Từ việc phân biệt nguyên nhân của vị, con đã khai ngộ. Được Phật ban cho an hem chúng con pháp danh là hai vị Bồ tát Dược Vương và Dược Thượng. Nay trong hội chúng, làm con Pháp Vương. Nhờ vào vị giác mà giác ngộ, chúng con đã lên vị trí Bồ tát. Khi Phật hỏi về phương tiện viên thông, như những gì chúng con chứng ngộ, thì vị giác là phương tiện tối thượng.”
05-17 “Xúc trần viên thông”
Bạt Đà Bà La, cùng với mười sáu vị khai sĩ đồng hành, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ chân Phật, bạch rằng: “Chúng con trước đây đã nghe pháp xuất gia với Đức Phật Oai Âm Vương. Khi các Tỳ kheo tắm, theo lệ chúng con vào phòng tắm. Bỗng nhiên con ngộ ra nguyên lý của nước, nước không rửa sạch bụi bẩn, cũng không rửa sạch thân thể, giữa đó có sự an tĩnh, đắc không sở hữu. Thói quen xưa Con không hề quên. Cho đến bây giờ, khi xuất gia theo Phật, khiến con đạt được quả vị vô học. Đức Phật đó đặt tên cho con là Bạt Đà Bà La. Cảm giác xúc chạm vi diệu được tuyên nói rõ ràng, con đã trở thành một Phật tử. Khi Phật hỏi về phương tiện viên thông, như những gì con chứng ngộ, thì xúc giác là phương tiện tối thượng.”
05-18 “Pháp trần viên thông”
Ma Ha Ca Diếp cùng với Tỳ Kheo Ni Tử Kim Quang và các vị khác, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ chân Phật, bạch rằng: “Con ở kiếp quá khứ, trong thế giới này, đã có một vị Phật xuất hiện, tên là Nhật Nguyệt Đăng. Con đã được gần gũi Ngài, nghe pháp và tu học. Sau khi Phật diệt độ, con đã cúng dường xá lợi, đốt đèn tiếp nối ánh sáng, và dùng vàng óng ánh màu tím để tô điểm hình tượng của Phật. Từ đó trở đi, đời đời kiếp kiếp, thân thể con luôn tỏa sáng hào quang màu tím. Tỳ Kheo Ni Tử Kim Quang này và những người khác chính là quyến thuộc của con, cùng lúc phát tâm tu hành. Con quan sát sáu trần của thế gian luôn biến đổi, chỉ dùng tánh không tịch tĩnh, tu tập nơi diệt tận, thân tâm có thể vượt qua hàng trăm ngàn kiếp chỉ trong khảy móng tay. Con đã thành tựu quả vị A La Hán bằng pháp không. Thế Tôn nói rằng con là người tu khổ hạnh giỏi nhất. Diệu Pháp được khai mở, tiêu diệt các phiền não. Khi Phật hỏi về phương tiện viên thông, như những gì con chứng ngộ, thì pháp là phương tiện tối thượng.”
05-19 “Nhãn căn viên thông”
A Na Luật Đà, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ chân Phật, bạch rằng: “Lúc mới xuất gia, con thường thích ngủ. Như Lai đã khiển trách con là loài súc sinh. Nghe Phật khiển trách, con đã khóc lóc tự trách mình. Bảy ngày liền con không ngủ, và đã mất đi đôi mắt. Thế Tôn đã chỉ cho con vui chiếu kiến Kim Cang Minh Tam Muội. Con không dựa vào mắt, cũng thấy được mười phương thế giới. Rõ ràng như nhìn quả trong lòng bàn tay. Như Lai đã ban cho con quả vị A La Hán. Khi Phật hỏi về phương tiện viên thông, như những gì con chứng ngộ, thì việc quay nhìn về bản nguyên, là tối thượng nhất.”
05-20 Tỷ căn viên thông
Châu Lợi Bàn Đặc Gia, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ chân Phật, bạch rằng: “Con vốn dĩ kém về việc tụng đọc, không có tánh đa văn. Lúc mới gặp Phật, nghe pháp xuất gia, con chỉ nhớ được một câu kệ của Như Lai. Trong một trăm ngày, con nhớ được câu trước thì quên câu sau, nhớ được câu sau thì quên câu trước. Phật thương xót con ngu si, dạy con an cư điều hòa hơi thở ra vào. Lúc đó, con quan sát hơi thở, thấy nó rất vi tế cùng tận, sinh trụ dị diệt, các hành đều vô thường trong từng sát na. Tâm con bỗng nhiên thông suốt, được đại vô ngại. Cuối cùng, con đã đoạn hết phiền não, thành tựu quả vị A La Hán. Ngồi dưới chân Phật, con được chứng nhận là vị vô học. Khi Phật hỏi về phương tiện viên thông, như nghững gì con chứng ngộ, việc theo dõi hơi thở trở về tánh không, là tối thượng nhất.
05-21 Thiệt căn viên thông
Kiều Phạm Bát Đề, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ chân Phật, bạch rằng: “Con có khẩu nghiệp, trong kiếp quá khứ đã từng chế giễu các Sa môn, nên đời đời kiếp kiếp đều bị bệnh nhai lưỡi trâu. Như Lai đã chỉ cho con một pháp môn thanh tịnh tâm thức. Con đã diệt tâm, nhập vào tam ma địa. Quan sát về vị giác, thấy rằng nó không phải là thân thể, cũng không phải là vật chất. Ý nghĩ phát sinh thì liền vượt thoát khỏi mọi phiền não của thế gian. Bên trong giải thoát khỏi thân tâm, bên ngoài rời bỏ thế giới. Xa lìa ba cõi như chim thoát khỏi lồng. Loại cấu bỏ trần, pháp nhãn thanh tịnh, thành tựu quả vị A La Hán. Như Lai đã đích thân ấn chứng con đã lên đến con đường vô học. Khi Phật hỏi về phương tiện viên thông, như những gì con chứng ngộ, việc quay về biết rõ vị giác là tối thượng.”
05 -22 Thân căn viên thông
Tất Lăng Gia Bà Tước, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ chân Phật, bạch rằng: “Lúc mới phát tâm theo Phật vào đạo, con thường nghe Như Lai nói về những việc không đáng để yêu thích ở thế gian. Khi đi khất thực trong thành, con suy nghĩ về pháp môn. Không hay sao, giữa đường chân bị gai đâm, toàn thân đau nhức. Con tự nhủ rằng: “Có biết, biết được nỗi đau sâu sắc này. Mặc dù cảm thấy đau, nhưng vẫn cảm thấy được tâm thanh tịnh, không còn đau đớn”. Rồi con lại suy nghĩ: “Thân này chỉ là một, làm sao có thể có hai cảm giác cùng lúc được?” Tập trung niệm như vậy không lâu, thân tâm bỗng chốc trở nên trống rỗng. Trong hai mươi mốt ngày, mọi phiền não đều tiêu tan, con đã thành tựu quả vị A La Hán. Được Phật đích thân ấn chứng, chứng minh là vị vô học. Khi Phật hỏi về phương tiện viên thông, như những gì con chứng ngộ, thuần túy cảm giác quên đi thân thể, là tối thượng nhất.”
05-23 Ý căn viên thông
Tu Bồ Đề liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ chân Phật, bạch rằng: “Từ vô lượng kiếp đến nay, tâm con luôn được vô ngại. Con nhớ lại đã từng thọ sanh nhiều như cát sông Hằng. Ngay từ khi còn trong bụng mẹ, con đã biết rõ tánh không. Cứ như vậy, cho đến khắp mười phương thế giới, đều thành không. Con cũng khiến cho chúng sinh chứng ngộ được tánh không. Nhờ Như Lai mà con thức tỉnh được tánh không chân thật. Tánh không viên mãn sáng tỏ, được thành tựu quả vị A La Hán. Ngay lập tức nhập vào biển không sáng suốt của Như Lai, có cùng một kiến giải với Phật. Được ấn chứng là vị vô học. Giải thoát tánh không, con làm bậc vô thượng. Khi Phật hỏi về phương tiện viên thông, như những gì con chứng ngộ: “Mọi tướng đều nhập vào không, không phải là có, cũng không phải là không, pháp quay về không, đây là tối thượng.”
05-24 Nhãn thức viên thông
Xá Lợi Phất liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ chân Phật, bạch rằng: “Từ vô lượng kiếp đến nay, tâm thấy thanh tịnh. Con đã từng thọ sanh nhiều như cát sông Hằng. Thế gian và xuất thế gian, mọi sự biến hóa, con nhìn một cái là hiểu ngay, không có gì cản trở. Trên đường đi, con gặp hai anh em Ca Diếp đang đuổi nhau, con liền thuyết giảng về nhân duyên quả, rồi ngộ ra rằng tâm vô bờ bến. Từ đó xuất gia theo Phật, thấy giác ngộ sáng tỏ, được đại vô úy, thành tựu quả vị A La Hán. Con là trưởng tử của Phật, từ miệng Phật sinh ra, từ pháp hóa sinh ra. Khi Phật hỏi về phương tiện viên thông, như những gì con chứng ngộ: “Tâm thấy phát ra ánh sáng, ánh sáng biến khắp tri kiến, đây là tối thượng.”
05-25 Nhĩ Thức viên thông
Bồ Tát Phổ Hiền liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ chân Phật, bạch rằng: “Con đã từng cùng với vô số Như Lai làm pháp tử. Mười phương Như Lai dạy cho các đệ tử có căn Bồ tát, tu hành theo hạnh Phổ Hiền, đều lấy từ tên của con. Thế Tôn, con dùng tâm để nghe, phân biệt mọi tri kiến của chúng sinh. Nếu ở phương khác, ngoài vô số thế giới, có một chúng sinh nào đó trong tâm phát khởi hành hạnh Phổ Hiền, thì lúc đó con sẽ cưỡi voi sáu ngà, phân thân thành trăm ngàn thân, đều đến nơi đó. Cho dù người đó nghiệp chướng sâu nặng, chưa được gặp con, con vẫn sẽ âm thầm xoa đảnh, bảo hộ, an ủi họ, khiến họ thành tựu. Khi Phật hỏi về phương tiện viên thông, con nói về bổn nguyện của mình, đó là dùng tâm nghe, phát ra ánh sáng, phân biệt tự tại, đây là tối thượng.”
05-26 Tỷ thức viên thông
Tôn Đà La Nan Đà, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ chân Phật, bạch rằng: “Lúc mới xuất gia theo Phật vào đạo, dù đã đầy đủ giới luật, nhưng trong tam ma địa, tâm con luôn phân tán, chưa đạt được vô lậu. Thế Tôn dạy con và Câu Ly La, cùng nhau quan sát đầu mũi. Lúc đầu, con tỉ mỉ quan sát, trải qua hai mươi mốt ngày. Thấy hơi thở trong mũi ra vào như khói. Tâm và thân bên trong sáng tỏ, thông suốt khắp thế giới, trở nên trong sạch như pha lê. Hình tướng của khói dần dần tiêu tan, hơi thở trở nên trắng. Tâm mở ra, phiền não tiêu diệt, mọi hơi thở ra vào đều hóa thành ánh sáng, chiếu sáng mười phương thế giới, con đã đạt được quả vị A La Hán. Thế Tôn thọ kí con sẽ thành tựu Bồ Đề. Khi Phật hỏi về phương tiện viên thông, Con dùng cách tiêu diệt hơi thở, hơi thở lâu ngày phát sáng, ánh sáng viên mãn, phiền não tiêu diệt, đây là tối thượng.”
05-27 “Thiệt căn viên thông”
Phú Lâu Na Di Đà La Ni Tử, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ chân Phật, bạch rằng: “Từ vô lượng kiếp đến nay, con có biện tài vô ngại, tuyên thuyết về khổ, không, thấu đạt thâm sâu thật tướng. Cứ như vậy, cho đến các pháp môn bí mật của vô số Như Lai, con đều có thể giảng giải một cách tinh tế trước đại chúng, không hề sợ hãi. Thế Tôn biết con có đại biện tài, dùng bánh xe âm thanh để dạy con phát dương. Trước Phật, con giúp Phật chuyển bánh xe pháp, nhờ tiếng sư tử hống mà thành tựu quả vị A La Hán. Thế Tôn ấn chứng cho con là thuyết pháp vô thượng. Khi Phật hỏi về phương tiện viên thông, Con dùng pháp âm để hàng phục ma oán, tiêu diệt mọi phiền não, đây là tối thượng.
05-28 Thân Thức viên thông
Ưu Ba Ly từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ chân Phật, bạch rằng: “Con đích thân theo Phật vượt thành xuất gia, đã tận mắt chứng kiến Như Lai tinh tấn khổ hạnh trong sáu năm. Con cũng trực tiếp thấy Như Lai hàng phục các ma, chế ngự ngoại đạo, giải thoát khỏi các dục vọng và phiền não của thế gian. Con đã thọ trì giới luật Phật dạy. Cứ như vậy, cho đến cả ba ngàn oai nghi, tám vạn chi tiết nhỏ nhặt, tánh giới và giá giới , thảy đều thanh tịnh. Thân tâm tịch diệt, con đã thành tựu quả vị A La Hán. Con là người giữ gìn giới luật trong hàng đệ tử của Như Lai. Phật đã đích thân ấn chứng tâm con. Con giữ giới, tu thân, được mọi người tôn trọng nhất. Khi Phật hỏi về phương tiện viên thông, Con dùng cách giữ gìn thân, thân đạt được tự tại, sau đó lần lượt giữ gìn tâm, tâm đạt được thông đạt, sau đó thân tâm đều thông suốt, đây là tối thượng.”
05-29 Ý thức viên thông
Đại Mục Kiền Liên liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ chân Phật, mà bạch Phật rằng: “Lúc đầu, con đi khất thực trên đường. Tình cờ gặp Ưu Lâu Tần Loa, Ca Diếp, Na Đề ba vị Ca Diếp, tuyên giảng về nghĩa lí nhân duyên thâm sâu của Như Lai. Lập tức con phát tâm, đạt được đại thông đạt. Như Lai ban cho con y áo cà sa, tóc và râu tự rụng. Con đi khắp mười phương, không có bất kỳ vướng mắc nào. Thần thông được phát huy, được tôn vinh là tối thượng. Con đã thành tựu quả vị A La Hán. Kính bạch Thế Tôn, mười phương Như Lai đều tán thán thần lực của con, sáng suốt, thanh tịnh, tự tại, không sợ hãi. Khi Phật hỏi về phương tiện viên thông, Con dùng cách quay chuyển vào tịch nhiên, ánh sáng của tâm phát ra, giống như lọc dòng nước đục, lâu ngày trở nên trong vắt, đây là tối thượng.
05- 30 Hỏa đại viên thông
Ô Sô Sắt Ma đến trước Phật, chắp tay lễ hai chân Phật, mà bạch Phật rằng: “Con thường nhớ lại từ vô lượng kiếp trước, tính con rất tham dục. Có một vị Phật xuất hiện, tên là Không Vương. Ngài nói rằng người nhiều dục tình sẽ trở thành một đống lửa lớn. Ngài dạy con quan sát kỹ lưỡng trăm xương khớp, tứ chi, các hơi nóng lạnh. Ánh sáng thần ngưng tụ bên trong, chuyển hóa dục tâm thành lửa trí tuệ. Từ đó, các Phật đều gọi con là Hỏa Đầu. Vì Con dùng sức tam muội của ánh sáng lửa, mà thành tựu quả vị A La Hán. Con phát đại nguyện, khi các Phật thành đạo, con sẽ làm lực sĩ, trực tiếp hàng phục ma oán. Khi Phật hỏi về phương tiện viên thông, Con dùng cách quán sát kỹ lưỡng sự tiếp xúc ấm áp của thân tâm, không có trở ngại lưu thông, các phiền não đều tiêu tan, sinh ra ngọn lửa báu lớn, chứng vô thượng giác, đây là tối thượng.
05-31 Địa đại viên thông
Bồ tát Trì Địa liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ chân Phật, mà bạch Phật rằng: Con nhớ lại trong quá khứ, khi Phật Phổ Quang xuất hiện trên thế gian, con là một vị Tỳ kheo. Con thường ở các ngã ba, ngã tư, những nơi đất đai hiểm trở, nếu có bất kỳ điều gì không đúng pháp, gây trở ngại cho xe cộ, con đều san lấp bằng phẳng. Hoặc xây cầu, hoặc vác cát đất. Cứ như vậy siêng năng cần khổ, trãi qua vô lượng kiếp, vô lượng chư Phật xuất hiện trên thế gian. Hoặc có chúng sinh ở chợ búa, cần người khiêng vác đồ đạc, con luôn là người đầu tiên khiêng vác, đến nơi cần đến, đặt đồ xuống rồi đi, không lấy tiền công. Khi Phật Tỳ Xá Phù xuất hiện trên thế gian, thế gian xảy ra nạn đói kém. Con đã khiêng vác đồ ăn cho người khác, bất kể xa gần, chỉ lấy một đồng tiền. Hoặc có xe bò sa lầy, con dùng thần lực đẩy bánh xe, cứu giúp họ thoát khỏi khổ nạn. Lúc đó, vua nước ấy thiết lập đại hội cúng dường Phật. Lúc ấy Con đã san mặt đất bằng phẳng để đón Phật. Phật Tỳ Xá Phù xoa đầu con và nói: ‘Con nên san bằng tâm địa, thì thề giới tất cả sẽ bằng phẳng.’ Lập tức, tâm con được khai mở, thấy các hạt bụi trong thân thể, không khác gì các hạt bụi tạo thành thế giới. Tự tánh của các hạt bụi, là không tiếp xúc, cho đến vũ khí đao binh cũng không chỗ chạm vào. Con đối với pháp tánh, đã ngộ ra tính không sinh của pháp (vô sanh pháp nhẫn), thành tựu quả vị A La Hán. Sau đó, con hồi tâm quay lại vị trí Bồ tát. Nghe các Như Lai tuyên thuyết cảnh giới tri kiến Phật về diệu liên hoa, con đã chứng minh trước tiên và là người đứng đầu. Khi Phật hỏi về phương tiện viên thông, Con dùng cách quán sát kỹ lưỡng hai trần thân và giới, không có sự khác biệt, vốn là Như Lai tạng, hư vọng sinh ra các trần, khi bụi trần tan thì trí tuệ viên mãn, thành tựu đạo vô thượng, đây là tối thượng.
05-32 Thủy đại viên thông
Nguyệt Quang Đồng Tử liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ chân Phật, bạch rằng: “Con nhớ lại trong quá khứ hằng hà sa kiếp, có Phật xuất thế hiệu là Thủy Thiên, Ngài dạy các Bồ tát tu tập quán nước, nhập vào tam ma địa. Quán chiếu trong thân thể, tính chất của nước không hề thay đổi. Bắt đầu từ nước mắt, nước bọt, rồi đến hết cả dịch thể, tinh huyết, đại tiểu tiện, trong thân thể đều tuần hoàn, tính chất của nước hoàn toàn giống nhau. Con thấy nước trong thân thể mình không khác gì nước trong các biển hồ, các tòa tháp trang nghiêm ở thế giới bên ngoài. Lúc đó, con mới bắt đầu chứng ngộ được pháp quán này. Nhưng con chỉ thấy được nước nhưng chưa đắc không có thân thể. Khi làm Tỳ kheo, con ngồi thiền trong phòng. Có một đệ tử của con nhìn trộm vào phòng, chỉ thấy nước đầy khắp phòng, không thấy gì khác. Đứa trẻ không hiểu chuyện, lấy một viên sỏi ném vào nước, làm nước tạo ra tiếng động, rồi quay đi. Khi con xuất định, đột nhiên cảm thấy đau tim, giống như Xá Lợi Phất bị quỷ làm hại. Con tự suy nghĩ, bây giờ con đã đạt được quả vị A La Hán, từ lâu đã rời xa các căn bệnh, tại sao hôm nay lại đột nhiên đau tim, chẳng lẽ sắp mất đi quả vị. Lúc đó, đứa trẻ chạy đến trước mặt con, kể lại sự việc như trên. Con bảo nó: ‘Con hãy nhìn lại xem còn thấy nước không, nếu thấy thì mở cửa ra, vào trong nước lấy viên sỏi ra.’ Đứa trẻ làm theo lời con. Sau khi vào định, lại thấy nước và viên sỏi như cũ, mở cửa ra lấy viên sỏi ra. Sau khi xuất định, thân thể con trở lại như cũ. Con đã gặp vô lượng chư Phật, cho đến khi gặp đức Sơn Hải Tự Tại Thông Vương Như Lai, mới có thể diệt trừ thân thể, hợp nhất với tính không của các biển hồ khắp mười phương, không có sự khác biệt. Bây giờ con được Phật đặt tên là Đồng Chân, tham dự hội Bồ tát. Khi Phật hỏi về phương tiện viên thông, ‘Con dùng cách quán chiếu tính chất của nước lưu thông một cách đồng nhất một vị, đạt được vô sinh nhẫn, viên mãn Bồ đề, đây là tối thượng.
05-33 Phong đại viên thông
Pháp vương tử Lư Ly Quang, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, chắp tay lễ chân Phật, mà bạch Phật rằng: Con nhớ lại trong quá khứ, trải qua vô số kiếp, có một vị Phật xuất hiện, tên là Vô Lượng Thanh. Ngài khai thị cho Bồ tát về bản giác diệu minh. Con quan sát thế giới này và thân thể của chúng sinh, đều là do gió nghiệp vọng duyên vận hành. Lúc ấy, con quan sát thế giới an lập, quan sát thế giới chuyển động, quan sát thân thể động tĩnh, quan sát tâm động niệm, mọi sự động đều không có hai, đều bình đẳng không khác biệt. Lúc ấy, con giác ngộ được tính chất của mọi sự động này, không có nơi bắt đầu, không có nơi kết thúc. Mọi chúng sinh điên đảo trong mười phương vi trần thế giới, đều là hư vọng. Như vậy cho đến tất cả chúng sanh trong một tam thiên đại thiên thế giới, giống như trong một cái bình chứa đầy muỗi, chúng kêu rít loạn xạ trong không gian nhỏ hẹp. Gặp được Phật không lâu, con đã chứng đắc vô sinh nhẫn. Lúc ấy, tâm con khai mở, thấy được cõi Phật bất động ở phương Đông, làm pháp vương tử, hầu hạ mười phương Phật. Thân tâm phát quang, thông suốt vô ngại. Phật hỏi về pháp môn viên thông, con quán sát sức gió không có chỗ nương tựa, ngộ được Bồ đề tâm, vào tam ma địa, cùng với mười phương Phật truyền một pháp tâm diệu, đó là pháp môn tối thượng.
05-34 Không đại viên thông
Bồ tát Hư Không Tạng, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, chắp tay lễ chân Phật, và bạch Phật rằng: Con cùng với Như Lai, ở nơi Định Quang Phật, đắc vô biên thân. Lúc ấy, con cầm bốn viên ngọc quý chiếu sáng mười phương vi trần thế giới Phật, hóa thành hư không. Lại trong tâm con hiện ra kính tròn lớn (đại viên cảnh), bên trong phát ra mười loại ánh sáng báu vi diệu, chiếu khắp mười phương hư không, tất cả các cõi Phật đều hiện vào trong gương, nhập vào thân con. Thân con đồng với hư không, không hề ngăn trở. Thân con có thể tự do vào các thế giới nhỏ bé như hạt bụi, rộng rãi làm Phật sự, đạt được sự tùy thuận lớn. Thần lực lớn lao này, là do con quán sát kỹ bốn đại không có chỗ nương tựa, vọng tưởng sinh diệt, hư không không có hai, cõi Phật vốn là một. Từ sự giống nhau này mà sáng tỏ, con chứng đắc vô sinh nhẫn. Phật hỏi về pháp môn viên thông, Con quán sát hư không vô biên, vào tam ma địa, thần lực viên mãn, đó là pháp môn tối thượng.
05-35 Thức đại viên thông
Bồ tát Di Lặc, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, chắp tay lễ chân Phật, và bạch Phật rằng: Con nhớ lại trong quá khứ, trải qua vô số kiếp, có một vị Phật xuất hiện, tên là Nhật Nguyệt Đăng Minh. Con đã theo đức Phật ấy mà được xuất gia. Lúc ấy, con rất coi trọng danh tiếng thế gian, thích đi lại giữa các gia tộc. Khi đó, Thế Tôn đã dạy con tu tập định về duy thức, nhập vào tam muội. Trải qua vô số kiếp, con đã dùng tam muội này để hầu hạ vô số Phật. Tâm muốn cầu danh tiếng đã hoàn toàn tiêu diệt. Đến khi Đức Phật Nhiên Đăng xuất hiện trên thế gian, con mới đạt được tam muội vô thượng vi diệu tâm thức viên mãn. Cho đến sự tịnh uế có không của tận hư không cõi Phật, đều là do tâm con biến hóa mà thành. Bạch Thế Tôn, con đã hiểu rõ như vậy về tâm duy thức, nên từ tánh của thức đã tuôn ra vô lượng vị Như Lai. Nay con được thọ ký, sẽ kế thừa vị trí của Phật. Phật hỏi về pháp môn viên thông, Con quán sát kỹ mười phương duy thức, tâm thức viên mãn, nhập vào viên thành thực, xa lìa hẳn sự nương tựa vào cái khác và sự chấp trước biến khắp, chứng đắc vô sinh nhẫn, đó là pháp môn tối thượng.
05-36 Căn đại viên thông
Pháp vương tử Đại Thế Chí, cùng với năm mươi hai vị Bồ tát đồng học, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, chắp tay lễ chân Phật, mà bạch Phật rằng: Con nhớ lại trong quá khứ, trải qua vô số kiếp, có một vị Phật xuất hiện, tên là Vô Lượng Quang. Mười hai vị Như Lai kế tiếp nhau trong một kiếp. Vị Phật cuối cùng tên là Siêu Nhật Nguyệt Quang. Đức Phật ấy đã dạy con niệm Phật tam muội. Ví như có hai người, một người chuyên nhớ, một người chuyên quên. Hai người như vậy, dù gặp hay không gặp, dù thấy hay không thấy, nếu hai người cùng nhớ nhau, thì hai niệm nhớ đó sẽ sâu sắc, từ kiếp này sang kiếp khác, giống như hình với bóng, không bao giờ tách rời. Mười phương Như Lai thương xót nhớ niệm chúng sinh, như mẹ nhớ con. Nếu đứa con bỏ trốn, dù mẹ có nhớ thì có ích gì. Nếu đứa con nhớ mẹ như mẹ nhớ con, thì mẹ con qua nhiều kiếp cũng không xa cách. Nếu tâm của chúng sinh nhớ Phật, niệm Phật, thì hiện tại và tương lai chắc chắn sẽ gặp được Phật. Cách Phật không xa, không cần phương tiện đặc biệt mà tự nhiên tâm sẽ khai ngộ. Giống như người bị dính mùi hương, trên người sẽ có mùi hương. Đây gọi là hương quang trang nghiêm. Con vốn dĩ nhờ tâm niệm Phật mà vào được vô sinh nhẫn. Nay ở cõi này, con thu nhiếp những người niệm Phật về cõi tịnh độ. Phật hỏi về pháp môn viên thông, con không chọn lựa gì cả, chỉ thuần túy tập trung sáu căn vào niệm Phật tịnh niệm tương tục, đạt được tam muội, đó là pháp môn tối thượng.
Lúc ấy, Bồ tát Quán Thế Âm, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, chắp tay lễ chân Phật, và bạch Phật rằng: Thế Tôn, con nhớ lại trong quá khứ, trải qua vô số kiếp, có một vị Phật xuất hiện trên thế gian, tên là Quán Thế Âm. Con đã nơi vị Phật đó phát tâm Bồ đề. Đức Phật ấy đã dạy con từ việc nghe, suy nghĩ và thực hành mà vào được tam ma địa. Ban đầu, khi nghe, con đã nhập vào nơi tiêu diệt các dòng chảy. Khi đã nhập vào sở thì liền tịch tịnh, cả hai tướng động và tĩnh đều không sinh khởi. Cứ như vậy mà tăng trưởng dần. Khi nghe hết những gì cần nghe, không còn dừng lại ở chỗ đã nghe. Khi giác ngộ hết những gì cần giác ngộ, thì cái giác ngộ đó cũng trống rỗng viên mãn. Khi cái trống rỗng đó cũng tiêu diệt, thì sinh diệt cũng tiêu diệt, tịch diệt hiện tiền. Bỗng nhiên vượt qua thế gian và xuất thế gian, mười phương viên minh, đạt được hai điều thù thắng. Thứ nhất, trên hợp nhất với tâm bản giác vi diệu của chư Phật mười phương, cùng với Phật Như Lai cùng một lực từ tâm như nhau. Thứ hai, dưới hợp nhất với tất cả chúng sinh sáu đường trong mười phương, cùng với các chúng sinh cùng một lòng bi mẫn như nhau.
06-02 Thế Tôn, con đã từng cúng dường cho Phật Quán Thế Âm. Nhờ ơn đức của Như Lai, truyền thọ cho con Kim Cang tam muội như huyễn huân tập tánh nghe tu tánh nghe, có cùng lực từ bi như Phật Như Lai, khiến thân thể con có thể biến hóa thành ba mươi hai tướng, đi vào trong các cõi.
Thế Tôn, nếu các Bồ tát vào tam ma địa, tinh tấn tu tập không còn phiền não, hiểu rõ thù thắng cảnh giới viên mãn hiền tiền, con sẽ hiện thân Phật để thuyết pháp cho họ, khiến họ giải thoát. Nếu các vị hữu học, đạt đến sự tĩnh lặng và sáng suốt vi diệu, chân lý vi diệu viên mãn hiện tiền, con sẽ hiện thân Độc giác ở trước họ, mà vì họ thuyết pháp, khiến họ giải thoát. Nếu các vị hữu học, đoạn diệt mười hai nhân duyên, duyên đoạn thì bản tính thù thắng của họ hiển lộ viên mãn vi diệu, con sẽ hiện thân Duyên Giác ở trước họ, mà vì họ thuyết pháp, khiến họ giải thoát. Nếu các vị hữu học, chứng ngộ tứ đế là không, tu hành để nhập vào diệt đạo, bản tính thù thắng của họ hiển lộ viên mãn, con sẽ hiện thân Thanh văn ở trước họ mà vì họ thuyết pháp, khiến họ giải thoát. Nếu các chúng sanh, muốn tâm trí sáng suốt, không phạm vào các phiền não dục trần, muốn thân thể thanh tịnh, con sẽ hiện thân Phạm Vương ở trước họ, vì họ thuyết pháp, khiến họ giải thoát. Nếu các chúng sinh, muốn trở thành chủ trời, thống lĩnh các thiên thần, con sẽ hiện thân Đế Thích ở trước họ, vì họ thuyết pháp, khiến họ thành tựu. Nếu có chúng sinh, muốn thân thể tự tại, đi lại khắp mười phương, con sẽ hiện thân Tự Tại Thiên ở trước họ, mà vì họ thuyết pháp, khiến họ thành tựu. Nếu các chúng sinh, muốn thân thể tự tại bay lượn trong hư không, con sẽ hiện thân Đại Tự tại Thiên ở trước họ, vì họ thuyết pháp, khiến họ thành tựu.
Nếu các chúng sinh yêu thích thống lĩnh quỷ thần, bảo vệ cõi nước, con sẽ hiện thân Thiên đại tướng quân ở trước họ, mà vì họ thuyết pháp, khiến họ thành tựu. Nếu các chúng sinh yêu thích thống trị thế giới, bảo vệ chúng sinh, con sẽ hiện thân Tứ thiên vương ở trước họ, mà vì họ thuyết pháp, khiến họ thành tựu. Nếu các chúng sinh yêu thích sinh sống ở thiên cung, điều khiển quỷ thần, con sẽ hiện thân Tứ thiên vương quốc thái tử ở trước họ mà vì họ thuyết pháp, khiến họ thành tựu. Nếu các chúng sinh, muốn làm vua cõi người, con sẽ hiện thân Nhân vương ở trước họ, mà vì họ thuyết pháp, khiến họ thành tựu. Nếu các chúng sinh, yêu thích làm chủ gia tộc, được mọi người tôn trọng, con sẽ hiện thân Trưởng giả ở trước họ, mà vì họ thuyết pháp, khiến họ được thành tựu. Nếu các chúng sinh, yêu thích nói những lời hay lẽ phải, tự sống đời trong sạch, con sẽ hiện thân cư sĩ ở trước họ, mà vì họ thuyết pháp, khiến họ thành tựu. Nếu chúng sinh nào yêu thích cai trị quốc gia, phân chia lãnh thổ, con sẽ hiện thân Tể quan ở trước họ, mà vì họ thuyết pháp, khiến họ thành tựu. Nếu các chúng sinh, yêu thích các phép tính toán, bảo vệ bản thân, con sẽ hiện thân Bà la môn ở trước họ, mà vì họ thuyết pháp, khiến họ thành tựu. Nếu có người đàn ông nào thích học hỏi, xuất gia, giữ các giới luật, con sẽ hiện thân Tỳ kheo ở trước họ, mà vì họ thuyết pháp, khiến họ thành tựu. Nếu có người phụ nữ nào thích học hỏi, xuất gia, giữ các cấm giới, con sẽ hiện thân Tỳ kheo ni ở trước họ, mà vì họ thuyết pháp, khiến họ thành tựu. Nếu có người đàn ông nào thích giữ năm giới, con sẽ hiện thân Ưu bà tắc ở trước họ, mà vì họ thuyết pháp, khiến họ thành tựu. Nếu có người phụ nữ nào giữ năm giới, con sẽ hiện thân Ưu bà di ở trước họ, mà vì họ thuyết pháp, khiến họ thành tựu. Nếu có phụ nữ nào chăm lo việc nhà, xây dựng gia đình và đất nước, con sẽ ở trước họ hiện thân Nữ vương, Quốc phu nhân, mệnh phụ hoặc đại gia, mà vì họ thuyết pháp, khiến họ thành tựu. Nếu có chúng sanh, không hư hoại nam căn, con sẽ ở trước họ hiện thân Đồng nam, mà vì họ thuyết pháp, khiến họ thành tựu. Nếu có trinh nữ nào yêu thích cuộc sống thanh tịnh, không muốn bị xâm hại, con sẽ ở trước họ hiện thân Đồng nữ, mà vì họ thuyết pháp, khiến họ thành tựu. Nếu có các Thiên thần nào muốn thoát khỏi cõi trời, con sẽ hiện thân Thiên thần mà vì họ thuyết pháp, khiến họ thành tựu. Nếu có các loài rồng, muốn thoát khỏi cõi rồng, con sẽ hiện thân Long vương mà vì họ thuyết pháp, khiến họ thành tựu. Nếu có các Dược Xoa nào, muốn thoát khỏi cõi thân dược xoa, con sẽ hiện thân Dược Xoa mà vì họ thuyết pháp, khiến họ thành tựu. Nếu có Càn Thát Bà nào muốn thoát khỏi cõi đó, con sẽ hiện thân Càn Thát Bà mà vì họ thuyết pháp, khiến họ thành tựu. Nếu có các A Tu La nào muốn thoát khỏi cõi A Tu La, con sẽ ở trước họ hiện thân A Tu La, mà vì họ thuyết pháp, khiến họ thành tựu. Nếu có Khần Na La nào muốn thoát khỏi cõi đó, con sẽ hiện thân Khẩn Na La, mà vì họ thuyết pháp, khiến họ thành tựu. Nếu có Na hầu la dà nào muốn thoát khỏi cõi đó, con sẽ hiện thân Ma hầu la dà, mà vì họ thuyết pháp, khiến họ thành tựu. Nếu các chúng sinh, thích cõi người muốn tu hành theo đạo làm người, con sẽ hiện thân người mà vì họ thuyết pháp, khiến họ thành tựu. Nếu các loài phi nhân, có hình hay không hình, có ý thức hay vô ý thức, muốn thoát khỏi cõi của mình, con sẽ ở trước họ hiện thân theo hình dạng của họ, mà vì họ thuyết pháp, khiến họ thành tựu. Đó gọi là ba mươi hai ứng hóa thân thanh tịnh diệu kỳ, hiện thân trong các cõi nước. Tất cả đều nhờ vào sức mạnh thần thông không tạo tác, được tự tại thành tựu nhờ tam muội nghe, suy nghĩ và thực hành.
06-03 Thế Tôn, con lại dùng sức vi diệu Kim Cang tam muội không tạo tác, phương pháp tu tập dựa trên việc nghe, suy nghĩ và thực hành như ảo ảnh này, vì cùng với tất cả chúng sinh trong mười phương, ba đời, sáu đạo có cùng lòng bi mẫn, nên khiến cho các chúng sinh, ở nơi thân tâm con, có được mười bốn loại công đức vô úy.
Thứ nhất, do con không tự quan sát âm thanh mà quan sát tánh nghe, nên khiến cho các chúng sinh đang chịu khổ đau trong mười phương, quán âm thanh của họ, liền được giải thoát.
Thứ hai, sự thấy biết xoay chuyển vào trong, khiến cho các chúng sinh dù rơi vào lửa lớn, lửa cũng không thể thiêu đốt.
Thứ ba, quán nghe xoay chuyển vào trong, khiến cho các chúng sinh dù bị nước lớn cuốn trôi, nước cũng không thể làm cho họ chìm.
Thứ tư, đoạn diệt vọng tưởng, tâm không sát hại, khiến các chúng sinh, dù vào các cõi quỷ, quỷ cũng không thể làm hại.
Thứ năm, huân tập nghe thành tánh nghe, sáu căn tiêu tan, đồng nhất với âm thanh, có thể khiến cho chúng sinh khi sắp bị hại, vũ khí đứt đoạn hư hoại, khiến cho binh khí giống như cắt nước, cũng như thổi vào ánh sáng, bản tánh không dao động.
Thứ sáu, nhờ nghe và huân tập tinh tấn rõ ràng, trí tuệ chiếu khắp pháp giới, thì các chúng ác quỷ không thể toại lòng, có thể khiến chúng sanh như quỷ Dược Xoa, La Sát, Cưu Bàn Trà, cho đến Tỳ xá gia, phú đơn na vv… mặc dù ở gần bên cạnh, nhưng chúng không thể nhìn thấy được.
Thứ bảy, âm và tánh hoàn toàn tiêu vong, quan sát nghe trở về bản thể, rời xa mọi vọng trần, có thể khiến cho chúng sinh, mọi sự trói buộc và xiềng xích đều không thể ràng buộc.
Thứ tám, âm thanh tiêu tan, tánh nghe trọn vẹn, sức từ lan tỏa khắp nơi. Nhờ đó có thể khiến chúng sinh, dù đi qua những con đường hiểm trở, giặc không thể cướp.
Thứ chín, huân tập nghe lìa trần, không bị sắc ràng buộc, có thể khiến cho tất cả chúng sinh nhiều dục vọng xa lìa tham dục.
Thứ mười, âm thanh thuần khiết không chút bụi trần, căn và cảnh viên mãn dung hòa, không có đối tượng và đối lập. Có thể khiến tất cả chúng sinh sân hận đều lìa xa sân hận.
Thứ mười một, tiêu diệt trần xoay chuyển hiển hiện ánh sáng, pháp giới thân tâm, trong sáng như pha lê, sáng tỏ không trở ngại. Có thể khiến tất cả chúng sinh ngu si, bị vô minh che chướng, vĩnh viễn lìa xa si ám.
Thứ mười hai, hình tướng dung hòa khôi phục tánh nghe, đạo tràng bất động, gia nhập vào thế gian. Không phá hoại thế giới, có thể khắp mười phương cúng dường vô số chư Phật Như Lai. Ở bên cạnh mỗi vị Phật đều làm pháp vương tử. Có thể khiến tất cả chúng sinh trong pháp giới không có con, muốn cầu con trai, thì sinh ra con trai có phước đức và trí tuệ.
Thứ mười ba, sáu căn viên thông, sáng chiếu không hai, bao hàm mười phương thế giới. Lập ra đại viên kính không Như Kai tạng. Thừa kế tùy thuận mười phương vô số Như Lai. Pháp môn bí mật, tiếp nhận không sai lầm. Có thể khiến tất cả những chúng sinh trong pháp giới không có con, nếu muốn cầu con gái, thì sinh ra con gái có tướng xinh đẹp đoan chánh phước đức, dịu dàng, được mọi người yêu mến.
Thứ mười bốn, trong tam thiên đại thiên thế giới này, có hàng trăm tỷ mặt trời mặt trăng, các pháp vương tử hiện tại trụ ở thế gian, có sáu mươi hai hằng hà sa số, tu pháp làm gương, giáo hóa chúng sinh, tùy thuận chúng sanh, mà dùng những phương pháp và trí tuệ khác nhau để giáo hóa. Do con đạt được viên thông bản căn, phát khởi tánh nghe vi diệu. Sau đó, thân và tâm vi tế bao trùm, biến khắp pháp giới. Có thể khiến chúng sinh trì danh hiệu của con, cùng với việc trì danh hiệu của sáu mươi hai hàng hà sa vị pháp vương khác, công đức của hai người, là hoàn toàn bình đẳng không sai khác. Thế Tôn, một danh hiệu của con, không khác gì nhiều danh hiệu của họ. Nhờ con tu tập mà đạt được viên thông chân thật. Đây gọi là sức mạnh thứ mười bốn, ban cho chúng sinh sự không sợ hãi, đầy đủ phước báo.
06-04 Thế Tôn. Con lại được viên thông này, nên tu chứng vô thượng đạo, lại cũng có thể khéo được bốn điều không thể nghĩ, không tạo tác diệu đức.
Một là: Do con lúc đầu đạt được tâm nghe vi diệu, tâm tinh anh bỏ đi những gì đã nghe, thấy, nghe giác biết đều không thể phân cách, thành một thanh tịnh bảo giác viên dung. Vì vậy, con có thể hiện ra nhiều hình tướng diệu kỳ, có thể nói vô lượng thần chú bí mật. Trong đó có thể hiện một đầu, ba đầu, năm đầu, bảy đầu, chín đầu, mười một đầu, như vậy cho đến một trăm lẻ tám đầu, ngàn đầu, vạn đầu, tám vạn bốn ngàn đầu của chúng sanh. Hai tay, bốn tay, sáu tay, tám tay, mười tay, mười hai tay, mười bốn tay, mười sáu tay, mười tám tay, hai mươi tay cho đến hai mươi bốn tay, như vậy cho đến một trăm lẻ tám tay, ngàn tay, vạn tay, tám vạn bốn ngàn tay. Hai mắt, ba mắt, bốn mắt, chín mắt. Như vậy cho đến một trăm lẻ tám mắt, ngàn mắt, vạn mắt, tám vạn bốn ngàn mắt bảo thanh tịnh. Hoặc từ bi hoặc uy nghiêm. Hoặc định hoặc tuệ. Cứu hộ chúng sinh. Đạt được đại tự tại.
Hai là, Do con nghe và tư duy, thoát khỏi sáu trần, như âm thanh vượt qua bức tường thấp, không thể trở thành trở ngại. Vì vậy, con khéo có thể hiện ra từng hình tướng một, tụng từng thần chú một. Hình tướng và thần chú đó, có thể ban cho chúng sinh sự vô úy (không sợ hãi). Vì vậy, trong mười phương vi trần thế giới, đều gọi con là Thí Vô Úy.
Ba là, Do con tu tập căn bản diệu viên thông thanh tịnh vốn có. Ở bất cứ thế giới nào con đi đến, đều khiến chúng sinh xả thân và báu vật, cầu xin con thương xót.
Bốn là, Con đạt được tâm Phật, chứng đắc đến cùng (cứu cánh). Có thể dùng đủ loại báu vật cúng dường mười phương Như Lai, và cả chúng sinh sáu đạo trong pháp giới. Cầu xin vợ được vợ, cầu con được con. Cầu tam muội được tam muội. Cầu trường thọ được trường thọ. Như vậy cho đến cầu được đại Niết bàn thì được đại Niết bàn.
Phật hỏi viên thông, con từ cửa tai viên chiếu tam muội, duyên tâm tự tại, do nhập lưu tướng, được tam ma đề, thành tựu Bồ đề, đây là thứ nhất.
06-05 Thế Tôn. Đức Phật Như Lai tán thán con khéo được pháp môn viên thông. Trong đại hội, ban cho con danh hiệu Quan Thế Âm. Do con quan sát nghe mười phương viên minh, nên danh hiệu Quan Thế Âm vang khắp mười phương giới.
06-06 Lúc ấy, Thế Tôn ngồi trên tòa sư tử, từ thân thể Ngài tỏa ra năm loại ánh sáng báu, xa quán đảnh mười phương vi trần Như Lai, và các Bồ Tát cho đến các Pháp Vương Tử. Các Như Lai ấy cũng từ thân thể tỏa ra năm loại ánh sáng báu, từ phương vi trần đến chiếu lên đỉnh đầu Phật, và chiếu lên các đại Bồ tát và A-la-hán trong hội chúng. Rừng cây, ao hồ đều diễn tấu pháp âm. Ánh sáng giao nhau như mạng lưới châu báu, tất cả chúng sinh đều được những điều chưa từng có. Tất cả đều đạt được Kim Cang tam muội. Lúc ấy, trời mưa trăm loại hoa sen báu, xanh, vàng, đỏ, trắng, đan xen lẫn lộn. Mười phương hư không trở thành màu sắc bảy báu. Thế giới Ta bà này, đại địa núi sông, đều không hiện ra. Chỉ thấy mười phương vi trần thế giới, hợp thành một thế giới. Tiếng phạm tụng niệm, ca hát vang lên tự nhiên.
06-07 Lúc ấy, Thế Tôn nói với Văn Thù Sư Lợi pháp vương tử.
Nay ông hãy quan sát hai mươi lăm vị đại Bồ-tát vô học và các A-la-hán, mỗi vị đều nói về phương tiện chứng đắc đạo quả ban đầu, đều nói đến việc tu tập viên thông chân thật. Việc tu hành của họ, thật sự không có ưu việt, trước sau khác biệt. Nay ta muốn khiến A-nan khai ngộ, trong hai mươi lăm hạnh này, cái nào phù hợp với căn cơ của Anan. Cùng với đó, sau khi ta diệt độ, chúng sinh trong thế giới này, vào Bồ-tát thừa cầu đạo vô thượng, thì môn phương tiện nào dễ thành tựu.
06-08 Văn thù lựa chọn viên thông
Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử, vâng theo ý chỉ từ bi của Phật, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, chắp tay lạy chân Phật, nương sức oai thần của Phật dùng kệ tụng thưa Phật rằng:
Tánh giác viên minh,
Tánh giác vốn vi diệu,
Vốn sáng chiếu khắp nơi,
Lập chỗ thì bỏ quên tánh chiếu,
Mê vọng nên có hư không,
Y không lập thế giới,
Vọng tưởng thành cõi nước,
Tri giác cho đến chúng sanh,
Trong đại giác sanh không,
Như một bong bóng biển,
Hữu lậu vi trần cõi,
Đều y không mà sanh,
Bọt bóng diệt không vốn không,
Hà huống các cõi trong tam hữu.
Quay về tánh vốn không hai,
Phương tiện có nhiều môn,
Bổn tánh Thánh nhân không gì không thông đạt,
Thuận nghịch đều là phương tiện,
Sơ tâm vào tam muội,
Nhanh chậm vốn không đồng.
Sắc tưởng kết thành trần,
Tự tánh không thấu triệt,
Không thể làm sáng tỏ,
Làm sao được viên thông.
Âm thanh xen lẫn ngôn ngữ,
Chỉ ý vị danh cú,
Một chẳng hàm tất cả,
Làm sao được viên thông.
Hương phải chạm mũi mới biết,
Tách rời thì không tồn tại,
Sở giác căn trần không thường hằng,
Làm sao đạt được viên thông.
Tánh vị chẳng phải bổn nhiên,
Lúc nếm vị mới có,
Vị giác của nó không thường hằng hợp nhất,
Làm sao đạt được viên thông.
Xúc có chạm mới biết rõ,
Không vật chạm thì không có xúc,
Tánh hợp lìa chẳng nhất định,
Làm sao đạt được viên thông.
Pháp gọi là nội trần,
Nương trần tất có sở,
Năng sở chẳng biến khắp,
Làm sao được viên thông.
Tánh thấy tuy cùng rõ,
Thấy trước không thấy sau,
Bốn phương mất một nữa,
Làm sao được viên thông.
Mũi thông hơi thở ra vào,
Chặng giữa hơi không giao khí,
Thở ra thì không vào,
Thở vào thì không ra,
Không liên quan đến nhau,
Làm sao được viên thông.
Lưỡi chẳng phải vào không lí do,
Nhân vị sanh giác biết,
Vị mất không và có,
Làm sao được viên thông.
Thân và chỗ tiếp xúc đồng nhau,
Mỗi mỗi chẳng phải giác quán viên mãn,
Hợp lìa không nhất định, làm sao được viên thông.
Căn Biết tạp tư loạn,
Rốt ráo không thấy tự tánh,
Tưởng nhớ không rời trần,
Làm sao được viên thông.
Thức thấy hòa xen ba thứ,
Xét tận cùng gốc rễ gọi là phi tướng,
Tự thể trước vốn không nhất định,
Làm sao được viên thông.
Tâm nghe rõ mười phương,
Do nơi sức đại lực sanh tất cả các pháp,
Người sơ tâm không thể vào,
Làm sao được viên thông.
Tỉ tưởng vốn quyền cơ,
Vì khiến nhiếp tâm an trụ,
Trụ thành tâm sở trụ,
Làm sao được viên thông.
Thuyết pháp chỉ sắp xếp âm thanh chữ viết,
Người khai ngộ thành tựu trước,
Danh cú chẳng vô lậu,
Làm sao được viên thông.
Trì phạm chị buộc thân,
Không phải thân thì không thể trói,
Vốn chẳng biến khắp tất cả,
Làm sao được viên thông.
Thần thông vốn nhân đời trước,
Đâu liên quan gì pháp trần phân biệt,
Niệm duyên chẳng lìa vật,
Làm sao được viên thông.
Nếu quán tánh đại địa,
Kiên cố chướng ngại không thông đạt,
Hữu vi chẳng phải tánh Thánh,
Làm sao được viên thông.
Nếu quán tánh của nước,
Nhớ nghĩ chẳng chân thật,
Tự tánh chẳng giác quán,
Làm sao được viên thông.
Nếu quan sát tánh lửa,
Chán ghét cõi hữu chẳng thật lìa,
Chỉ là phương tiện người sơ tâm,
Làm sao được viên thông.
Nếu quan sát tánh gió,
Động tĩnh đều đối lập,
Đối lập chẳng phải vô thượng giác,
Làm sao được viên thông.
Nếu quan sát tánh không,
Ám độn chẳng biết trước,
Không biết chẳng phải bồ đề,
Làm sao được viên thông.
Nếu quan sát tánh thức,
Quán thức chẳng thường trụ,
Lưu tâm đều hư vọng,
Làm sao được viên thông.
Các hành là vô thường,
Niệm tánh vốn sanh diệt,
Nhân quả nay cảm thọ,
Làm sao được viên thông.
Con nay bạch Thế Tôn,
Phật xuất hiện cõi Ta Bà,
Nơi đây lập giáo thể chân thật,
Thanh tịnh nơi nói nghe,
Muốn chứng tam ma đề,
Thật nên lấy tánh nghe để vào,
Lìa khổ được giải thoát,
Lành thay Quán Thế Âm.
Ở trong kiếp hằng sa,
Vào vi trần cõi Phật,
Được sức đại tự tại,
Vô úy thí chúng sanh,
Diệu Âm Quán Thế Âm,
Phạm Âm Hải triều âm,
Cứu thế thảy an vui,
Xuất thế được thường trụ.
Con nay bạch Như Lai,
Như Quan Thế Âm đã nói,
Ví như người tịnh cư,
Mười phương đều đánh trống.
Mười phương cùng lúc nghe,
Nên đây thật viên mãn,
Mắt nếu bị ngăn che sẽ không thấy bên ngoài,
Miệng mũi cũng như vậy,
Thân do chạm mới biết,
Ý niệm luôn lăng xăng không đầu mối,
Cách tường thành nghe âm thanh,
Xa gần đều nghe được,
Năm căn không sánh bằng,
Cho nên thật thông đạt,
Âm thanh có động tĩnh,
Nghe lúc có lúc không,
Không tiếng gọi là không nghe,
Chẳng phải tánh nghe hoàn toàn không,
Tiếng mất tánh nghe không mất,
Có tiếng tánh nghe cũng không sanh,
Lìa hai tướng sanh diệt,
Thì tánh nghe chân thật luôn thường trụ,
Cho dù lúc mơ ngủ,
Không tạo tác cũng không suy nghĩ,
Giác quán vượt tư duy,
Thân tâm không sánh bì,
Nay ở cõi Ta Bà,
Nhờ âm thanh bàn luận nghĩa lí được sáng tỏ,
Chúng sanh mê tánh nghe,
Chạy theo âm thanh nên lưu chuyển,
A Nan dù có trí nhớ siêu phàm,
Cũng không tránh khỏi rơi vào tà niệm.
Chẳng phải vì theo nên chìm đắm,
Xoay dòng thì được không hư vọng.
A Nan, ông hãy lắng nghe kỹ,
Ta nương oai lực của Phật,
Tuyên thuyết về Kim Cang Vương,
Như huyễn, không thể nghĩ bàn.
Phật mẫu chân tam muội,
Ông đã từng nghe về vi trần Phật,
Tất cả các cửa bí mật,
Dục lậu chưa trừ bỏ trước.
Nghe trở thành lỗi lầm,
Đem cái nghe trì nhớ giáo nghĩa chư Phật,
Sao không nghe tự tánh,
Nghe chẳng phải tự nhiên sinh ra,
Do âm thanh mà có tên gọi,
Xoay chuyển cái nghe lìa khỏi âm thanh,
Có thể lìa khỏi dục gọi là gì?
Một căn đã trở về nguồn,
Sáu căn đều được giải thoát,
Thấy nghe như hoa đốm mắt,
Tam giới như hoa giữa hư không,
Nghe rồi lại trừ bỏ căn bị che mờ.
Trần tiêu, giác viên tịnh, Tịnh cùng cực,
Ánh sáng thông suốt, Tịch chiếu hàm hư không.
Rồi lại quán sát thế gian,
Giống như sự việc trong giấc mộng.
Ma Đăng Già ở trong mộng,
Ai có thể giữ được hình dáng của ông?
Như thế gian có vị ảo thuật sư khéo léo,
Huyễn hóa ra các hạng người nam nữ,
Tuy thấy các căn đều hoạt động,
Nhưng phải dùng một cơ máy để điều khiển.
Khi cơ máy ngừng hoạt động thì trở về tịch nhiên,
Các huyễn hóa đều trở thành vô tính.
Sáu căn cũng như thế,
Vốn nương vào một tự tánh,
Phân thành sáu hòa hợp.
Một chỗ thành phục hồi,
Sáu dụng đều không thành.
Trần cấu ứng niệm tiêu tan,
Thành viên minh tịnh diệu.
Trần còn lại vẫn còn là những điều phải học,
Sáng suốt tột cùng chính là Như Lai.
Đại chúng và A Nan,
Hãy xoay chuyển cái nghe đảo lộn của các ông,
Quay trở lại lắng nghe tự tánh,
Tự tánh thành đạo vô thượng.
Viên thông thực sự là như vậy.
Đây là vi trần Phật,
Là con đường Niết Bàn duy nhất.
Chư Như Lai trong quá khứ,
Đã thành tựu cánh cửa này.
Chư Bồ Tát hiện tại, Nay đều vào viên minh.
Người tu học trong tương lai, Nên y theo pháp này.
Ta cũng từ đó chứng ngộ, Không chỉ riêng Quán Thế Âm.
Thật đúng như lời Phật Thế Tôn,
Hỏi ta về các phương tiện,
Để cứu độ những kiếp mạt,
Người cầu xuất thế gian,
Thành tựu tâm Niết Bàn,
Quán Thế Âm là bậc tối thắng.
Còn các phương tiện khác,
Đều là oai thần của Phật,
Tức sự xả trần lao,
Chẳng phải người tu học lâu dài.
Nông sâu cùng thuyết pháp.
Đảnh lễ Như Lai Tạng,
Vô lậu, không nghĩ bàn,
Nguyện gia bị cho tương lai,
Đối với cánh cửa này không còn nghi hoặc,
Phương tiện dễ thành tựu,
Có thể dùng để dạy A Nan,
Và những người chìm đắm trong mạt kiếp,
Chỉ cần dùng căn này tu hành,
Viên thông vượt trội hơn những cái khác,
Tâm chân thật là như vậy.
06-09 Thế là A Nan và chư đại chúng, thân tâm sáng suốt, được đại khai thị. Quán sát Phật Bồ đề và Đại Niết bàn. Giống như có người vì việc đi xa, chưa được trở về, hiểu rõ con đường trở về nhà. Toàn thể đại chúng, thiên long bát bộ, nhị thừa hữu học, và tất cả chư vị Bồ tát mới phát tâm, số lượng phàm có mười hằng hà sa, đều đạt được bản tâm, xa lìa trần cấu, đạt được pháp nhãn tịnh. Tánh Tỳ kheo ni nghe xong bài kệ, thành A la hán. Vô lượng chúng sinh, đều phát tâm Vô đẳng đẳng A nậu đa la tam miệu tam bồ đề.
06-10 A Nan chỉnh y áo, giữa đại chúng chắp tay đảnh lễ. Tâm ý viên minh, bi ai hoan hỷ giao tập. Vì muốn làm lợi ích cho các chúng sinh trong tương lai, cúi đầu bạch Phật. Đại bi Thế Tôn! Con nay đã ngộ rõ pháp môn thành Phật, trong đó tu hành không còn nghi hoặc. Thường nghe Như Lai nói như thế này: Chưa độ được mình mà muốn độ người, đó là sự phát tâm của Bồ Tát. Tự giác đã viên mãn có thể giác tha, đó là Như Lai ứng thế. Con tuy chưa độ, nguyện độ tất cả chúng sinh trong thời mạt kiếp. Thế Tôn! Các chúng sinh này, cách Phật ngày càng xa. Tà sư thuyết pháp, nhiều như cát sông Hằng. Muốn nhiếp tâm họ vào tam ma địa, làm thế nào để họ an lập đạo tràng, xa lìa các ma sự? Đối với tâm Bồ đề được không thối chuyển?
06-11 Lúc bấy giờ, Thế Tôn trong đại chúng, khen ngợi A Nan rằng: "Lành thay! Lành thay! Như lời ông hỏi về việc an lập đạo tràng, cứu hộ chúng sinh chìm đắm trong mạt kiếp, ông hãy lắng nghe kỹ đây, ta sẽ vì ông mà nói." A Nan và đại chúng, đều vâng lời dạy.
Phật bảo A Nan: "Ông thường nghe trong Tỳ Nại Da của ta, tuyên thuyết về tu hành ba nghĩa quyết định, gọi là nhiếp tâm là giới, do giới sinh định, do định phát tuệ, đó gọi là Tam vô lậu học.
+giáo huấn thanh tịnh
A Nan. Thế nào là nhiếp tâm mà ta gọi là giới? Nếu các chúng sinh sáu đường trong thế gian, tâm không dâm dục, thì không theo đó mà tiếp tục sinh tử. Ông tu tam muội, vốn là để thoát khỏi trần lao. Tâm dâm dục không trừ, trần không thể thoát. Dù có nhiều trí tuệ, thiền định hiện tiền, nếu không đoạn dâm, chắc chắn sẽ rơi vào ma đạo. Bậc thượng là ma vương, bậc trung là ma dân, bậc hạ là ma nữ. Các ma này cũng có đồ chúng. Mỗi người tự xưng là đã thành vô thượng đạo. Sau khi ta diệt độ, trong thời mạt pháp, sẽ có nhiều ma dân này, hoành hành trên thế gian, rộng làm điều tham dâm, làm Thiện tri thức, khiến chúng sinh rơi vào hố ái kiến, mất đường bồ đề. Ông dạy người đời tu tam ma địa, trước tiên phải đoạn tâm dâm dục, đó gọi là lời dạy minh bạch, quyết định thanh tịnh bậc nhất của Như Lai chư Phật Thế Tôn đi trước. Vì vậy A Nan, nếu không đoạn dâm mà tu thiền định, cũng như chưng cát đá, muốn thành cơm, trải qua trăm ngàn kiếp cũng chỉ gọi là cát nóng. Vì sao? Vì đây không phải là gốc của cơm, do cát đá thành. Ông dùng thân dâm dục, cầu diệu quả của Phật, dù đạt được diệu ngộ, cũng đều là gốc dâm dục. Gốc đã thành dâm dục, luân chuyển trong ba đường ác, chắc chắn không thể thoát ra. Như Lai niết bàn, con đường nào để tu chứng? Nhất định phải khiến dâm cơ thân tâm đều đoạn, đoạn tính dâm cũng không còn, thì mới có thể hy vọng vào Phật bồ đề. Như lời ta nói đây, gọi là lời Phật nói. Nếu không nói như vậy, tức là lời của Ba Tuần.
06-12 A Nan. Lại nữa, chúng sinh sáu đường trong thế gian, nếu tâm không sát sinh, thì không theo đó mà tiếp tục sinh tử. Ông tu tam muội, vốn là để thoát khỏi trần lao. Tâm sát sinh không trừ, trần không thể thoát. Dù có nhiều trí tuệ, thiền định hiện tiền, nếu không đoạn sát, chắc chắn sẽ rơi vào thần đạo. Bậc thượng là người, làm quỷ lực lớn. Bậc trung thì làm phi hành dạ xoa, các quỷ soái... Bậc hạ thì làm quỷ La sát đi trên đất. Các quỷ thần này cũng có đồ chúng. Mỗi người tự xưng là đã thành vô thượng đạo. Sau khi ta diệt độ, trong thời mạt pháp, sẽ có nhiều quỷ thần này, hoành hành trên thế gian, tự nói ăn thịt chúng sinh được đường bồ đề. A Nan. Ta cho phép tỳ kheo ăn năm thứ thịt tịnh. Thịt này đều do thần lực của ta hóa sinh, vốn không có mạng căn. Ông Bà la môn, đất đai nhiều hơi ẩm thấp, thêm vào cát đá, cỏ cây không sinh. Ta dùng đại bi thần lực gia trì, do đại từ bi mà tạm gọi là thịt, để các ông có vị ấy. Sao Như Lai diệt độ rồi, ăn thịt chúng sinh, lại gọi là Thích tử? Các ông phải biết. Người ăn thịt này, dù tâm có khai ngộ giống như tam ma địa, đều là đại la sát, báo chung chắc chắn sẽ chìm trong biển khổ sinh tử, không phải là đệ tử của Phật. Người như vậy, giết hại lẫn nhau, nuốt chửng lẫn nhau, ăn thịt lẫn nhau chưa xong, làm sao người này có thể thoát khỏi tam giới? Ông dạy người đời tu tam ma địa, kế đến phải đoạn sát sinh. Đó gọi là lời dạy minh bạch, quyết định thanh tịnh bậc hai của Như Lai, chư Phật Thế Tôn đi trước.
Vì vậy A Nan, nếu không đoạn sát mà tu thiền định, cũng như người tự bịt tai mình, lớn tiếng kêu la, muốn người khác không nghe thấy, đây gọi là muốn che giấu điều đã rõ ràng. Tỳ kheo thanh tịnh và chư Bồ Tát, đi trên đường rẽ, không đạp lên cỏ non, huống chi là dùng tay nhổ. Sao lại có đại bi, mà lấy máu thịt chúng sinh làm thức ăn? Nếu các tỳ kheo, không mặc lụa là gấm vóc phương Đông, và giày dép, áo da lông thú của xứ này, sữa, lạc, đề hồ. Tỳ kheo như vậy, mới thật sự giải thoát khỏi thế gian, trả xong nợ cũ, không còn luân hồi trong tam giới. Vì sao? Vì mặc thân phận của chúng sinh, đều là nhân duyên với chúng. Như người ăn trăm cốc trên đất, chân không rời đất. Nhất định phải khiến thân tâm, đối với các chúng sinh, cả thân và thân phần, cả thân và tâm, đều không mặc, không ăn, ta nói người này mới thật sự giải thoát. Như lời ta nói đây, gọi là lời Phật nói. Nếu không nói như vậy, tức là lời của Ba Tuần.
06-13 A Nan. Lại nữa, chúng sinh trong sáu nẻo luân hồi, nếu tâm không trộm cắp, thì không theo đó mà tiếp tục sinh tử. Ông tu tam muội, vốn là để thoát khỏi trần lao. Tâm trộm cắp không trừ, trần không thể thoát. Dù có nhiều trí tuệ, thiền định hiện tiền, nếu không đoạn trộm, chắc chắn sẽ rơi vào tà đạo. Bậc thượng là tinh linh, bậc trung là yêu mị, bậc hạ là tà nhân, bị các mị hoặc ám ảnh. Các quần chúng tà này cũng có đồ chúng. Mỗi người tự xưng là đã thành vô thượng đạo. Sau khi ta diệt độ, trong thời mạt pháp, sẽ có nhiều yêu tà này, hoành hành trên thế gian, ẩn núp gian dối, xưng là Thiện tri thức. Mỗi người tự cho mình đã đạt được pháp của bậc thượng nhân, lừa gạt kẻ không biết, khiến họ mất tâm. Nơi họ đi qua, nhà cửa hao tán. Ta dạy tỳ kheo đi khất thực, để họ xả tham, thành đạo bồ đề. Các tỳ kheo, không tự nấu ăn, nương nhờ vào người khác, sống lang thang trong tam giới, thể hiện một đi không trở lại. Sao lại có kẻ trộm cắp giả mạo y phục của ta, buôn bán Như Lai, tạo đủ thứ nghiệp, đều nói là Phật pháp, nhưng không phải là tỳ kheo xuất gia trì giới, theo đạo tiểu thừa. Do đó mà lầm lẫn vô lượng chúng sinh, đọa vào địa ngục vô gián. Nếu sau khi ta diệt độ, có tỳ kheo phát tâm quyết định tu tam ma đề, có thể trước hình tượng Như Lai, đốt một ngọn đèn trên thân, đốt một đốt ngón tay, và đốt một nén hương trên thân. Ta nói người này nợ cũ từ vô thủy, một lúc trả xong, vĩnh biệt thế gian, vĩnh thoát các lậu. Tuy chưa ngay lập tức sáng tỏ con đường vô thượng giác ngộ. Người này đối với pháp đã quyết định tâm. Nếu không vì nhân duyên xả thân nhỏ bé này, dù thành tự vô vi, cũng phải trở lại làm người, đền trả nợ cũ. Như ta ăn lúa mạch cũng không khác. Ông dạy người đời tu tam ma địa, sau đó đoạn trộm cắp, đó gọi là lời dạy minh bạch, quyết định thanh tịnh bậc ba của Như Lai, chư Phật Thế Tôn đi trước. Vì vậy A Nan, nếu người không đoạn trộm cắp mà tu thiền định, cũng như người dùng nước tưới vào ly bị thủng, muốn cho đầy, dù trải qua trần kiếp, cũng không thể đầy được. Nếu các tỳ kheo, ngoài y bát, không chứa giữ một tấc một phân nào. Phần dư của việc khất thực, đem bố thí cho chúng sinh đói khát. Trong đại hội, chắp tay lễ chúng. Có người đánh mắng, cũng như khen ngợi. Nhất định phải khiến thân tâm, cả hai đều xả bỏ. Thân thịt xương máu, cùng chia sẻ với chúng sinh. Không đem lời nói chưa liễu nghĩa của Như Lai, chuyển thành hiểu biết của riêng mình, để lầm lẫn người mới học. Phật ấn chứng người này đạt được chân tam muội. Như lời ta nói đây, gọi là lời Phật nói. Nếu không nói như vậy, tức là lời của Ba Tuần nói.
06-14 A Nan. Như thế giới sáu đường chúng sanh, tuy thân tâm không sát đạo dâm, ba hạnh đã viên, nếu nói dối lớn, thì tam ma địa không được thanh tịnh, thành ma ái kiến, mất giống Như Lai.
Như là chưa được nói là được, chưa chứng nói là chứng. Hoặc cầu thế gian tôn thắng đệ nhất. Nói với người trước rằng, ta nay đã được Tu Đà Hoàn quả, Tư Đà Hàm quả, A Na Hàm quả, A La Hán đạo, Bích Chi Phật thừa, các vị Bồ Tát trước Thập Địa. Cầu họ lễ lạy, tham của cúng dường. Đó là một người điên đảo, tiêu diệt Phật chủng. Như người dùng dao chặt cây đa la. Phật ghi nhận người này vĩnh viễn mất thiện căn, không còn tri kiến. Chìm trong biển ba khổ, không thành tam muội.
Sau khi ta diệt độ, ra lệnh cho các Bồ Tát và A La Hán, ứng thân sinh vào thời mạt pháp, làm đủ mọi hình tướng, độ các luân chuyển. Hoặc làm Sa môn, cư sĩ áo trắng, nhân vương tể quan, đồng nam đồng nữ, như thế cho đến dâm nữ góa phụ, gian trộm đồ buôn, cùng làm việc với họ, xưng tán Phật thừa, khiến thân tâm họ vào tam ma địa. Rốt không tự nói ta là Bồ Tát thật, A La Hán thật, tiết lộ bí nhân của Phật, khinh nói với người chưa học. Chỉ trừ lúc mạng chung, có di chúc lại. Tại sao người này hoặc loạn chúng sanh, thành đại vọng ngữ.
Ông dạy người đời tu tam ma địa, sau lại đoạn trừ các đại vọng ngữ. Đó gọi là lời dạy minh bạch, quyết định thanh tịnh bậc tư của Như Lai, chư Phật Thế Tôn đi trước.
Vì vậy A Nan, nếu không đoạn trừ đại vọng ngữ, cũng như khắc phân người thành hình gỗ chiên đàn, muốn tìm hương thơm, không có chuyện đó. Ta dạy tỳ kheo tâm ngay thẳng làm đạo tràng, trong bốn oai nghi tất cả hành động, còn không có hư giả. Sao lại tự xưng là đã đạt được pháp của bậc thượng nhân? Ví như người nghèo vọng xưng là đế vương, tự chuốc lấy diệt vong. Huống chi là pháp vương, sao lại vọng trộm? Nhân địa không chân thật, chiêu cảm quả quanh co. Cầu bồ đề Phật, như người cắn rốn mình, muốn ai thành tựu? Nếu các tỳ kheo, tâm như dây đàn thẳng, tất cả chân thật, nhập tam ma địa vĩnh viễn không có ma sự. Ta ấn chứng người này thành tựu bồ tát vô thượng tri giác. Như lời ta nói, gọi là lời Phật nói. Nếu không nói như vậy, tức là lời của Ba Tuần nói.
07-01 A Nan. Ông hỏi về nhiếp tâm. Ta nay trước tiên nói về việc nhập tam ma địa, tu học diệu môn, cầu đạo Bồ Tát. Trước tiên phải giữ gìn bốn loại luật nghi này, sáng suốt như băng sương. Tự không thể sinh ra tất cả cành lá. Tâm ba miệng bốn, sinh ắt không có nhân. A Nan. Bốn việc như vậy, nếu không đánh mất, tâm còn không duyên với sắc thanh hương vị xúc. Tất cả ma sự, làm sao phát sinh?
Nếu có tập khí từ đời trước không thể diệt trừ, ông hãy dạy người đó, một lòng tụng chú Phật đảnh quang minh Ma ha tát đát đa bàn đát la vô thượng thần chú này. Đây là tướng vô kiến đỉnh của Như Lai, là tâm Phật vô vi từ đỉnh phát ra ánh sáng, là tâm chú được nói khi ngồi trên hoa sen báu. Hơn nữa, ông và Ma Đăng Già từ đời trước đến nay, nhân duyên ân ái tập khí, chẳng phải là một đời hay một kiếp. Ta vừa tuyên dương, tâm ái liền dứt, thành A la hán. Cô ấy còn là dâm nữ, không có tâm tu hành, nhờ thần lực ngầm trợ giúp mà nhanh chóng chứng được vô học. Sao các ông ở trong hội này là hàng Thanh Văn, cầu thừa tối thượng, quyết định thành Phật? Ví như lấy bụi tung vào gió thuận, có gì khó khăn?
Nếu có người ở đời mạt pháp muốn ngồi đạo tràng, trước tiên phải trì giữ giới cấm thanh tịnh của Tỳ kheo. Nhất định phải lựa chọn người giới hạnh thanh tịnh, là bậc Sa môn đệ nhất, để làm thầy của mình. Nếu không gặp được Tăng chân chính thanh tịnh, thì giới luật nghi thức của ông nhất định không thành tựu. Sau khi giới luật đã thành tựu, mặc y phục mới sạch sẽ, đốt hương ở nơi vắng vẻ, tụng thần chú Phật tâm đã thuyết một trăm lẻ tám lần, sau đó kết giới, thiết lập đạo tràng. Cầu thỉnh Như Lai vô thượng hiện đang trụ ở mười phương quốc độ, phóng ánh sáng đại bi đến quán đảnh cho mình.
A Nan! Như vậy, Tỳ kheo thanh tịnh thời mạt pháp, nếu là Tỳ kheo ni, đàn việt áo trắng, tâm diệt tham dâm, trì giới thanh tịnh của Phật. Ở trong đạo tràng phát nguyện Bồ tát. Ra vào tắm gội. Sáu thời hành đạo. Như vậy không ngủ, trải qua ba bảy ngày. Ta sẽ tự hiện thân đến trước người đó, xoa đầu an ủi, khiến họ khai ngộ.
07-02 A Nan bạch Phật rằng: "Thế Tôn! Con nhờ Như Lai vô thượng bi giáo huấn, tâm đã khai ngộ. Tự biết tu chứng vô học đạo thành. Thời mạt pháp tu hành thiết lập đạo tràng, làm sao kết giới, hợp với quy tắc thanh tịnh của Phật Thế Tôn?
07-03 Phật bảo A Nan: Nếu người ở đời mạt pháp muốn lập đạo tràng, trước tiên lấy trâu trắng mạnh mẽ ở núi tuyết. Cho ăn cỏ béo ngậy thơm tho trong núi đó. Trâu này chỉ uống nước trong của núi tuyết. Phân của nó rất mịn. Có thể lấy phân đó, hòa với gỗ đàn hương, để trát đất. Nếu không phải núi tuyết, trâu đó hôi hám, không thể dùng để trát đất. Riêng ở đồng bằng, đào bỏ lớp da đất từ năm thước trở xuống, lấy đất vàng đó, hòa với đàn hương, trầm thủy, tô hợp, huân lục, uất kim, bạch giao, thanh mộc, linh lăng, cam tùng, và hương kê thiệt. Lấy mười loại này nghiền mịn thành bột. Trộn với đất thành bùn, để trát đất đàn tràng. Vuông tròn một trượng sáu, làm đàn tám góc.
Trung tâm đàn đặt một hoa sen được tạo bằng vàng, bạc, đồng hoặc gỗ. Trong hoa đặt bát. Trong bát trước hết đựng nước sương tháng tám. Trong nước tùy theo đặt tất cả hoa lá. Lấy tám cái gương tròn, mỗi cái đặt một phương, vây quanh bát hoa. Bên ngoài gương thiết lập mười sáu hoa sen. Mười sáu lư hương, xen kẽ với hoa được bày biện trang nghiêm, lư hương thuần đốt trầm thủy, không để lộ lửa.
Lấy sữa bò trắng, đặt vào mười sáu cái bát. Sữa dùng để làm bánh rán, cùng với các loại đường cát, bánh dầu, sữa đặc, tô hợp, mật gừng, thuần tô, thuần mật. Ở bên ngoài hoa sen, mỗi thứ mười sáu cái vây quanh bên ngoài hoa. Để cúng dường chư Phật và các vị Đại Bồ Tát. Mỗi khi đến giờ ăn, hoặc vào lúc nửa đêm, lấy nửa thăng mật, dùng ba hợp tô. Trước đàn đặt riêng một lò lửa nhỏ. Dùng hương Suất Lâu Bà, nấu lấy nước thơm, tắm cho than, đốt cho mạnh. Đổ tô, mật này vào trong lò lửa, đốt cho hết khói, cúng dường Phật Bồ Tát. Khiến cho bốn phía đều treo phướn hoa.
Trong thất đàn, bốn vách bày biện hình tượng của mười phương Như Lai và chư Bồ Tát. Nên ở chính giữa, treo hình tượng của Lô Xá Na, Thích Ca, Di Lặc, A Súc, Di Đà, hình tượng các vị Đại Biến Hóa Quán Âm, và Kim Cang Tạng, an vị ở hai bên. Đế Thích, Phạm Vương, Ô Súy Sắc Ma, và Lam Địa Già, chư Quân Trà Lợi, cùng Tỳ Câu Tri, Tứ Thiên Vương, Tần Na Dạ Ca, treo ở hai bên cửa. Lại lấy tám cái gương treo ngược trên hư không, đối diện với gương được an vị trong đàn tràng, khiến cho hình ảnh trùng trùng lẫn nhau.
Trong bảy ngày đầu, chí thành đảnh lễ mười phương Như Lai, danh hiệu chư vị Đại Bồ Tát, A La Hán. Luôn trong sáu thời tụng chú vây quanh đàn, chí tâm hành đạo. Mỗi thời thường hành một trăm lẻ tám lần. Trong bảy ngày thứ hai, một lòng chuyên tâm phát nguyện Bồ Tát, tâm không gián đoạn. Tỳ Nại Da của Ta trước có lời dạy nguyện. Trong bảy ngày thứ ba, trong mười hai thời, một lòng trì chú Bát Đa La của Phật. Đến ngày thứ bảy, mười phương Như Lai đồng thời xuất hiện. Chỗ giao nhau của ánh sáng gương, nhận sự xoa đầu của Phật. Liền ở đạo tràng tu Tam Ma Địa. Có thể khiến cho người tu học thời mạt pháp như vậy, thân tâm sáng suốt như lưu ly. A Nan! Nếu vị Tỳ kheo này, thầy thọ giới vốn có, và mười vị Tỳ kheo trong cùng hội, trong đó có một người không thanh tịnh, thì đạo tràng như vậy phần nhiều không thành tựu. Từ sau ba lần bảy (21) ngày, đoan tọa an cư, trải qua một trăm ngày. Có người lợi căn, không rời khỏi chỗ ngồi, đạt được Tu Đà Hoàn. Dù thân tâm chưa thành tựu Thánh quả. Quyết định tự biết thành Phật không sai. Ông hỏi về đạo tràng, thiết lập như vậy.
07-04 A Nan đảnh lễ chân Phật và bạch rằng: Bạch Thế Tôn! Từ khi con xuất gia, ỷ lại Phật thương yêu, vì cầu đa văn, nên chưa chứng vô vi. Gặp phải tà thuật của Phạm Thiên kia mê hoặc, tâm tuy sáng tỏ, nhưng lực không tự do. Nhờ gặp Văn Thù, khiến con giải thoát. Tuy được thần chú Phật đảnh Như Lai hộ trì, ngầm nhận sức mạnh đó, nhưng chưa từng được nghe. Cúi xin Đại Từ bi tuyên thuyết lại lần nữa, thương xót cứu độ các bậc tu hành trong hội này, cho đến cả những người trong luân hồi đời sau, nhờ mật âm của Phật, mà thân ý được giải thoát.
07-05 Lúc đó, tất cả đại chúng trong hội đều đồng loạt hành lễ, yên lặng lắng nghe những chương cú bí mật của Như Lai.
07-06 Bấy giờ, Thế Tôn từ nhục kế trên đỉnh đầu, phóng ra trăm thứ ánh sáng báu. Trong ánh sáng báu dõng xuất hoa sen ngàn cánh. Có hóa Như Lai, ngồi trong hoa báu. Trên đỉnh đầu phóng ra mười đường, ánh sáng trăm báu. Mỗi một ánh sáng, đều khắp nơi hiển hiện mười hằng hà sa Kim Cang Mật Tích, nâng núi cầm chùy, khắp cõi hư không.
Đại chúng ngưỡng xem, vừa sợ hãi vừa kính yêu, cầu xin Phật thương xót che chở. Một lòng lắng nghe tướng vô kiến đảnh của Phật phóng quang Như Lai tuyên thuyết thần chú.
1. Đệ nhất hội
Nam mô tát đát tha tô già đa da a ra ha đế tam miệu tam bồ đà tỏa. Tát đát tha Phật đà cu tri sắc ni san.
Nam mô tát bà bột đà bột địa, tát đa bệ tệ.
Nam mô tát đa nẩm tam miệu tam bồ đà cu tri nẩm. Ta xá ra bà ca tăng già nẩm.
Nam mô lô kê a la hán đa nẩm.
Nam mô tô lô đa ba na nẩm.
Nam mô ta yết rị đà già di nẩm.
Nam mô lô kê tam miệu già đa nẩm. Tam miệu già ba ra để ba đa na nẩm.
Nam mô đề bà ly sắc nỏa.
Nam mô tất đà da tỳ địa da đà ra ly sắt nỏa. Xá ba noa yết ra ha ta ha ta ra ma tha nẩm.
Nam mô bạt ra ha ma ni.
Nam mô nhơn đà ra da.
Nam mô bà già bà đế, lô đà ra da. Ô ma bát đế, ta hê dạ da.
Nam mô bà già bà đế.
Na ra dỏa noa da. Bàn giá ma ha tam mộ đà ra.
Nam mô tất yết rị đa da.
Nam mô bà già bà đế, ma ha ca ra da. Địa rị bác lặc na già ra. Tỳ đà ra ba noa ca ra da. A địa mục đế. Thi ma xá na nê bà tất nê. Ma đát rị già noa.
Nam mô tất yết rị đa da.
Nam mô bà già bà đế. Đa tha già đà cu ra da.
Nam mô bát đầu ma cu ra da.
Nam mô bạt xà ra cu ra da.
Nam mô ma ni cu ra da.
Nam mô già xà cu ra gia.
Nam nô bà già bà đế, đế rị trà du tây na, ba ra ha ra noa ra xà dà, đa tha già đa da.
Nam mô bà già bà đế.
Nam mô a di đa bà da, đa tha dà đa la, a ra ha đế, tam miệu tam bồ đà da.
Nam mô bà già bà đế, a sô bệ da, đa tha già đa da, a ra ha đế, tam miệu tam bồ đà da.
Nam mô bà già bà đế, bệ sa xà da cu lô phệ trụ rị da bát ra bà ra xà da, đa tha già đa da.
Nam mô bà già bà đế, tam bổn sư bí da, tát lân nại ra lặc xà da, đa tha già đa da, a ra ha đế, tam miệu tam bồ đà da.
Nam mô bà già bà đế, xá kê dã mẫu na duệ, đa tha già đa da, a ra ha đế, tam miệu tam bồ đà da.
Nam mô bà già bà đế, lặc đác na kê đô ra xà da, đa tha già đa da, a ra ha đế, tam miệu tam bồ đà da, đế biều nam mô tát yết rị đa, ế đàm bà giá bà đa, tát đác tha già đô sắc ni sam, tát đác đa bác đác lam.
Nam mô a bà ra thị đam, bác ra đế dương kỳ ra, tát ra bà bộ đa yết ra ha, ni yết ra ha yết ca ra ha ni, bạc ra bí địa da sất đà nể, a ca ra mật rị trụ, bát rị đát ra da nảnh yết rị, tát ra bà bàn đà na mục xoa ni, tát ra bà đột sắc tra đột tất phạp bát na nể phạt ra ni, giả đô ra thất đế nẫm, yết ra ha ta ha tát ra nhã xà, tỳ đa băng ta na yết rị, a sắc tra băng xá đế nẫm, na xoa sát đác ra nhã xà, ba ra tát đà na yết rị, a sắc tra nẫm, ma ha yết ra ha nhã xà, tỳ đa băng tát na yết rị, tát bà xá đô lô nể bà ra nhã xà, hô lam đột tất phạp nan giá na xá ni, bí sa xá tất đác ra, a kiết ni ô đà ca ra nhã xà, a bát ra thị đa cu ra ma ha bác ra chiến trì, ma ha điệp đa, ma ha đế xà, ma ha thuế đa xà bà ra, ma ha bạt ra bàn đà ra bà tất nể, a rị da đa ra, tỳ rị cu tri, thệ bà tỳ xà da, bạc xà ra ma lễ để, tỳ xá lô đa, bột đằng dõng ca, bạt xà ra chế hắt na a giá, ma ra chế bà bác ra chất đa, bạc xà ra thiện trì, tỳ xá ra giá, phiến đa xá bệ đề bà bổ thị đa,tô ma lô ba, ma ha thuế đa, a rị da đa ra, ma ha bà ra, a bác ra, bạt xà ra thương yết ra chế bà, bạt xà ra cu ma rị, cu lam đà rị, bạt xà ra hắc tát đa giá tỳ địa gia kiền giá na ma rị ca, khuất tô mẫu bà yết ra đá na, bệ lô giá na cu rị da, dạ ra thố sắt ni sam, tỳ chiết lam bà ma ni giá, bạt xà ra ca na ca ba ra bà, lô xà na bạt xà ra đốn trỉ giá, thuế đa giá ca ma ra sát xa thi ba ra bà, ế đế di đế, mẫu đà ra yết noa, ta bệ ra sám, quật phạm đô, ấn thố na mạ mạ tỏa.
2. Đệ nhị hội
Ô hồng, rị sắt yết noa, bác lặc xá tất đa, tát đát tha già đô sắc ni sam. Hổ hồng, đô lô ung chiêm bà na, Hổ hồng, đô lô ung tất đam bà na. Hổ hồng, đô lô ung ba ra sắc địa da tam bát xá noa yết ra. Hổ Hồng, đô lô ung, tát bà dược xoa hắt ra sát ta, yết ra ha nhã xà, tỳ đằng băng tát na yết ra. Hổ hồng, đô lô ung, giả đô ra thi để nẫm, yết ra ha, ta ha thi để nẫm, yết ra ha, ta ha tát ra nẫm, tỳ đằng băng tát na ra. Hổ hồng, đô lô ung, ra xoa, bà già phạm tát đát tha già đô sắc ni sam, ba ra điểm xà kiết rị, ma ha ta ha tát ra, bột thọ ta ha tát ra thất rị sa, cu tri ta ha tát nê đế lệ, a tệ đề thị bà rị đa, tra tra anh ca ma ha bạt xà lô đà ra, đế rị bồ bà na, man trà ra, ô hồng, ta tất đế bạc bà đô, mạ mạ ấn thố na mạ mạ tỏa.
3. Đệ tam hội
Ra xà bà dạ, chủ ra bạt dạ, a kỳ ni bà dạ, ô đà ca bà dạ, tỳ xa bà dạ, xá tát đa ra bà dạ, bà ra chước yết ra bà dạ, đột sắc xoa bà dạ, a xá nể bà dạ, a ca ra mật rị trụ bà dạ, đà ra ni bộ di kiếm ba già bà đà bà dạ, ô ra ca bà đa bà dạ, lặc xà đàng trà bà dạ, na già bà dạ, tỳ điều đát bà dạ, tô ba ra noa bà dạ, dược xoa yết ra ha, ra xoa tư yết ra ha, tất rị đa yết ra ha, tỳ xá giá yết ra ha, bộ đa yết ra ha, cưu bàn trà yết ra ha, bổ đơn na yết ra ha, ca tra bổ đơn na yết ra ha, tất kiền độ yết ra ha, a bá tát ma ra yết ra ha, ô đàn ma đà yết ra ha, xa dạ yết ra ha, hê rị bà đế yết ra ha, xã đa ha rị nẫm, yết bà ha rị nẩm, lô địa ra ha rị nẩm, mang ta ha rị nẩm, mê đà ha rị nẩm, ma xà ha rị nẩm, xà đa ha rị nữ, thị tỷ đa ha rị nẩm, tỳ đa ha rị nẩm bà đa ha rị nẩm, a du giá ha rị nữ, chất đa ha rị nữ, đế sam tát bệ sam, tát bà yết ra ha nẩm, tỳ đà dạ xà sân đà dạ di, kê ra dạ di, ba rị bạt ra giả ca hất rị đởm, tỳ đà dạ xà sân đà dạ di, kê ra dạ di, trà diễn ni hất rị đởm, tỳ đà dạ xà sân đà dạ di, kê ra dạ di, ma ha bát du bác đát dạ, lô đà ra hất rị đởm, tỳ đà dạ xà sân đà dạ di, kê ra dạ di, na ra dạ noa hất rị đởm, tỳ đà dạ xà sân đà dạ di, kê ra dạ di, đát đỏa già lô trà tây hất rị đởm, tỳ đà dạ xà sân đà dạ di, kê ra dạ di, ma ha ca ra ma đát rị già noa hất rị đởm, tỳ đà dà xà sân đà dạ di, kê ra dạ di, ca ba rị ca hất rị đởm, Tỳ đà dạ xà sân đà da di, kê ra dạ di, xà dạ yết ra, ma độ yết ra tát bà ra tha ta đạt na hất rị đởm, tỳ đà dạ xà sân đà dạ di, kê ra dạ di, giả đốt ra bà kỳ nể hất rị đởm, tỳ đà dạ xà sân đà dạ di, kê ra dạ di, tỳ rị dương hất rị tri, nan đà kê sa ra dà noa bác đế, sách hê dạ hất rị đởm, tỳ đà dạ xà sân đà dạ di, kê ra dạ di, na yết na xá ra bà noa hất rị đởm, tỳ đà dạ xà sân đà dạ di, kê ra dạ di, na yết na xá ra bà noa hất rị đởm, tỳ đà dạ xà sân đà dạ di, kê ra dạ di, a-la-hán hất rị đởm, tỳ đà dạ xà sân đà dạ di, kê ra dạ di, tỳ đa ra già hất rị đởm, tỳ đà dạ xà sân đà dạ di, kê ra dạ di, bạt xả ra ba nể, cu hê dạ, cu hê dạ xa địa bát đế hất rị đởm, tỳ đà dạ xà sân đà dạ di, kê ra dạ di, ra thoa vỏng, bà dà phạm, ấn thố na mạ mạ tỏa.
4. Đệ tứ hội
Bà già phạm, tát đát đa bác đá ra, Nam mô tý lô đô đế, a tất đa na ra lặc ca, ba ra bà tất phổ tra, tỳ ca tát đát đa bát đế rị, thập Phật ra thập Phật ra, đà ra đà ra, tần đà ra, tần đà ra, sân đà sân đà. Hổ hồng. Hổ hồng, phấn tra, phấn tra, phấn tra, phấn tra, phấn tra, ta ha, hê hê phấn, a mâu ca da phấn, a ba ra đề ha đa phấn, ba ra bà ra đà phấn, a tố ra tỳ đà ra ba ca phấn, tát bà đề bệ tệ phấn, tát bà na già tệ phấn, tát bà dược xoa tệ phấn, tát bà kiền thát bà tệ phấn, tát bà bổ đơn na tệ phấn, ca tra bổ đơn na tệ phấn, tát bà đột lang chỉ đế tệ phấn, tát bà đột sáp tỷ lê hất sắc đế tệ phấn, tát bà thập bà lê tệ phấn, tát bà a bá tất ma lê tệ phấn, tát bà xá ra bà noa tệ phấn, tát bà địa đế kê tệ phấn, tát bà đát ma đà kê tệ phấn, tát bà tỳ đà da ra thệ giá lê tệ phấn, xà dạ yết ra ma độ yết ra, tát bà ra tha ta đà kê tệ phấn; tỳ địa dạ giá lê tệ phấn, giả đô ra phược kỳ nể tệ phấn, bạt xà ra cu ma rị, tỳ đà dạ ra thệ tệ phấn, ma ha ba ra đinh dương xoa tỳ rị tệ phấn, bạt xà ra thương yết ra dạ, ba ra trượng kỳ ra xà da phấn, ma ha ca ra dạ, ma ha mạt đát rị ca noa. Nam mô ta yết rị đa dạ phấn, tỷ sắc noa tỳ duệ phấn, bột ra ha mâu ni duệ phấn, a kỳ ni duệ phấn, ma ha yết rị duệ phấn, yết ra đàn trì duệ phấn, miệc đát trị duệ phấn, lao đát rị duệ phấn, giá văn trà duệ phấn, yết la ra đát rị duệ phấn, ca bác rị duệ phấn, a địa mục chất đa ca thi ma xá na, bà tư nể duệ phấn, diễn kiết chất, tát đỏa bà tỏa, mạ mạ ấn thố na mạ mạ tỏa.
5. Đệ ngũ hội
Đột sắc tra chất đa, a mạt đát rị chất đa, ô xà ha ra, già bà ha ra, lô địa ra ha ra, ta bà ha ra, ma xà ha ra, xà đa ha ra, thị tỷ đa ha ra, bạc lược dạ ha ra, kiền đà ha ra, bố sử ba ha ra, phả ra ha ra, bà tỏa ha ra, bác ba chất đa, đột sắc tra chất đa, lao đà ra chất đa, dược xoa yết ra ha, ra sát ta yết ra ha, bế lệ da yết ra ha, tỳ xá giá yết ra ha, bộ đa yết ra ha, cưu bàn trà yết ra ha, tất kiền đà yết ra ha, ô đát ma đà yết ra ha, xa dạ yết ra ha, a bá tất ma ra yết ra ha, trạch khê cách trà kỳ ni yết ra ha, rị Phật đế yết ra ha, xà di ca yết ra ha, xá cu ni yết ra ha, lao đà ra nan địa ca yết ra ha, a lam bà yết ra ha, kiền độ ba ni yết ra ha, thập Phật ra yên ca hê ca, trụy đế dược ca, đát lệ đế dược ca, giả đột thác ca, ni đề thập phạt ra, tỷ sam ma thập phạt ra, bạc để ca, tỷ để ca, thất lệ sắt mật ca, ta nể bác đế ca, tát bà thập phạt ra, thất lô kiết đế, mạt đà bệ đạt lô chế kiếm, a tỷ lô kiềm, mục khê lô kiềm, yết rị đột lô kiềm, yết ra ha yết lam, yết na du lam, đản đa du lam, hất rị dạ du lam, mạt mạ du lam, bạt rị thất bà du lam, tỷ lật sắc tra du lam, ô đà ra du lam, yết tri du lam, bạt tất đế du lam, ô lô du lam, thường già du lam, hắc tất đa du lam, bạt đà du lam, ta phòng án già bác ra trượng già du lam, bộ đa tỷ đa trà, trà kỳ ni thập bà ra, đà đột lô ca kiến đốt lô kiến tri, bà lộ đa tỳ, tát bác lô, ha lăng già, du sa đát ra, ta na yết ra, tỳ sa dụ ca, a kỳ ni ô đà ca, mạt ra bệ ra, kiến đa ra, a ca ra mật rị đốt đát liểm bộ ca, địa lật lặc tra, tỷ rị sắc chất ca, tát bà na cu ra, tứ dẫn già tệ yết ra, rị dược xoa, đác ra sô, mạt ra thị phệ đế sam, ta bệ sam, tất đát đa bác đát ra, ma ha bạc xà lô sắc ni sam, ma ha bác lặc trượng kỳ lam, dạ ba đột đà xá dụ xà na, biện đát lệ noa, tỳ đà da bàn đàm ca lô di, đế thù bàn đàm ca lô di, bát ra tỳ đà, bàn đàm ca lô di, đác điệc tha.
Án, a na lệ, tỳ xá đề, bệ ra bạc xà ra đà rị, bàn đà bàn đà nể, bạt xà ra bàn ni phấn. Hổ hồng, đô lô ung phấn, ta bà ha.
07-07 A Nan. Đây là cụm ánh sáng trên đỉnh đầu Phật, là Đà La Ni bí mật, là những chương cú vi diệu. Sinh ra tất cả chư Phật của mười phương. Mười phương Như Lai, nhờ tâm chú này, mà thành Vô thượng Chánh Biến Tri Giác. Mười phương Như Lai, trì tâm chú này, hàng phục các ma, chế ngự ngoại đạo. Mười phương Như Lai, nương tâm chú này, ngồi hoa sen báu, ứng vào các cõi vi trần. Mười phương Như Lai, hàm nhiếp tâm chú này, chuyển đại pháp luân tại các cõi vi trần. Mười phương Như Lai, trì tâm chú này, có thể xoa đỉnh đầu và thọ ký cho chúng sinh ở mười phương. Khi quả vị của bản thân chưa thành tựu, cũng được chư Phật ở mười phương thọ ký. Mười phương Như Lai, y theo tâm chú này, có thể cứu vớt thống khổ cho chúng sanh ở khắp mười phương.
Như các khổ nơi địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh, đui, điếc, ngọng, câm; các khổ oán thù gặp nhau, thương yêu mà phải chia lìa, mong cầu mà không được toại nguyện, năm ấm hẫy hừng; các sự ngang trái lớn nhỏ đều được giải thoát; khổ nạn giặc cướp, đao binh, bạo vương, lao ngục, gió bão, hỏa hoạn, nước lụt, đói khát, nghèo cùng, ứng niệm tiêu tan. Mười phương Như Lai, theo tâm chú này, mà có thể ở mười phương phụng sự thiện tri thức, trong bốn oai nghi cúng dường như ý; trong pháp hội của hằng sa Như Lai, được tôn xưng là bậc Đại Pháp Vương Tử. Mười phương Như Lai, hành trì tâm chú này, có thể ở trong mười phương, được thọ nhận thân nhân, khiến các hàng tiểu thừa cũng nghe được tạng bí mật, mà không kinh sợ. Mười phương Như Lai, tụng tâm chú này, mà thành Vô Thượng Giác, ngồi cội Bồ Đề, vào Đại Niết Bàn. Mười phương Như Lai, truyền tâm chú này, sau khi diệt độ, phó chúc Pháp sự của Phật, khiến rốt ráo trụ trì, nghiêm tịnh giới luật, thảy được thanh tịnh.
Như Lai nói thần chú này là Phật Đảnh Quang Tụ Bát Đát La, từ sáng đến tối, âm thanh liên tục, giữa các câu chữ, cũng không trùng lặp, trải qua hằng sa kiếp cũng không thể hết. Cũng nói thần chú này gọi là Như Lai Đảnh. Các ông hàng hữu học, chưa thoát luân hồi, phát tâm chí thành, cầu quả vị A la hán, nếu không hành trì thần chú này, mà ngồi đạo tràng tu tập, khiến cho thân tâm của ông xa lìa các việc ma, điều này không thể có.
07 -08 A Nan! Nếu các thế giới, tùy theo tất cả chúng sanh trong cõi nước đó, tùy vào sản vật có sẵn ở nước mình, hoặc là vỏ cây, hoặc giấy hoặc là vải lụa, để viết thần chú này, đựng trong túi thơm, thì người ấy, dù tâm trí còn tối tăm, chưa thể ghi nhớ đọc tụng, nhưng đeo túi thơm ấy trên mình, hoặc viết thần chú này trong nhà, nên biết người này, đến trọn hết đời, tất cả các thứ độc không thể xâm hại.
07-09 A Nan! Nay Ta vì ông tuyên thuyết thần chú này, để cứu hộ thế gian, được đại vô úy, thành tựu trí tuệ xuất thế gian cho các chúng sanh. Nếu sau khi Ta diệt độ, chúng sanh trong đời mạt pháp, có người tự mình trì tụng, hoặc dạy người khác trì tụng, nên biết chúng sanh đọc tụng thọ trì ấy, lửa không thể thiêu đốt, nước không thể nhận chìm, tất cả những thứ độc lớn nhỏ đều không thể làm hại; như vậy cho đến trời, rồng, quỉ thần, hay tinh ma, tất cả ác chú, đều không thể xâm hại. Tâm người được chánh thọ. Tất cả bùa chú, trùng độc, thuốc độc, hóa chất vàng bạc độc, cây cỏ côn trùng rắn độc, tất cả vạn vật độc khí, khi vào miệng người đó, liền trở thành vị cam lồ. Tất cả ác tinh cùng các ác quỉ, ác thần, người mang tâm độc ác, nhưng đối với người này thì không thể khởi niệm ác. Các quỉ vương ác độc Tần Na, Dạ Ca, cùng quyến thuộc của chúng, đều nhận ân sâu, nên thường ủng hộ, che chở.
A Nan nên biết! Thần chú này thường có tám vạn bốn ngàn na do tha hằng hà sa câu chi chủng tộc Bồ Tát Kim Cang Tạng, mỗi mỗi đều có các chúng Kim Cang quyến thuộc, ngày đêm theo hộ vệ. Giả sử có chúng sanh, lúc tâm đang tán loạn, chưa vào chánh định, tâm nhớ miệng tụng trì chú này, các thần Kim Cang này vẫn tùy tùng ủng hộ các thiện nam tử này. Huống hồ là người đã quyết định phát tâm bồ đề, thì các Bồ Tát Kim Cang Tạng này, đem tâm tinh thành âm thầm khai phát thần thức, khiến cho người này tức thời tâm có thể nhớ lại tám vạn bốn ngàn hằng hà sa kiếp, biết khắp mọi việc, không có gì nghi hoặc. Từ kiếp đầu tiên cho đến thân sau cùng, đời đời không sanh vào các loài như Dược Xoa, La Sát, và Phú Đơn Na, Ca Tra Phú Đơn Na, Cưu Bàn Trà, Tì Xá Già vân vân..., cùng các loài ngạ quỉ, có hình hoặc không có hình, có tưởng hoặc không có tưởng, những nơi xấu ác như vậy. Người thiện nam ấy, hoặc đọc, hoặc tụng, hoặc viết, hoặc sao chép, hoặc đeo mang, hoặc cất giữ, hoặc dùng mọi vật cúng dường, thì kiếp kiếp không sanh vào nơi bần cùng hạ tiện chỗ không ưa vui. Những chúng sanh này, cho dù tự thân họ không làm phước nghiệp, nhưng mười phương Như Lai tất cả công đức, thảy đều ban cho người này. Do đó, ở trong hằng sa a tăng kì bất khả thuyết bất khả thuyết kiếp, thường được sinh cùng một chỗ với chư Phật, vô lượng công đức, nhóm tụ như chum ác xoa, cùng một chỗ huân tu, vĩnh viễn không phân lìa.
Cho nên có thể khiến người phá giới, được giới căn thanh tịnh; người chưa đắc giới khiến cho đắc giới; người chưa tinh tấn khiến cho tinh tấn; người không có trí tuệ khiến được trí tuệ; người không thanh tịnh thì chóng được thanh tịnh; người không trì trai giữ giới, tự thành tựu trai giới.
07-11 A Nan! Người thiện nam ấy khi thọ trì thần chú này, giả sử lúc trước khi chưa thọ trì mà có phạm cấm giới, thì sau khi đã thọ trì, các tội phá giới, dù nặng dù nhẹ, nhất thời đều tiêu diệt; đã từng uống rượu, ăn uống ngũ tân, các thứ bất tịnh, tất cả chư Phật Bồ Tát Kim Cang Thiên Tiên Quỷ Thành không coi đó là lỗi lầm. Giả như mặc y phục rách nát không sạch, thì mỗi cử chỉ đi đứng thảy đều thanh tịnh. Cho dù không lập đàn, không vào đạo tràng, cũng không hành đạo, tụng trì chú này, vẫn có công đức giống như người vào đàn hành đạo không có sai khác. Nếu tạo trọng tội ngũ nghịch phải đọa địa ngục vô gián, và các Tỳ Kheo Tỳ Kheo Ni phạm trọng tội tứ khí bát khí, tụng trì thần chú này rồi, các nghiệp nặng ấy, giống như trận gió mạnh, thổi tan đống cát, thảy đều diệt trừ, không còn dư sót.
07-12 A Nan! Nếu có chúng sanh, từ vô lượng vô số kiếp đến nay, tất cả mọi tội chướng nặng nhẹ, từ đời trước chưa kịp sám hối. Nếu có thể đọc tụng viết chép thần chú này, đeo giữ trên mình, hay để nơi nhà, trại, vườn, quán, thì nghiệp tích chứa lâu đời kia, như nước sôi làm tan tuyết, chẳng bao lâu sẽ chứng ngộ vô sanh nhẫn.
Lại nữa, A Nan! Nếu có người nữ, chưa sanh con cái, mong cầu có thai, nếu có thể chí tâm nhớ nghĩ thần chú này, hoặc có thể đeo giữ thần chú Tát Đát Đa Bát Đát La này trên người, liền sanh được con trai con gái có đầy đủ phước đức trí tuệ. Người cầu sống lâu, liền được sống lâu; muốn cầu nhanh chóng được phước báo viên mãn, chóng được viên mãn. Cầu thân mạng sắc lực, tráng kiện, cũng lại như vậy. Sau khi mạng chung, tùy theo ý nguyện, vãng sanh về mười phương cõi nước; chắc chắn không sanh chỗ biên địa hạ tiện, huống hồ các loại tạp hình.
07-13 A Nan! Nếu các cõi nước châu huyện thôn ấp, nạn đói khát dịch bệnh hoành hành, hoặc bị chiến tranh giặc cướp đao binh nhiễu hại, và tất cả các nơi bị ách nạn, nếu chép thần chú này, treo trên bốn cửa thành, và những nơi thờ phượng, trên các lá phướn, khiến tất cả chúng sanh trong cõi nước ấy, đều thờ phụng cung kính lễ bái thần chú này, nhất tâm cúng dường; khiến mỗi người dân đều đeo thần chú trên mình, hoặc treo nơi nhà ở, tất cả tai ách thảy đều tiêu trừ.
A Nan! Bất cứ nơi chốn nào, chúng sanh trong cõi nước ấy, tùy thân có thần chú này, thì trời rồng hoan hỉ, mưa thuận gió hòa, ngũ cốc sung túc, muôn dân an lạc. Cũng lại có thể trấn áp tất cả ác tinh, dù chúng hiện ra các điều quái dị ở phương nào, tai chướng cũng không thể sanh khởi được; dân chúng không bị chết oan, chết yểu, gông cùm xiềng xích không trói vào thân, ngày đêm an giấc, thường không ác mộng.
07-14 A Nan! Thế giới Ta bà này, có tám vạn bốn ngàn ác tinh tai biến, trong đó có hai mươi tám đại ác tinh làm vị đứng đầu; lại có tám đại ác tinh làm chủ toàn thể ác tinh, khi chúng hiện đủ các hình xuất hiện ở thế gian, có thể khiến các cúng sanh sanh đủ thứ tai họa dị thường. Nhưng chỗ nào có thần chú này, thảy đều tiêu diệt. Trong mười hai do tuần kết thành giới địa, các tai họa hung ác vĩnh viễn không thể xâm nhập. Do đó Như Lai tuyên dạy thần chú này, ở trong đời vị lai, bảo hộ những người tu hành sơ học, được vào chánh định, thân tâm thư thái, được đại an ổn, lại càng không bị tất cả các ma quỉ thần, và những oan gia trái chủ tai ương túc trái từ vô thỉ đến nay, những nghiệp họa tích chứa từ lâu đời, đến não hại lẫn nhau. Ông và những vị hữu học trong pháp hội này, cùng những người tu hành ở đời vị lai, hãy y theo cách thức lập đàn tràng Ta đã dạy, trì giới đúng như pháp, giới chủ đàn tràng thọ giới, tuyệt đối là thanh tịnh Tăng, trì tâm chú này, không sanh lòng nghi ngờ hối hận. Người thiện nam này, nơi thân cha mẹ sanh ra này, nếu tâm không được khai thông, thì mười phương Như Lai liền phạm vọng ngữ.
07-15 Khi nói lời này xong, trong hội chúng, vô lượng trăm ngàn vị Kim Cang, đồng thời chắp tay đảnh lễ trước Phật và bạch rằng: "Như lời Phật đã nói, chúng con xin thành tâm bảo hộ những người tu Bồ đề như vậy."
Lúc đó, Phạm Vương, cùng với Đế Thích, Tứ Thiên Vương, cũng đồng thời đảnh lễ trước Phật và bạch rằng: "Thật sự có những người tu học thiện lành như vậy, chúng con xin dốc lòng chí thành bảo hộ, khiến cho những việc làm trong đời của họ được như ý nguyện."
Lại có vô lượng Dược Xoa Đại Tướng, các La Sát Vương, Phú Đơn Na Vương, Cưu Bàn Trà Vương, Tỳ Xá Già Vương, Tần Na Dạ Ca, các Đại Quỷ Vương, và các Quỷ Soái, cũng chắp tay đảnh lễ trước Phật mà bạch rằng: "Chúng con cũng xin thệ nguyện hộ trì người này, khiến cho tâm Bồ đề sớm được viên mãn."
Lại có vô lượng Nhật Nguyệt Thiên Tử, Phong Sư, Vũ Sư, Vân Sư, Lôi Sư, cùng Điện Bá, các quan tuần niên, quyến thuộc các vì sao, cũng đảnh lễ dưới chân Phật trong hội chúng và bạch rằng: "Chúng con cũng xin bảo hộ người tu hành này, an lập đạo tràng, được không sợ hãi."
Lại có vô lượng Sơn Thần, Hải Thần, tất cả Thổ Địa, Thủy Lục Không Hành, tinh linh vạn vật, cùng Phong Thần Vương, chư Thiên cõi Vô Sắc, đồng thời cúi đầu trước Như Lai mà bạch rằng: "Chúng con cũng xin bảo hộ người tu hành này, được thành Bồ đề, vĩnh viễn không có ma sự.
Lúc đó, tám vạn bốn ngàn na do tha hằng hà sa câu chi vị Bồ Tát Kim Cang Tạng Vương, trong đại hội, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật và bạch rằng: "Thưa Đức Thế Tôn! Như chúng con tu hành nghiệp công đức, từ lâu đã thành Bồ đề, không lấy Niết bàn, thường theo chú này, cứu hộ những người tu hành Chánh định Tam ma đề trong đời mạt pháp.
Thưa Đức Thế Tôn! Như những người tu tâm cầu chánh định này, nếu ở đạo tràng và nơi kinh hành, cho đến khi tản tâm vui chơi trong thôn làng, đồ chúng của chúng con, thường sẽ theo hầu, bảo vệ người này. Dù cho Ma Vương Đại Tự Tại Thiên, tìm cách cũng không thể được. Các tiểu quỷ thần, cách xa người thiện này mười do tuần. Ngoại trừ những người phát tâm vui tu thiền định.
Thưa Đức Thế Tôn! Nếu như ác ma hoặc quyến thuộc ma, muốn đến xâm nhiễu người thiện này, con sẽ dùng chùy báu đánh nát đầu của chúng, giống như bụi trần. Thường khiến cho người này, mọi việc như ý.
07-16 Lúc đó, A Nan liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật và bạch rằng: "Chúng con ngu độn, thích nghe nhiều, đối với các tâm lậu chưa cầu xuất ly. Nhờ Phật từ bi dạy bảo, được chánh huân tu, thân tâm khoái lạc, được nhiêu ích lớn.
Thưa Đức Thế Tôn! Như thế tu chứng Phật tam ma đề, chưa đến Niết bàn. Vì sao gọi là Can Huệ địa, bốn mươi bốn tâm, đến thứ tự nào, được mắt tu hành. Đến phương sở nào, gọi là vào địa. Vì sao gọi là Đẳng Giác Bồ Tát.
Khi nói lời này xong, năm vóc gieo xuống đất. Đại chúng một lòng, ngóng chờ từ âm của Phật, trừng mắt ngóng trông.
07-17 Lúc đó, Đức Thế Tôn khen A Nan rằng: Lành thay! Lành thay! Các ông thật có thể vì khắp đại chúng, và tất cả chúng sinh trong đời mạt pháp, tu tam ma đề cầu đại thừa, từ phàm phu đến đại Niết bàn, treo bày con đường tu hành chân chánh vô thượng. Nay ông hãy lắng nghe. Ta sẽ vì ông mà nói. A Nan và đại chúng, chắp tay, lắng lòng, im lặng tiếp nhận lời dạy.
Phật dạy: A Nan nên biết. Diệu tính viên minh, lìa các danh tướng, vốn dĩ không có thế giới chúng sinh. Do vọng có sinh. Do sinh có diệt. Sinh diệt gọi là vọng. Diệt vọng gọi là chân. Đó gọi là Như Lai Vô Thượng Bồ Đề, và Đại Niết Bàn, y theo hai tên gọi này.
A Nan. Nay ngươi muốn tu chân tam ma địa, thẳng đến Đại Niết Bàn của Như Lai, trước hết phải nhận biết hai nhân điên đảo của chúng sinh và thế giới này. Điên đảo không sinh, thì đây là chân tam ma địa của Như Lai.
Chúng sanh điên đảo
A Nan. Vì sao gọi là chúng sinh điên đảo? A Nan. Do tánh tâm sáng, tánh sáng tròn đầy. Do sáng thấy chân thật, tánh vọng thấy sanh. Từ rốt ráo không trở thành rốt ráo có. Do hữu và sở hữu này, chẳng phải nhân và sở nhân, trụ chỗ trụ tướng, hoàn toàn không có căn bản. Vốn dĩ không trụ này, thiết lập thế giới, và các chúng sinh. Mê mẩn viên minh vốn có, là sanh hư vọng. Vọng tính không có thực thể, chẳng có chỗ nương tựa. Muốn trở lại chân thật, muốn chân thật thì đã chẳng phải là chân như tự tánh. Chẳng phải chân mà cầu trở lại, oan uổng thành chẳng phải tướng. Chẳng sinh chẳng trụ, chẳng tâm chẳng pháp, luân chuyển phát sinh. Sinh lực phát sáng, huân tập thành nghiệp. Cộng nghiệp tương cảm. Do có cảm nghiệp mà tương diệt tương sinh. Do đó có chúng sinh điên đảo.
Thế giới điên đảo
A Nan. Thế nào gọi là thế giới điên đảo? Là vì hữu và sở hữu, phân đoạn sai lầm sinh ra, do đó Giới được thành lập.
Chẳng phải nhân và sở nhân, vô trụ sở trụ, luôn luôn chuyển động và không dừng lại, do đó Thế hình thành.
Ba đời bốn phương, hòa hợp giao thoa, biến hóa thành vô số chúng sinh thuộc 12 loại.
Vì vậy, thế giới do chuyển động mà có âm thanh. Do âm thanh mà có sắc. Do sắc có mùi hương. Do mùi hương mà có xúc. Do xúc mà có vị. Do vị mà biết pháp. Do sáu loại vọng tưởng sai lầm tạo thành nghiệp tánh, 12 phân loại (12 nhân duyên) do đó mà luân hồi. Vì vậy, trong thế gian này, âm thanh, mùi, vị, xúc giác, trải qua 12 biến hóa để trở thành một vòng quay. Do vòng quay điên đảo này, mà có thế giới trứng sinh, thai sinh, ẩm sinh, hóa sinh, hữu sắc, vô sắc, hữu tưởng, vô tưởng, không phải hữu sắc, cũng không phải vô sắc, không phải hữu tưởng, cũng không phải vô tưởng.
A Nan. Vì thế giới hư ảo luân hồi, luôn chuyển động và điên đảo, nên khí hòa hợp tạo thành tám vạn bốn ngàn phiền não loạn tưởng. Vì vậy có loài trứng sinh (già la), luân chuyển trong các cõi nước. Cá, chim, rùa, rắn, các loài đầy dẫy.
Vì thế giới ô nhiễm luân hồi, luôn bị dục vọng chi phối và đảo lộn, nên khí hòa hợp tạo thành tám vạn bốn ngàn phiền não loạn tưởng theo chiều ngang và chiều dọc. Vì vậy có loài thai sinh (thai nhi), luân chuyển trong các cõi nước. Người, súc vật, rồng, tiên, các loài đầy dẫy.
Vì thế giới chấp trước luân hồi, luôn bị dục vọng chi phối và đảo lộn, nên khí hòa hợp tạo thành tám vạn bốn ngàn phiền não loạn tưởng, luôn thay đổi và đảo lộn. Vì vậy có loài ẩm sinh (thân thể bị bao bọc bởi chất ẩm), luân chuyển trong các cõi nước. Các loài sinh vật đơn giản, chậm chạp, bò trườn, các loài đầy dẫy.
Vì thế giới luôn biến đổi và luân hồi, luôn bị cái giả chi phối và đảo lộn, nên khí hòa hợp tạo thành tám vạn bốn ngàn phiền não loạn tưởng mới và cũ. Vì vậy có loài hóa sinh, luân chuyển trong các cõi nước. Luôn thay đổi, bay lượn, các loài đầy dẫy.
Vì thế giới luôn bị vướng mắc trong luân hồi, luôn bị chướng ngại và đảo lộn, nên khí hòa hợp tạo thành tám vạn bốn ngàn phiền não loạn tưởng, sáng chói và rực rỡ. Vì vậy có loài chúng sanh sắc tướng, luân chuyển trong các cõi nước. Mang lại điềm lành và điềm dữ, tinh thần sáng suốt, các loài đầy dẫy.
Do thế giới tiêu tán luân hồi, vì mê hoặc điên đảo. Hòa hợp ám thành tám vạn bốn ngàn uẩn ẩn loạn tưởng. Do đó mà có chúng sanh vô sắc, lưu chuyển quốc độ. Không tán tiêu trầm, loài này đầy dẫy.
Do thế giới ảo ảnh luân hồi, vì ảnh điên đảo. Hòa hợp ký ức thành tám vạn bốn ngàn tiềm kết loạn tưởng. Do đó mà có chúng sinh hữu tưởng, lưu chuyển quốc độ. Thần quỷ tinh linh, loài này đầy dẫy.
Do thế giới ngu độn luân hồi, vì si điên đảo. Hòa hợp ngoan cố thành tám vạn bốn ngàn khô héo loạn tưởng. Do đó mà có chúng sinh vô tưởng, lưu chuyển quốc độ. Tinh thần hóa thành đất, gỗ, kim loại, đá, loài này đầy dẫy.
Do thế giới tương đãi luân hồi, vì ngụy trang điên đảo. Hòa hợp nhiễm thành tám vạn bốn ngàn do y loạn tưởng. Do đó mà có chúng sinh phi hữu sắc tướng, thành chúng sanh sắc giới, lưu chuyển quốc độ. Các loài sứa biển, lấy tôm làm mắt, loài này đầy dẫy.
Do thế giới tương dẫn luân hồi, vì tính điên đảo. Hòa hợp chú thành tám vạn bốn ngàn hô triệu loạn tưởng. Do đó mà có chúng sinh phi vô sắc tướng, thuộc chúng sanh cõi vô sắc, lưu chuyển quốc độ. Chú nguyền chán ghét sự sống, loài này đầy dẫy.
Do thế giới hợp vọng luân hồi, vì ảo ảnh điên đảo. Hòa hợp biến dị thành tám vạn bốn ngàn hồi hỗ loạn tưởng. Do đó mà có chúng sinh phi hữu tưởng tướng, thành chúng sanh cõi tưởng, lưu chuyển quốc độ. Các loài Bồ Lô dị chất tương thành, loài này đầy dẫy.
Do thế giới oán hại luân hồi, vì sát điên đảo. Hòa hợp quái dị thành tám vạn bốn ngàn ý nghĩ ăn cha mẹ. Do đó mà có chúng sinh phi vô tưởng tướng, thuộc chúng sanh cõi vô tưởng, lưu chuyển quốc độ. Như loài cú đất, nương tựa cục đất làm con, và chim phá kính lấy quả cây độc, ôm ấp làm con mình. Con mình thành hình, cha mẹ đều gặp họa bị ăn thịt, loài này đầy dẫy.
Gọi là mười hai loại chúng sanh.
08-01 A Nan. Như vậy mỗi loài chúng sinh, đều có mười hai loại điên đảo. Giống như người ấn mắt sanh ra nhìn thấy hoa bay loạn xạ. Do điên đảo Tâm vốn diệu viên chân tịnh sáng suốt, nên bị những ý nghĩ hư vọng hỗn loạn này che lấp. Nay ông tu chứng Phật tam ma đề, phải từ cội nguồn của những ý nghĩ hỗn loạn này, mà thiết lập thứ tự ba giai đoạn tu tập, mới có thể trừ diệt được chúng. Ví như trong một cái bình sạch, trước hết phải đổ bỏ mật độc, sau đó dùng nước nóng hòa với tro và hương liệu để rửa sạch bình, cuối cùng mới có thể chứa đựng cam lộ.
Ba loại thứ tự
Thế nào gọi là ba loại thứ tự?
Một là tu tập, trừ bỏ trợ nhân của nó.
Hai là chân tu, khoét bỏ chánh tánh của nó.
Ba là tăng tiến, trái với hiện nghiệp của nó.
Trợ nhân
A Nan. Thế nào là trợ nhân? A Nan. Thế giới mười hai loài chúng sinh như vậy, không thể tự tồn tại, phải nương vào bốn loại thức ăn để sống. Đó là đoạn thực, xúc thực, tư thực và thức thực. Vì vậy, Đức Phật nói tất cả chúng sinh đều nương vào thức ăn để sống.
A Nan. Tất cả chúng sinh, ăn vị ngọt nên sống, ăn chất độc nên chết. Những chúng sinh này cầu tam ma đề, phải đoạn năm loại rau cay của thế gian. Năm loại cay này, ăn chín thì phát dâm, ăn sống thì tăng sân giận.
Như thế, người ăn cay trong thế gian, dù có thể tuyên nói mười hai bộ kinh, mười phương thiên tiên cũng chê mùi hôi tanh của họ, đều xa lánh. Các ngạ quỷ, nhân lúc họ ăn, liền liếm môi miệng họ, thường ở cùng với quỷ, phước đức ngày càng tiêu hao, lâu dài không có lợi ích.
Người ăn cay này tu tam ma đề, Bồ Tát, thiên tiên, thiện thần mười phương đều không đến bảo hộ. Ma vương có đại lực được dịp thừa cơ, hiện làm thân Phật, đến nói pháp cho họ, phỉ báng giới cấm, khen ngợi dâm, giận, si. Khi mạng chung, tự làm quyến thuộc của ma vương. Khi hưởng hết phước báo của ma, sẽ đọa vào địa ngục vô gián.
A Nan. Người tu Bồ đề phải đoạn tuyệt năm loại rau cay. Đó gọi là giai đoạn thứ tự tu hành tăng tiến thứ nhất.
Chánh tánh
Thế nào là chánh tánh? A Nan. Chúng sinh này khi vào tam ma đề, trước hết phải nghiêm trì giới luật thanh tịnh, vĩnh đoạn dâm tâm, không ăn thịt rượu, dùng lửa để làm sạch thức ăn, không ăn đồ sống.
A Nan. Người tu hành này, nếu không đoạn dâm dục và sát sinh, thì không thể xuất tam giới. Nên quán dâm dục giống như rắn độc, như thấy oán tặc. Trước tiên phải trì thanh văn tứ khí bát khí, giữ thân bất động. Sau hành Bồ Tát thanh tịnh luật nghi, giữ tâm bất động.
Cấm giới thành tựu, thì vĩnh viễn không còn nghiệp tương sinh tương sát trong thế gian. Trộm cắp không làm, không có gánh vác lẫn nhau, cũng không trả nợ cũ trong thế gian.
Người thanh tịnh này tu tam ma đề, nhục thân cha mẹ, không cần thiên nhãn, tự nhiên nhìn thấy mười phương thế giới. Thấy Phật nghe pháp, thân cận phụng trì thánh chỉ. Được đại thần thông, du hành mười phương thế giới. Túc mệnh thanh tịnh, không gặp gian nan nguy hiểm.
Đó gọi là giai đoạn thứ tự tu hành tăng tiến thứ hai.
Hiện nghiệp
Thế nào là hiện nghiệp? A Nan. Người thanh tịnh trì cấm giới này, tâm không tham dâm, đối với sáu trần bên ngoài không chạy đuổi theo nhiều. Do không chạy theo, xoay chuyển về nguồn tự thân. Trần đã không duyên, căn không chỗ gặp gỡ. Dòng chảy ngược lại hoàn toàn hợp nhất, sáu dụng không hành. Mười phương quốc độ, sáng ngời thanh tịnh. Ví như lưu ly, bên trong treo trăng sáng. Thân tâm khoái nhiên, diệu viên bình đẳng, đạt được đại an ổn. Tất cả Như Lai mật viên tịnh diệu, đều hiện trong đó. Người này liền đạt được vô sinh pháp nhẫn. Từ đây lần lượt tu, tùy theo sở hành mà an lập thánh vị. Đó gọi là giai đoạn thứ tự tu hành tăng tiến thứ ba.
Can Huệ Địa
08-02 A Nan. Thiện nam tử này, khi dục ái đã khô khan, căn và cảnh không còn gặp gỡ. Phần còn lại trước mắt không còn tiếp tục sinh khởi. Giữ tâm hư minh, thuần túy là trí tuệ. Tuệ tính sáng ngời, chiếu khắp mười phương thế giới. Có được trí tuệ khô khan này, gọi là Can Huệ Địa.
Thập tín
Tín trụ.
Dục tập lúc ban đầu khô khan, chưa tiếp xúc với dòng chảy pháp của Như Lai. Liền dùng tâm này, dần dần đi vào (nhập lưu), (tâm) viên mãn diệu dụng khai nở. Từ (tâm) chân diệu viên mãn, lại phát khởi (tâm) chân diệu. Niềm tin diệu kỳ thường trụ. Tất cả vọng tưởng đều diệt tận không còn sót lại. (Trạng thái) trung đạo thuần khiết, chân thật. Gọi là (trụ) tín tâm.
Niệm Tâm Trụ
Khi lòng tin chân chính đã sáng tỏ, tất cả đều trở nên viên mãn thông suốt. Năm ấm, mười hai xứ, mười tám giới không thể làm chướng ngại. Như vậy cho đến quá khứ, vị lai, vô số kiếp, tất cả tập khí từ việc xả thân, thọ thân đều hiện ra trước mắt. Thiện nam tử này đều có thể nhớ lại, không hề quên lãng. Gọi là Niệm Tâm Trụ.
Tâm Tinh Tấn
Chân tâm vi diệu viên mãn thuần khiết. Chân tinh phát sinh biến hóa. Tập khí vô thủy đều thông suốt, trở nên tinh minh. Chỉ dùng tinh minh để tiến đến chân tịnh. Gọi là Tâm Tinh Tấn.
Trụ Tâm Trí Tuệ
Tâm tinh đã hiện tiền. Thuần túy là trí tuệ. Gọi là trụ Tâm Trí Tuệ.
Trụ Tâm Định
Giữ vững trí sáng. Trùm khắp tịch lặng. Tịch diệu thường ngưng. Gọi là Trụ Tâm Định.
Tâm Bất Thối
Định quang phát sáng. Tánh sáng vào sâu. Chỉ tiến không lui. Gọi là Tâm Bất Thối.
Tâm Hộ Pháp
Tâm tiến an nhiên giữ gìn không mất. Mười phương Như Lai khí phân giao tiếp. Gọi là Tâm Hộ Pháp.
Tâm Hồi Hướng
Duy trì Giác minh. Có thể dùng diệu lực, quay về từ quang của Phật, hướng về Phật mà an trụ. Giống như hai tấm gương, ánh sáng đối diện nhau. Trong đó diệu ảnh trùng trùng tương nhập. Gọi là Tâm Hồi Hướng.
Tâm Giới Trụ
Tâm quang kín đáo quay trở lại, đạt được sự ngưng đọng thường hằng của Phật, vô thượng diệu tịnh. An trụ vô vi, đạt được không mất. Gọi là Tâm Giới Trụ.
Tâm Nguyện Trụ
Trụ giới tự tại. Có thể du hành mười phương, nơi đến tùy theo ý nguyện. Gọi là Tâm Nguyện Trụ.
Thập trụ
08-03 A Nan. Thiện nam tử này, dùng phương tiện chân thật phát khởi mười tâm này. Tâm tinh phát huy, mười dụng tham gia, nhất tâm viên thành. Gọi là phát tâm trụ.
Trong tâm phát sáng, như lưu ly trong hiện vàng ròng. Dùng diệu tâm trước đây, bước lên thành đất. Gọi là trị địa trụ.
Tâm địa cùng biết, đều được rõ ràng. Du hành mười phương, không còn chướng ngại. Gọi là tu hành trụ.
Hành động cùng với Phật tương đồng. Thọ nhận khí phần của Phật. Như thân trung ấm tự tìm cha mẹ. Âm tín ngầm thông, vào chủng tánh Như Lai. Gọi là sinh quý trụ.
Đã du hành thai đạo, thân cận phụng dưỡng giác duệ. Như thai đã thành, hình tướng không thiếu. Gọi là phương tiện đầy đủ trụ.
Dung mạo như Phật. Tâm tướng cũng đồng. Gọi là chánh tâm trụ.
Thân tâm hợp thành, ngày càng tăng trưởng. Gọi là bất thoái trụ.
Mười thân linh tướng, nhất thời đầy đủ. Gọi là đồng chân trụ.
Hình thành xuất thai, thân làm Phật tử. Gọi là pháp vương tử trụ.
Biểu hiện thành người lớn. Như đại quốc vương đem các việc nước giao cho thái tử. Vị Sát Lợi vương thế tử trưởng thành. Trần thiết quán đảnh. Gọi là quán đảnh trụ.
Thập Hạnh
08-04 A Nan. Thiện nam tử này thành Phật tử rồi, đầy đủ vô lượng diệu đức của Như Lai. Mười phương tùy thuận. Gọi là hoan hỷ hạnh.
Khéo hay lợi ích tất cả chúng sinh. Gọi là nhiêu ích hạnh.
Tự giác giác tha, được không trái nghịch chống đối. Gọi là vô sân hận hạnh.
Chủng loại xuất sinh, cùng tận vị lai tế, ba đời bình đẳng, mười phương thông đạt. Gọi là vô tận hạnh.
Hết thảy hòa đồng, các loại pháp môn, được không sai lầm. Gọi là ly si loạn hạnh.
Liền ở trong cái đồng đó, hiển hiện mọi sự khác biệt. Mỗi mỗi tướng khác biệt, đều thấy là đồng. Gọi là thiện hiện hạnh.
Như thế cho đến mười phương hư không đầy đủ vi trần, trong mỗi mỗi trần hiện mười phương giới. Hiện trần hiện giới, không lưu ngại lẫn nhau. Gọi là vô trước hạnh.
Các loại hiện tiền, đều là đệ nhất ba la mật đa. Gọi là tôn trọng hạnh.
Như thế viên dung, có thể thành quy tắc của chư Phật mười phương. Gọi là thiện pháp hạnh.
Mỗi mỗi đều là thanh tịnh vô lậu, nhất chân vô vi, tánh bản nhiên vậy. Gọi là chân thật hạnh.
Thập Hồi Hướng
08-05 A Nan! Thiện nam tử này, khi đã viên mãn thần thông, thành Phật sự rồi, thuần khiết tinh chân, xa lìa các lưu hoạn, khi độ chúng sinh thì diệt trừ tướng độ, hồi tâm vô vi, hướng về đường Niết bàn, gọi là cứu hộ nhất thiết chúng sinh lìa tướng chúng sinh hồi hướng.
Hủy diệt những gì có thể hủy diệt, xa lìa mọi sự xa lìa", gọi là "Hồi hướng bất hoại".
Bản giác trạm nhiên, giác ngang bằng với giác của Phật, gọi là "Hồi hướng bình đẳng với tất cả chư Phật.
Hiển phát ánh sáng tự tánh, địa như địa của Phật, gọi là "Hồi hướng đến tất cả mọi nơi.
Thế giới Như Lai, thâm nhập lẫn nhau, không còn chướng ngại, gọi là Hồi hướng kho tàng công đức vô tận.
Ở cùng Phật địa, trong mỗi địa lại sinh ra nhân thanh tịnh, y theo nhân đó mà phát huy, đạt được đạo Niết bàn, gọi là Hồi hướng tùy thuận theo thiện căn bình đẳng.
Chân căn đã thành, mười phương chúng sinh đều là bản tánh của ta, tính đã viên thành, không mất chúng sinh, gọi là Hồi hướng tùy thuận bình đẳng quán sát tất cả chúng sinh.
Tức là tất cả pháp, lìa tất cả tướng, chỉ có tức và lìa, cả hai đều không chấp trước, gọi là Hồi hướng tướng chân như.
Thực sự đạt được sở như, mười phương không chướng ngại, gọi là Hồi hướng không ràng buộc giải thoát.
Tính đức viên thành, pháp giới lượng diệt, gọi là Hồi hướng pháp giới vô lượng.
Tứ gia hạnh
08-06 A Nan. Thiện nam tử này, khi đã hoàn toàn thanh tịnh bốn mươi mốt tâm, tiếp theo sẽ thành tựu bốn loại diệu viên gia hạnh.
Liền dùng giác ngộ của Phật làm tâm mình, hoặc xuất chưa xuất, giống như dùi lửa, muốn đốt cháy gỗ. Gọi là Noãn Địa.
Lại dùng tâm mình thành tựu những gì Phật đã đi qua, hoặc nương tựa không nương tựa, như leo lên núi cao, thân nhập hư không, phía dưới có chút chướng ngại nhỏ. Gọi là Đỉnh Địa.
Tâm và Phật cả hai đều đồng nhất, khéo đạt trung đạo. Như người hiểu việc (nhẫn), chẳng nhớ chẳng xuất. Gọi là Nhẫn Địa.
Số lượng tiêu diệt. Mê giác trung đạo, cả hai đều không còn thấy. Gọi là Thế Đệ Nhất Địa.
Thập địa
08-07 A Nan. Thiện nam tử này, ở nơi Đại Bồ đề khéo được thông đạt, giác thông Như Lai, trọn hết cảnh giới của Phật. Gọi là Hoan Hỷ Địa.
Dị tánh nhập đồng, đồng tánh cũng diệt. Gọi là Ly Cấu Địa.
Tịnh cực minh sanh. Gọi là Phát Quang Địa.
Minh cực giác mãn. Gọi là Diệm Huệ Địa.
Hết thảy đồng dị đều không thể đến. Gọi là Nan Thắng Địa.
Tánh vô vi chân như tịnh minh lộ. Gọi là Hiện Tiền Địa.
Cùng tận chân như tế. Gọi là Viễn Hành Địa.
Một tâm chân như. Gọi là Bất Động Địa.
Phát dụng chân như. Gọi là Thiện Huệ Địa.
08-08 A Nan. Các vị Bồ Tát này, từ đây trở đi, công phu tu tập hoàn tất, công đức đầy đủ viên mãn. Cũng từ địa này gọi là địa vị tu tập. Mây Từ che phủ biển Niết bàn. Gọi là Pháp Vân Địa.
Đẳng giác
Như Lai nghịch dòng, các vị Bồ Tát thuận dòng mà đến, giác tế nhập giao. Gọi là Đẳng Giác.
Diệu Giác
08-09 A Nan. Từ tâm Can Huệ đến Đẳng Giác rồi, giác ngộ này lúc mới bắt đầu đạt được sơ can huệ địa trong tâm kim cang (tự tánh), như vậy trùng trùng đơn kép mười hai lần, mới hết diệu giác, thành vô thượng đạo. Các địa vị này đều dùng kim cang (tự tánh) quán sát như huyễn mười loại ví dụ sâu xa. Trong xa ma tha, dùng giới luật của chư Như Lai, thanh tịnh tu chứng, dần dần thâm nhập.
08-10 A Nan. Như thế đều dùng ba tăng tiến, mà khéo hay thành tựu năm mươi lăm vị đường chân bồ đề. Người quán sát như vậy, gọi là chánh quán. Nếu quán sát khác, gọi là tà quán.
08-11 Lúc bấy giờ, Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử, ở trong đại chúng, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ chân Phật, và bạch Phật rằng: Kinh này nên gọi là gì? Con và chúng sinh nên phụng trì như thế nào?
08-12 Phật bảo Văn Thù Sư Lợi: Kinh này gọi là Đại Phật Đảnh Tất Đát Đa Bát Đát La Vô Thượng Bảo Ấn, Thập Phương Như Lai Thanh Tịnh Hải Nhãn. Cũng gọi là Cứu Hộ Thân Nhân, Độ Thoát A Nan, và Tỳ Kheo Ni Tánh trong hội này, đắc Bồ Đề Tâm, vào Biến Tri Hải. Cũng gọi là Như Lai Mật Nhân Tu Chứng Liễu Nghĩa. Cũng gọi là Đại Phương Quảng Diệu Liên Hoa Vương, Thập Phương Phật Mẫu Đà La Ni Chú. Cũng gọi là Quán Đảnh Chương Cú, Chư Bồ Tát Vạn Hạnh Thủ Lăng Nghiêm. Ông nên phụng trì.
08-13 Khi Phật nói lời này xong, ngay lập tức A Nan và đại chúng, đều được nghe Như Lai khai thị về ý nghĩa của mật ấn Bát Đát La. Đồng thời cũng được nghe danh mục và ý nghĩa thâm sâu của kinh này. Tất cả đều đốn ngộ về thiền na và các thánh vị tu tiến. Thấu hiểu được những lý lẽ thâm diệu, tâm tư trở nên hư tĩnh, ngưng đọng. Đoạn trừ sáu phẩm vi tế phiền não trong tâm tu hành của tam giới. Liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ chân Phật, chắp tay cung kính mà bạch Phật rằng: Đức Thế Tôn oai đức lớn! Âm thanh từ bi không ngăn ngại, khéo khai mở những mê hoặc vi tế sâu kín của chúng sinh, khiến cho thân tâm của chúng con hôm nay được khoái nhiên, đạt được lợi ích lớn lao.
Thưa Thế Tôn! Nếu tâm diệu minh chân tịnh này vốn dĩ biến mãn khắp tất cả, như vậy cho đến cỏ cây, động vật nhỏ bé trên mặt đất, bản nguyên chân như, cũng chính là chân thể thành Phật của Như Lai. Phật thể chân thật, vì sao lại có địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, tu la, người, trời, ... các đạo như vậy?
Thưa Thế Tôn! Các đạo này vốn dĩ tự có, hay là do chúng sinh vọng tập mà sinh ra?
Thưa Thế Tôn! Như Tỳ Kheo Ni Liên Hương Sen, giữ giới Bồ Tát, nhưng lại âm thầm hành dâm dục. Lại còn vọng ngôn rằng hành dâm không phải là giết, không phải là trộm, sẽ không có nghiệp báo. Sau khi nói lời này xong, trước tiên ở chỗ (âm hộ) nữ căn sinh ra ngọn lửa lớn, sau đó từ đốt xương bốc lửa thiêu đốt toàn thân, rồi đọa vào địa ngục vô gián.
Vua Lưu Ly và Tỳ Kheo Thiện Tinh. Vua Lưu Ly muốn tru diệt dòng họ Thích Ca (Cồ Đàm). Tỳ Kheo Thiện Tinh thì vọng ngôn rằng tất cả pháp đều là không. Khi còn sống thì thân đã rơi vào địa ngục A Tỳ.
Vậy các địa ngục này là có chỗ nhất định, hay là do tự nhiên mà có, do mỗi người tạo nghiệp riêng mà tự mình gánh chịu?
Cúi xin Đức Thế Tôn từ bi khai thị cho chúng con được hiểu rõ, để tất cả chúng sinh trì giới được nghe nghĩa lí quyết định này, mà hoan hỷ vâng giữ, cẩn trọng không phạm.
[Nội phần ngoại phần]
08-14 Đức Phật bảo A Nan: Lành thay! Câu hỏi này thật hay! Khiến cho chúng sinh không rơi vào tà kiến. Nay ông hãy lắng nghe. Ta sẽ vì ông mà nói.
A Nan. Tất cả chúng sinh vốn dĩ thực sự thanh tịnh. Do vọng kiến mà sinh ra tập khí vọng. Do đó mà phân chia thành nội phần và ngoại phần.
[Nội Phần]
A Nan. Nội phần tức là phần bên trong của chúng sinh. Do các ái nhiễm mà phát khởi vọng tình. Tình tích tụ không ngừng, có thể sinh ra nước ái. Vì thế chúng sinh, khi tâm nhớ đến thức ăn ngon, trong miệng liền chảy nước. Khi tâm nhớ đến người trước kia, hoặc thương hoặc ghét, mắt liền ngấn lệ. Tham cầu tài bảo, tâm phát sinh khát ái, toàn thân sáng bóng. Tâm nhiễm trước hành dâm, hai căn nam nữ, tự nhiên chảy dịch.
A Nan. Các ái tuy khác nhau, nhưng sự chảy ra và kết tụ thì giống nhau. (Chất lỏng) ẩm ướt không bốc lên mà tự nhiên rơi xuống. Đây gọi là nội phần.
[Ngoại Phần]
A Nan. Ngoại phần tức là phần bên ngoài của chúng sinh. Do các khát ngưỡng mà phát minh hư tưởng. Tưởng tích tụ không ngừng có thể sinh ra thắng khí. Vì thế chúng sinh, tâm trì cấm giới, toàn thân nhẹ nhàng thanh thoát. Tâm trì chú ấn, nhìn ngó hùng dũng kiên cường. Tâm muốn sinh thiên, mộng tưởng bay bổng. Tâm tồn tại Phật quốc, thánh cảnh mờ ảo hiện ra. Phụng sự thiện tri thức, coi nhẹ thân mạng.
A Nan. Các tưởng tuy khác nhau, nhưng sự nhẹ nhàng và bay bổng thì giống nhau. Bay động không chìm xuống, tự nhiên vượt qua. Đây gọi là ngoại phần.
08-15 A Nan. Hết thảy thế gian sinh tử tương tục. Sinh do thuận theo tập khí thói quen. Chết do biến lưu. Lúc lâm chung, khi chưa xả ấm xúc, thiện ác cả đời đều đồng thời hiện ra, chết nghịch sinh thuận, hai tập tướng giao nhau.
Thuần tưởng tức bay, ắt sinh lên trời. Nếu trong tâm bay bổng, kiêm cả phước lẫn huệ, cùng với nguyện thanh tịnh, tự nhiên tâm khai mở, thấy mười phương Phật, tất cả cõi tịnh, tùy theo nguyện mà vãng sinh.
Tình ít tưởng nhiều, nhấc nhẹ nhàng không xa. Liền thành phi tiên, đại lực quỷ vương, phi hành dạ xoa, địa hành la sát, du hành ở bốn cõi trời, đi lại không ngại. Trong đó nếu có thiện nguyện thiện tâm, hộ trì pháp của Ta. Hoặc hộ cấm giới, theo người trì giới. Hoặc hộ thần chú, theo người trì chú. Hoặc hộ thiền định, bảo trì pháp nhẫn. Những người này đều ở dưới tòa Như Lai.
Tình và tưởng ngang nhau, không bay không đọa, sinh vào cõi người. Tưởng sáng thì thông minh. Tình sâu thì đần độn.
Tình nhiều tưởng ít, trôi vào đường ngang sinh, nặng làm lông mao, nhẹ làm chim cánh.
Bảy tình ba tưởng, chìm xuống dòng nước, sinh ra ở cõi lửa, chịu khí mãnh liệt của lửa, thân làm ngạ quỷ, thường bị đốt cháy, nước có thể hại mình, không ăn không uống, trải qua trăm ngàn kiếp.
Chín tình một tưởng, xuống hang bánh xe lửa, thân nhập vào nơi giao nhau giữa gió và lửa, nhẹ thì sinh vào cõi hữu gián, nặng thì sinh vào cõi vô gián, hai loại địa ngục.
Thuần tình thì chìm xuống, vào địa ngục A Tỳ. Nếu trong tâm chìm xuống đó, có phỉ báng Đại thừa, hủy hoại cấm giới của Phật, cuồng vọng nói pháp, tham lam sự cúng dường của tín thí, lạm nhận sự cung kính, ngũ nghịch thập trọng, lại sinh vào mười phương địa ngục A Tỳ. Theo nghiệp ác đã tạo mà tự mình gánh chịu. Trong chúng đồng phần, cũng có nguyên nhân từ nơi đó. A Nan. Những điều này đều do chúng sinh tự tạo nghiệp mà cảm nhận. Tạo mười tập nhân, chịu sáu giao báo.
Mười tập nhân – tập khí dâm
08-16 Thế nào là mười nhân? A Nan. Một là, Dâm tập giao tiếp, phát sinh từ sự ma sát. Ma sát không ngừng, do đó có ánh lửa lớn mạnh, từ trong đó phát động. Như người dùng tay tự xoa xát nhau, cảm giác ấm áp hiện ra. Hai tập thiêu đốt lẫn nhau, nên có các việc như giường sắt, cột đồng. Vì thế, mười phương tất cả Như Lai đều xem việc hành dâm gọi là dục hỏa. Bồ Tát thấy dục, như tránh hố lửa.
Hai là, Tham tập giao kết tính toán, phát sinh từ sự hấp thụ. Hấp thụ không ngừng, do đó có băng giá kiên cố tích tụ, trong đó lạnh lẽo. Như người dùng miệng hút gió, có cảm giác lạnh sanh ra. Hai tập khí chèn ép lẫn nhau, nên có các việc như nứt nẻ như cánh hoa sen xanh đỏ trắng, hàn băng. Vì thế, mười phương tất cả Như Lai đều xem sự ham muốn nhiều gọi là nước tham. Bồ Tát thấy tham như tránh biển chướng khí.
Thứ ba, Mạn tập giao lăng, phát sinh từ sự dựa dẫm. Chạy trôi không ngừng, do đó có sự rong ruổi bôn ba, tích tụ sóng thành nước. Như người dùng miệng lưỡi tự nếm quyện vào nhau, do đó phát sinh nước. Hai tập khí cổ động lẫn nhau, nên có các việc như sông máu, sông tro, cát nóng, biển độc, dung đồng, tưới nuốt. Vì thế, mười phương tất cả Như Lai đều gọi ngã mạn là uống nước si. Bồ Tát thấy mạn như tránh hố lớn.
Bốn là, Sân tập giao xung, phát sinh từ sự trái ý. Trái ý kết tụ không ngừng, tâm nóng phát lửa, đúc khí thành vàng. Do đó có đao sơn, chông sắt, kiếm thọ, kiếm luân, búa việt, thương cưa. Như người ôm oan, sát khí bay động. Hai tập tương kích, nên có các việc như chém, cung, bẻ, chặt, đâm chích và đánh búa. Vì thế, mười phương tất cả Như Lai đều gọi sân hận là dao kiếm sắc bén. Bồ Tát thấy sân như tránh bị giết chóc.
Năm là, Trá tập giao dụ, phát sinh từ sự điều khiển. Dẫn dắt không ngừng, do đó có dây gỗ quấn treo. Như nước ngâm ruộng, cỏ cây sinh trưởng. Hai tập tương duyên, nên có các việc như vũ khí, cùm, xiềng xích, roi, đùi, gậy. Vì thế, mười phương tất cả Như Lai đều gọi gian trá là giặc gièm pha. Bồ Tát thấy xảo trá như sợ chó sói.
Sáu là, thói quen Cuồng cùng nhau dối gạt, phát sinh từ sự dối gạt lẫn nhau. Dối gạt không ngừng, tâm bay bổng tạo gian tà. Do đó có bụi đất, phân tiểu, ô uế bất tịnh. Như bụi theo gió, mỗi bên đều không thấy. Hai tập gia cố lẫn nhau, nên có các việc như chìm, bay, rơi, trôi nổi. Vì thế, mười phương tất cả Như Lai đều gọi lừa gạt là cướp giết. Bồ Tát thấy cuồng như giẫm phải rắn độc.
Bảy là, Oán tập giao hiềm, phát sinh từ sự ôm hận. Do đó có đá, bay, ném, hòm chứa, bậu cửa, bình, túi đựng. Như người âm độc, ôm giữ ác độc. Hai tập khí ăn nuốt lẫn nhau, nên có các việc như ném, bắt, bắn, vứt. Vì thế, mười phương tất cả Như Lai đều gọi oán gia là quỷ nghịch hại. Bồ Tát thấy oán như uống rượu độc.
Tám là, Kiến tập giao minh, như các thứ tà kiến, thấy giới cấm thủ, tà ngộ các nghiệp, phát sinh từ sự trái nghịch cự tuyệt, sinh ra tương phản. Do đó có vua quan sai chủ đày, chứng chấp văn tịch. Như người đi đường, qua lại thấy nhau. Hai tập tương giao, nên có các việc như khám xét tra hỏi quyền lực lừa dối, khảo tra, điều tra, thanh tra, khảo sát, soi sáng, đồng tử thiện và ác, tay cầm kịch bản để tranh luận. Vì thế, mười phương tất cả Như Lai, đều gọi ác kiến là hầm hố tà kiến. Bồ Tát thấy các chấp trước thiên lệch hư vọng, như vào hố độc.
Chín là, tập khí vu oan gia hại, phát sinh từ sự vu khống. Do đó có núi đá hợp lại, mài nghiền cày cuốc. Như người gièm pha, bức bách người lương thiện. Hai tập bài xích lẫn nhau, nên có các việc như thế chấp, đàn áp, đánh, đình chỉ, cau mày, đo lường. Vì thế, mười phương tất cả Như Lai đều gọi xuyên tạc phỉ báng oan ức là cọp gièm pha. Bồ Tát thấy vu oan xuyên tạc như gặp phải sét đánh.
Mười là, Thói quen tố tụng tuyên truyền giao tranh, phát sinh từ sự che giấu. Do đó có Thắp sáng ngọn nến. Như ở ban ngày, không thể giấu bóng. Hai tập khí tương tranh, nên có bạn ác, gương nghiệp, hỏa châu, vạch trần túc nghiệp, đối nghiệm các việc. Vì thế, mười phương tất cả Như Lai đều gọi che giấu là giặc âm độc. Bồ Tát thấy che giấu như đội núi cao, đi trên biển lớn.
[Sáu giao báo]
08-17 A Nan. Thế nào là sáu loại quả báo?
A Nan. Tất cả chúng sinh tạo nghiệp bằng sáu thức. Ác báo do nghiệp chiêu cảm từ sáu căn mà ra. Thế nào là ác báo từ sáu căn mà ra?
Một là, Kiến báo chiêu dẫn ác quả. Nghiệp thấy này giao nhau, thì khi lâm chung, trước tiên thấy lửa dữ dội tràn khắp mười phương thế giới. Thần thức người chết, bay xuống theo khói, vào địa ngục vô gián. Phát minh hai tướng. Một là minh kiến, thì có thể thấy khắp các loại ác vật, sinh ra vô lượng sợ hãi. Hai là ám kiến, tịch nhiên không thấy, sinh ra vô lượng kinh hãi. Như thế lửa thấy, đốt tai, có thể làm vạc nước sôi đồng nóng. Đốt mũi, có thể làm khói đen lửa tía. Đốt vị, có thể làm viên than sắt nghiền. Đốt xúc, có thể làm tro nóng lò than. Đốt tâm, có thể sinh ra sao lửa bắn ra, thổi quét không trung.
Hai là, quả báo của sự nghe, chiêu dẫn ác quả. Nghiệp nghe này giao nhau, thì khi lâm chung, trước tiên thấy sóng lớn nhấn chìm trời đất. Thần thức người chết, rơi xuống theo dòng nước, vào địa ngục vô gián. Phát minh hai tướng. Một là khai mở thính giác, nghe đủ thứ ồn ào, tinh thần hoảng loạn. Hai là bế tắc thính giác, lặng lẽ không nghe gì, u hồn chìm đắm. Sóng nghe như vậy, rót vào tai, thì có thể làm trách cứ, chất vấn. Rót vào thấy, thì có thể làm sấm, làm rống, làm khí ác độc. Rót vào mũi, thì có thể làm mưa làm sương mù, rải các độc trùng khắp thân thể. Rót vào vị, thì có thể làm mủ làm máu, đủ loại tạp uế. Rót vào xúc, thì có thể làm súc vật làm quỷ, làm phân làm nước tiểu. Rót vào ý, thì có thể làm điện làm mưa đá, phá hủy linh hồn.
Ba là, quả báo của khứu giác, chiêu dẫn ác quả. Nghiệp ngửi này giao nhau, thì khi lâm chung, trước tiên thấy độc khí tràn ngập gần xa. Thần thức người chết, từ đất vọt lên, vào địa ngục vô gián. Phát minh hai tướng. Một là thông khứu, bị các ác khí xông cực kì thâm trọng khiến tâm nhiễu loạn. Hai là tắc khứu, khí che lấp không thông, ngột ngạt ở trong đất. Như thế khí ngửi, xông vào mũi, thì có thể làm chất làm giày. Xông vào thấy, thì có thể làm lửa làm đuốc. Xông vào tai, thì có thể làm chìm làm chết đuối, làm biển làm sôi. Xông vào vị, thì có thể làm đói làm sảng khoái. Xông vào xúc, thì có thể làm nứt làm thối, làm núi thịt lớn, có trăm ngàn mắt, vô lượng sự rúc rỉa. Xông vào ý, thì có thể làm tro làm chướng khí, làm cát bay ném sỏi vỡ nát thân thể.
Bốn là, Vị báo chiêu dẫn ác quả. Nghiệp nếm này giao nhau, thì khi lâm chung, trước tiên thấy lưới sắt lửa dữ dội nóng bỏng, bao phủ khắp thế giới. Thần thức người chết, dưới treo xuyên qua lưới sắt, treo ngược đầu họ, rơi vào địa ngục vô gián. Phát minh hai tướng. Một là hấp thụ khí, kết thành hàn băng, đông nứt thân thịt. Hai là nhả khí, bay thành lửa dữ dội, thiêu đốt xương tủy. Như thế nếm vị. Thông qua sự nếm, thì có thể làm tiếp thọ làm nhận biết. Trải qua thấy, thì có thể làm nung nấu kim thạch. Trải qua nghe, thì có thể làm binh đao sắc bén. Trải qua mũi, thì có thể làm lồng sắt lớn, bao phủ quốc độ. Trải qua xúc, thì có thể làm cung làm tên, làm nỏ là xạ. Trải qua ý, thì có thể làm sắt nóng bay từ không trung mưa xuống.
Năm là, Xúc báo chiêu dẫn ác quả. Nghiệp xúc này giao nhau, thì khi lâm chung, trước tiên thấy núi lớn bốn mặt hợp lại, không còn lối ra. Thần thức người chết, thấy thành sắt lớn, rắn lửa chó lửa, hổ lang sư tử, ngưu đầu ngục tốt, mã đầu la sát, tay cầm thương giáo, đuổi vào thành môn, hướng địa ngục vô gián. Phát minh hai tướng. Một là hợp xúc, núi hợp lại chèn ép thân thể, xương thịt máu tan nát. Hai là ly xúc, dao kiếm chạm thân, chặt đứt tâm can. Như thế hợp xúc. Trải qua xúc, thì có thể làm đường làm quán, làm đình làm án. Trải qua thấy, thì có thể làm thiêu làm nhiệt. Trải qua nghe, thì có thể làm va chạm làm đánh ném, làm đâm thọc làm bắn xạ. Trải qua mũi, thì có thể làm cạo làm bì, làm nướng làm trói buộc. Trải qua vị, thì có thể làm lưỡi cày làm kìm kẹp, làm chém chặt làm cắt đứt. Trải qua ý, thì có thể làm rơi làm bay, làm chiên làm chích.
Sáu là, Tư (suy nghĩ) báo chiêu dẫn ác quả. Nghiệp suy nghĩ này giao nhau, thì khi lâm chung, trước tiên thấy ác phong thổi hư hoại cõi nước. Thần thức người chết, bị thổi lên không trung, xoay tròn rơi theo gió, đọa địa ngục vô gián. Phát minh hai tướng. Một là bất giác, mê cực thì hoang, trốn chạy không ngừng. Hai là bất mê, giác tri (nhận biết) thì khổ, vô lượng sự thiêu đốt, thống khổ vô cùng khó nhẫn chịu. Tà tư như vậy. Kết tư, thì có thể làm phương hướng làm nơi chỗ. Kết thấy, thì có thể làm gương làm chứng. Kết nghe, thì có thể làm tảng đá lớn, làm băng làm sương, làm đất làm sương mù. Kết mũi, thì có thể làm xe lửa lớn, thuyền lửa chuồng lửa. Kết nếm, thì có thể làm tiếng kêu lớn, làm hối hận làm khóc lóc. Kết xúc, thì có thể làm lớn làm nhỏ, làm trong một ngày vạn sinh vạn tử, làm nằm ngửa làm ngước mặt.
[Cõi Địa ngục]
08-18 A Nan. Đây gọi là mười nhân sáu quả địa ngục. Tất cả đều do chúng sinh mê vọng tạo ra. Nếu các chúng sinh, ác nghiệp đã tạo xong, vào địa ngục A Tỳ, chịu vô lượng khổ, trải qua vô lượng kiếp. Sáu căn mỗi căn tạo, và cả những gì đã làm lẫn cảnh lẫn căn, người này sẽ vào tám địa ngục vô gián. Thân khẩu ý ba nghiệp, làm giết trộm dâm, người này sẽ vào mười tám địa ngục. Ba nghiệp không lẫn nhau, ở giữa hoặc làm một giết một trộm, người này sẽ vào ba mươi sáu địa ngục. Thấy thấy một căn, đơn phạm một nghiệp, người này sẽ vào một trăm lẻ tám địa ngục. Do đó chúng sinh riêng làm riêng tạo. Ở trong thế giới vào cùng một chỗ. Vọng tưởng phát sinh, không phải vốn có.
[Cõi quỷ]
08-19 A Nan. Lại nữa, những chúng sinh này, không phải phá luật nghi, phạm giới Bồ Tát, hủy diệt Niết Bàn của Phật, và các nghiệp tạp nhạp khác, trải qua nhiều kiếp bị đốt cháy, sau khi tội lỗi hết, sẽ nhận thân hình các loài quỷ.
Nếu do tham lam vật phẩm mà phạm tội, người này sau khi tội lỗi hết, gặp vật liền biến thành hình, gọi là quái quỷ.
Do tham sắc đẹp mà phạm tội, người này sau khi tội lỗi hết, gặp gió liền biến thành hình, gọi là bạt quỷ.
Do tham mê hoặc mà phạm tội, người này sau khi tội lỗi hết, gặp súc vật liền biến thành hình, gọi là mị quỷ.
Do tham hận mà phạm tội, người này sau khi tội lỗi hết, gặp côn trùng liền biến thành hình, gọi là cổ độc quỷ.
Do tham luyến ký ức mà phạm tội, người này sau khi tội lỗi hết, gặp suy tàn liền biến thành hình, gọi là lệ quỷ.
Do tham kiêu ngạo mà phạm tội, người này sau khi tội lỗi hết, gặp khí liền biến thành hình, gọi là ngạ quỷ.
Do tham dối trá mà phạm tội, người này sau khi tội lỗi hết, gặp u ám liền biến thành hình, gọi là yểm quỷ.
Do tham danh tiếng mà phạm tội, người này sau khi tội lỗi hết, gặp tinh túy liền biến thành hình, gọi là võng lưỡng quỷ.
Do tham thành tựu mà phạm tội, người này sau khi tội lỗi hết, gặp ánh sáng liền biến thành hình, gọi là sai khiến quỷ.
Do tham bè phái mà phạm tội, người này sau khi tội lỗi hết, gặp người liền biến thành hình, gọi là truyền tống quỷ.
A Nan. Những người này đều do thuần túy theo tình mà đọa lạc, nghiệp lửa thiêu đốt khô khan, trên thì xuất hiện thành quỷ. Những điều này đều do vọng tưởng nghiệp của tự thân chiêu dẫn. Nếu ngộ được Bồ Đề, thì diệu viên minh vốn không có gì.
[Cõi súc sanh]
08-20 A Nan. Lại nữa, nghiệp quỷ đã hết, thì tình và tưởng đều thành không. Lúc đó ở thế gian gặp lại người đã từng mắc nợ, oán đối gặp nhau. Thân làm súc sinh, để trả nợ cũ.
Loại quỷ vật quái, vật tiêu báo hết, sinh vào thế gian, phần nhiều làm chim cú mèo.
Loại quỷ phong bạt, gió tan báo hết, sinh vào thế gian, phần nhiều làm điềm gở, tất cả các loài khác.
Loại quỷ súc mị, súc vật chết báo hết, sinh vào thế gian, phần nhiều làm loài cáo.
Loại quỷ trùng cổ, cổ diệt báo hết, sinh vào thế gian, phần nhiều làm loài độc.
Loại quỷ suy lệ, suy cùng báo hết, sinh vào thế gian, phần nhiều làm loài giun.
Loại quỷ thọ khí, khí tiêu báo hết, sinh vào thế gian, phần nhiều làm loài ăn.
Loại quỷ miên u, u ám tiêu tan báo hết, sinh vào thế gian, phần nhiều làm loài mặc.
Loại quỷ hòa tinh, hòa tan báo hết, sinh vào thế gian, phần nhiều làm loài ứng.
Loại quỷ minh linh, sáng diệt báo hết, sinh vào thế gian, phần nhiều làm điềm lành, tất cả các loài.
Loại quỷ nương người, người mất báo hết, sinh vào thế gian, phần nhiều làm loài tuần.
A Nan. Những loài này đều do nghiệp lửa làm khô khan, trả nợ cũ, bàng làm súc sinh. Những điều này cũng đều do nghiệp hư vọng của tự thân chiêu dẫn. Nếu ngộ được Bồ Đề, thì vọng duyên này vốn không có gì. Như lời ông nói về hoa sen báu... và vua Lưu Ly, Tỳ kheo Thiện Tinh. Ác nghiệp như vậy, vốn tự phát minh. Chẳng phải từ trời giáng xuống. Cũng chẳng phải từ đất vọt lên. Cũng chẳng phải do người khác cho. Tự vọng chiêu mời, cũng tự đến nhận. Trong tâm Bồ Đề, đều là vọng tưởng hư phù ngưng kết.
[Cõi người]
08-21 A Nan. Lại nữa, từ thân súc sinh trả nợ trước kia. Nếu kẻ trả nợ kia chia phần vượt quá số nợ phải trả, thì những chúng sinh này lại trở lại làm người, để đòi lại phần còn dư. Như người kia có sức mạnh lại có phước đức, thì ở trong loài người không mất thân người, để trả lại sức kia. Nếu không có phước đức, thì trở lại làm súc sinh, để trả lại phần còn thiếu. A Nan nên biết rằng, nếu dùng tiền bạc, hoặc dùng sức lực của họ, trả đủ thì dừng. Như ở trong khoảng thời gian đó, giết thân mạng của họ, hoặc ăn thịt của họ. Như thế cho đến trải qua vi trần kiếp, ăn thịt lẫn nhau, giết hại lẫn nhau. Giống như bánh xe luân chuyển, cùng nhau lên xuống, không có lúc ngừng nghỉ. Trừ khi có Xa Ma Tha (Thiền định) và Phật ra đời, không thể dừng lại. Ông nay nên biết.
Loại chim cú mèo kia, trả đủ lại hình, sinh vào cõi người, lẫn lộn vào loại người ngoan cố.
Loại điềm gở kia, trả đủ lại hình, sinh vào cõi người, lẫn lộn vào loại người khác biệt.
Loại cáo kia, trả đủ lại hình, sinh vào cõi người, lẫn lộn vào loại người tầm thường.
Loại độc kia, trả đủ lại hình, sinh vào cõi người, lẫn lộn vào loại người hung ác.
Loại giun kia, trả đủ lại hình, sinh vào cõi người, lẫn lộn vào loại người nhỏ mọn.
Loại ăn kia, trả đủ lại hình, sinh vào cõi người, lẫn lộn vào loại người nhu nhược.
Loại mặc kia, trả đủ lại hình, sinh vào cõi người, lẫn lộn vào loại người lao khổ.
Loại ứng kia, trả đủ lại hình, sinh vào cõi người, lẫn lộn vào loại người văn vẻ.
Loại điềm lành kia, trả đủ lại hình, sinh vào cõi người, lẫn lộn vào loại người sáng suốt.
Loại tuần kia, trả đủ lại hình, sinh vào cõi người, lẫn lộn vào loại người thông đạt.
A Nan. Những loài này đều do nợ cũ đã trả xong, lại được hình người. Đều do nghiệp tính toán điên đảo từ vô thủy đến nay, tương sinh tương giết. Nếu không gặp Như Lai, không nghe chánh pháp, thì ở trong trần lao mà luân chuyển theo lẽ tự nhiên. Hạng người này gọi là đáng thương xót.
[Cõi trời]
08-22 A Nan. Lại có những người, không y theo chánh giác tu Tam Ma Địa. Riêng tu vọng niệm, tồn tưởng hình cố định. Du hành ở núi rừng nơi người không thể đến. Có mười loại tiên. A Nan.
Những chúng sinh kia, kiên cố phục dược mà không nghỉ ngơi, đạo ăn uống viên thành, gọi là Địa hành tiên.
Kiên cố cỏ cây mà không nghỉ ngơi. Đạo thuốc viên thành, gọi là Phi hành tiên.
Kiên cố kim thạch mà không nghỉ ngơi. Đạo hóa viên thành, gọi là Du hành tiên.
Kiên cố động tác mà không nghỉ ngơi. Khí tinh viên thành, gọi là Không hành tiên.
Kiên cố tân dịch mà không nghỉ ngơi. Nhuận đức viên thành, gọi là Thiên hành tiên.
Kiên cố tinh sắc mà không nghỉ ngơi. Hấp túy viên thành, gọi là Thông hành tiên.
Kiên cố chú cấm mà không nghỉ ngơi. Thuật pháp viên thành, gọi là Đạo hành tiên.
Kiên cố tư niệm mà không nghỉ ngơi. Tư ức viên thành, gọi là Chiếu hành tiên.
Kiên cố giao cấu mà không nghỉ ngơi. Cảm ứng viên thành, gọi là Tinh hành tiên.
Kiên cố biến hóa mà không nghỉ ngơi. Giác ngộ viên thành, gọi là Tuyệt hành tiên.
A Nan. Những người này đều ở trong loài người luyện tâm, không tu chánh giác. Riêng đạt được sinh lý, thọ ngàn vạn năm. Nghỉ ngơi ở thâm sơn hoặc hải đảo, tuyệt dứt cõi người. Đây cũng là luân hồi vọng tưởng lưu chuyển. Không tu tam muội. Báo hết quay trở lại, tan vào các nẻo.
trời dục giới
08-23 A Nan. Những người thế gian, không cầu thường trú. Chưa thể xả bỏ ân ái vợ con. Đối với tà dâm, tâm không phóng dật. Trong sạch sáng suốt. Sau khi mạng chung, gần gũi với mặt trời và mặt trăng. Như vậy loại này, gọi là Tứ Thiên Vương Thiên.
Đối với vợ mình, dâm ái mỏng manh. Khi ở thanh tịnh, không được trọn vẹn. Sau khi mạng chung, vượt qua ánh sáng mặt trời và mặt trăng, ở trên đỉnh nhân gian. Hạng loại như vậy, gọi là Đao Lợi Thiên.
Gặp gỡ dục vọng tạm thời giao hoan, đi không nhớ nhung. Ở cõi nhân gian, động ít tĩnh nhiều. Sau khi mạng chung, ở trong hư không an trụ sáng ngời. Ánh sáng mặt trời và mặt trăng, chiếu lên không tới. Những người này tự có ánh sáng. Hạng loại như vậy, gọi là Tu Diệm Ma Thiên.
Hết thảy thời gian đều tĩnh lặng. Có sự chạm xúc đến, chưa thể trái nghịch. Sau khi mạng chung, lên trên tinh vi, không tiếp xúc với cõi người và trời ở dưới. Cho đến khi kiếp hoại, ba tai không thể đến. Hạng loại như vậy, gọi là Đâu Suất Đà Thiên.
Ta không có dục tâm, ứng với việc làm của ngươi. Khi bày biện, vị như nhai sáp. Sau khi mạng chung, sinh vào cõi Việt Hóa Địa. Hạng loại như vậy, gọi là Lạc Biến Hóa Thiên.
Không có tâm thế gian, cùng với thế gian làm việc. Đối với việc làm giao tiếp, rõ ràng vượt qua. Sau khi mạng chung, khắp nơi có thể vượt qua cõi Hóa Vô Hóa. Hạng loại như vậy, gọi là Tha Hóa Tự Tại Thiên.
A Nan. Như vậy sáu tầng trời, hình tuy xuất động, tâm tích vẫn giao nhau. Từ đây trở về sau, gọi là Dục Giới.
Cõi Trời Sơ Thiền
09-01 A Nan. Thế gian tất cả những người tu tâm, không nhờ thiền na, không có trí tuệ. Chỉ có thể giữ thân không hành dâm dục. Lúc đi hay lúc ngồi, tưởng niệm đều không. Ái nhiễm không sinh, không lưu luyến dục giới. Người này nên niệm thân mình là bạn đồng tu Phạm hạnh. Hạng loại như vậy, gọi là Phạm Chúng Thiên.
Thói quen Dục đã trừ, lìa dục tâm hiện. Đối với các luật nghi, yêu thích thuận theo. Người này đúng lúc có thể hành đức Phạm hạnh. Hạng loại như vậy, gọi là Phạm Phụ Thiên.
Thân tâm diệu viên, uy nghi không thiếu. Thanh tịnh cấm giới, thêm vào minh ngộ. Người này đúng lúc có thể thống lĩnh Phạm chúng, làm Đại Phạm Vương. Hạng loại như, gọi là Đại Phạm Thiên.
A Nan. Ba bậc thắng lưu này, tất cả khổ não đều không thể bức bách. Tuy không phải chánh tu chân tam ma địa. Trong tâm thanh tịnh, các lậu (phiền não) không dao động. Gọi là Sơ Thiền.
Cõi Trời Nhị Thiền
09-02 A Nan. Kế đến cõi Phạm Thiên, thống nhiếp người cõi Phạm, viên mãn Phạm hạnh. Tâm trong sáng không dao động, tịch tĩnh vắng lặng sinh quang. Hạng loại như vậy, gọi là Thiểu Quang Thiên.
Quang quang soi sáng lẫn nhau, chiếu diệu vô tận, ánh khắp mười phương giới, biến thành lưu ly, hạng loại như vậy, gọi là Vô Lượng Quang Thiên.
Hấp trì viên quang, thành tựu giáo thể. Phát hóa thanh tịnh, ứng dụng vô tận. Hạng loại như vậy, gọi là Quang Âm Thiên.
A Nan. Ba bậc thắng lưu này, hết thảy ưu huyền đều không thể bức bách. Tuy không phải chánh tu chân tam ma địa. Trong tâm thanh tịnh, thô lậu đã hàng phục. Gọi là Nhị Thiền.
Cõi Trời Tam Thiền
A Nan. Những người sống trên cõi trời như vậy, khi ánh sáng tụ lại thành âm thanh, âm thanh ấy lại tỏa ra những điều kỳ diệu, phát triển thành những hành động tinh tế, đạt được niềm vui tịch diệt. Hạng này được gọi là cõi trời Thiểu Tịnh.
Khi sự tĩnh lặng và trống không hiện tiền, dẫn phát vô biên, thân tâm nhẹ nhàng và an lạc, đạt được niềm vui tịch diệt. Hạng này được gọi là cõi trời Vô Lượng Tịnh.
Khi thế giới thân tâm, tất cả đều trở nên viên mãn và thanh tịnh, đức hạnh thanh tịnh được thành tựu, chỗ dựa vững chắc hiện tiền, quy hướng về niềm vui tịch diệt. Hạng này được gọi là cõi trời Biến Tịnh.
A Nan. Ba hạng người thù thắng này, có sự thuận theo lớn lao, thân tâm an ổn và đạt được niềm vui vô lượng. Mặc dù không đạt được chân chính Tam Ma Địa, nhưng trong tâm an ổn, niềm vui đã hoàn toàn đầy đủ. Được gọi là Tam Thiền.
Cõi Trời Tứ Thiền
09-04 A Nan. Lại có những người trời, không ép buộc thân tâm, nguyên nhân của khổ đau đã hết. Niềm vui không thường trú, lâu rồi cũng sẽ hoại diệt và sinh ra. Hai tâm khổ và vui cùng một lúc đều xả bỏ. Tướng thô trọng diệt mất, tánh phước thanh tịnh sinh ra. Hạng này, gọi là cõi trời Phước Sinh.
Tâm xả bỏ viên dung, thắng giải thanh tịnh. Trong phước không bị che chướng, được diệu tùy thuận, tận cùng tương lai. Hạng này, gọi là cõi trời Phước Ái.
A Nan. Từ cõi trời này, có hai ngả rẽ.
Nếu đối với tâm trước kia, ánh sáng tịnh vô lượng, phước đức viên minh, tu chứng mà trụ. Hạng này, gọi là cõi trời Quảng Quả.
Nếu đối với tâm trước kia, đồng thời chán ghét khổ vui, tinh chuyên nghiên cứu tâm xả bỏ, liên tục không ngừng. Viên cùng con đường xả bỏ, thân tâm đều diệt. Tâm tư hôi ngưng, trải qua năm trăm kiếp. Người này đã lấy sinh diệt làm nhân. Không thể phát minh tánh không sinh diệt. Nửa kiếp đầu diệt, nửa kiếp sau sinh. Hạng này, gọi là cõi trời Vô Tưởng.
A Nan. Bốn bậc thắng lưu này, không bị tất cả cảnh giới khổ vui thế gian lay động. Tuy không phải là vô vi chân bất động địa. Có tâm sở đắc, công dụng thuần thục. Gọi là Tứ Thiền.
Năm Cõi Trời Bất Hoàn
09-05 A Nan. Trong số này lại có năm cõi trời Không Hoàn. Ở trong cõi dưới, chín phẩm tập khí đều đồng thời diệt tận. Khổ vui đều quên. Dưới không còn chỗ ở. Nên trong tâm xả bỏ cùng chung, an lập chỗ ở.
A Nan. Khổ vui đều diệt, tâm tranh đấu không giao nhau. Hạng này, gọi là Vô Phiền Thiên.
Thân tâm độc hành, nghiên giao không có chỗ. Hạng này, gọi là Vô Nhiệt Thiên.
Mười phương thế giới, cái thấy vi diệu viên mãn trong sáng, không còn bụi trần hết thảy trầm cấu. Hạng này, gọi là Thiện Kiến Thiên.
Tinh kiến hiện tiền, nung đúc không ngại. Hạng này, gọi là Thiện Hiện Thiên.
Rốt ráo quần thể, cùng tột sắc tánh, vào vô biên tế. Hạng này, gọi là Trời Sắc Cứu Cánh.
09-06 A Nan. Cõi trời Không Hoàn này, những bậc Tứ Thiền bốn vị Thiên Vương, chỉ có thể nghe danh mà không thể thấy được. Giống như ngày nay ở thế gian, nơi hoang dã thâm sơn, đạo tràng của các bậc Thánh Đạo, đều do các vị A La Hán trụ trì, nên người thô tục thế gian không thể thấy được.
09-07 A Nan. Mười tám tầng trời này, sống độc lập không giao tiếp, chưa hết hình hài trói buộc. Từ đây trở về sau, gọi là Sắc Giới.
Cõi trời vô sắc giới
A Nan. Lại nữa, từ cõi Sắc Cứu Cánh ở biên giới của cõi Sắc Giới, ở giữa đó lại có hai ngả rẽ.
Nếu đối với tâm xả bỏ mà phát minh trí tuệ, ánh sáng trí tuệ viên thông, liền thoát khỏi cõi trần, thành A La Hán, vào Bồ Tát thừa. Hạng tu hành này, gọi là Hồi Tâm Đại A La Hán.
Nếu ở trong tâm xả, xả ly thành tựu. Cảm thấy thân là chướng ngại, tiêu chướng ngại vào không. Hạng tu hành này, gọi là Không Xứ.
Khi các chướng ngại đã tiêu tan, không có chướng ngại cũng không có diệt. Trong đó chỉ còn lưu A Lại Da Thức. Hoàn toàn ở trong Mạt Na một nửa vi tế. Hạng tu hành này, gọi là Thức Xứ.
Không và sắc đều mất, tâm thức đều diệt. Mười phương tịch nhiên, hoàn toàn không có chỗ đến. Hạng tu hành này, gọi là Vô Sở Hữu Xứ.
Tánh thức bất động, dùng diệt để nghiên cứu, trong vô tận phát tuyên tính tận. Như tồn tại không tồn tại. Như tận không tận. Hạng tu hành này, gọi là Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ.
Những người này cùng tột hư không, không cùng tột lý không.
Từ cõi trời Không Hoàn, bậc Thánh Đạo cùng tột, hạng tu hành này, gọi là Bất Hồi Tâm Thuần A La Hán.
Nếu từ cõi trời Vô Tưởng và các ngoại đạo, cùng tột hư không không trở về, mê lầm lậu hoặc không nghe biết, liền vào luân chuyển.
09-08 A Nan. Tất cả những người trên trời, mỗi người đều là phàm phu nhận quả báo do nghiệp của mình, khi quả báo hết thì lại luân hồi. Các vị Thiên Vương kia chính là các vị Bồ Tát du hành trong tam ma địa, dần dần thứ tự tăng tiến, hồi hướng về con đường tu hành của các bậc Thánh. A Nan. Bốn cõi trời Vô Sắc này, thân tâm đều diệt tận, định tính hiện tiền, không có sắc do nghiệp quả. Từ đây đến khi chung thân, gọi là Vô Sắc Giới. Tất cả những điều này đều không hiểu rõ tâm diệu giác minh (tự tánh). Tích lũy vọng tưởng phát sinh, vọng có tam giới. Ở giữa vọng theo bảy nẻo chìm đắm. Chúng sanh mỗi người theo hạng loại của mình.
A Tu La
09-09 A Nan. Lại nữa, trong ba cõi này, lại có bốn loại A Tu La.
Nếu ở trong quỷ đạo dùng sức hộ pháp, nương thần thông vào không. A Tu La này từ trứng mà sinh, thuộc quỷ thú.
Nếu ở trong cõi trời bị giáng đức giáng xuống, chỗ ở gần mặt trời và mặt trăng. A Tu La này từ thai mà ra, thuộc nhân thú.
Có A Tu La Vương nắm giữ thế giới, sức mạnh thông suốt không sợ hãi, có thể tranh giành quyền lực với Phạm Vương và Đế Thích Tứ Thiên. A Tu La này do biến hóa mà có, thuộc thiên thú.
A Nan. Lại có một phần A Tu La hạ liệt, sinh ra ở đáy biển, chỗ hang nước sâu, sáng du hành trong hư không, tối về nước ngủ, A Tu La này do thấp khí mà có, thuộc súc sinh thú.
Bảy Thú
09-10 A Nan. Như vậy địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, người và thần tiên, trời... A Tu La. Nghiên cứu kỹ bảy nẻo, đều là các tướng hữu vi hôn trầm. Vọng tưởng thọ sinh. Vọng tưởng theo nghiệp. Nơi diệu viên minh, bổn tâm vô tác, đều như hoa đốm giữa hư không, vốn không có chỗ trụ. Chỉ là một hư vọng, không có gốc rễ.
09-11 A Nan. Những chúng sinh này, không nhận biết bản tâm, chịu luân hồi này, trải qua vô lượng kiếp, không đạt được chân tịnh, đều do thuận theo giết hại, trộm cắp, tà dâm. Ngược lại với ba điều này, lại sinh ra không giết hại, không trộm cắp, không tà dâm. Có danh gọi là quỷ luân. Không có danh gọi là thiên thú. Nghiêng theo tướng Có và không, khởi tính luân hồi. Nếu đạt được diệu phát tam ma địa, thì diệu thường tịch. Có và không cả hai đều không, không hai cũng diệt. Ngay cả không giết, không trộm, không dâm cũng không còn. Làm sao còn theo việc giết hại, trộm cắp, tà dâm nữa?
09-12 A Nan. Nếu không đoạn trừ ba nghiệp, mỗi mỗi đều có riêng tư. Do mỗi người đều có riêng tư, nhiều riêng tư cùng một chỗ, không phải là không có chỗ nhất định. Do tự vọng tưởng phát sinh, sinh vọng không có nhân, không thể tìm hiểu đến cùng. Ông gắng sức tu hành, muốn đạt được Bồ đề, cần trừ ba hoặc. Nếu không hết ba hoặc, dù có được thần thông, đều là công dụng hữu vi thế gian. Tập khí không diệt, rơi vào ma đạo. Dù muốn trừ vọng, càng thêm hư ngụy. Như Lai nói là kẻ đáng thương xót. Do ông vọng tự tạo. Không phải lỗi của Bồ đề. Nói như vậy, gọi là nói đúng. Nếu nói khác, tức là lời của ma vương.
Năm Mươi Ấm Ma
Ngay lúc đó, Đức Như Lai sắp rời khỏi pháp tòa. Trên giường sư tử, Ngài thu dọn bảy báu, quay về núi Tử Kim, rồi lại tựa vào ghế. Ngài phổ cáo đại chúng và A Nan rằng: "Các ông là những người hữu học, Duyên Giác, Thanh Văn, hôm nay hồi tâm hướng về Đại Bồ Đề Vô Thượng Diệu Giác. Ta nay đã nói pháp tu hành chân chính. Các ông vẫn chưa nhận biết những việc của ma sự vi tế trong việc tu tập Xa Ma Tha và Tỳ Bà Xá Na. Ma cảnh hiện ra, các ông không thể nhận biết. Rửa tâm không chính đáng, rơi vào tà kiến. Hoặc là do ấm ma của ông, hoặc lại là thiên ma. Hoặc bị quỷ thần ám, hoặc gặp phải ly mị. Tâm không sáng suốt, nhận giặc làm chính mình. Lại trong đó, đạt được ít mà cho là đủ. Như vị Tỳ Kheo ở Tứ Thiền không nghe biết, vọng nói chứng thánh. Báo trời đã hết, tướng suy hiện ra. Phỉ báng thân A La Hán, gặp phải hậu hữu, đọa địa ngục A Tỳ. Các ông nên lắng nghe kỹ. Ta nay vì các ông mà phân biệt rõ ràng.
09-13 Anan đứng dậy, cùng với những người đồng học trong hội chúng, vui mừng đảnh lễ, cúi đầu lắng nghe lời dạy từ bi.
09-14 Đức Phật bảo Anan và đại chúng: Các ngươi nên biết, trong thế giới hữu lậu, mười hai loại chúng sinh, bản thể tâm giác ngộ vi diệu sáng tỏ tròn đầy vốn không khác biệt với chư Phật mười phương. Do ông vọng tưởng mê lầm chân lý mà sinh ra lỗi lầm, từ si mê và ái dục mà phát khởi. Từ đó sinh ra khắp nơi mê lầm, nên có tánh không. Sự mê lầm ấy biến hóa không ngừng, từ đó thế giới sinh ra. Vậy nên, các cõi vi trần mười phương này, không có cõi nào là vô lậu, đều do vọng tưởng mê muội cứng đầu mà an lập. Nên biết rằng hư không sinh khởi trong tâm ông, giống như một đám mây điểm xuyết trong bầu trời trong xanh rộng lớn. Huống gì các thế giới lại nằm trong hư không.
Nếu một người trong các ông phát tâm chân thật trở về nguồn cội, thì hư không mười phương đều tan biến hết. Làm sao trong hư không ấy, các cõi nước lại không rung chuyển tan vỡ?
Các ông tu thiền, trang nghiêm tam-ma-địa. Chư Bồ Tát mười phương cùng các vị đại A-la-hán vô lậu, tâm tinh thông thấu suốt, ngay tại chỗ ấy trong lành yên tĩnh. Tất cả ma vương, quỷ thần và các cõi trời phàm phu, thấy cung điện của họ vô cớ sụp đổ, đại địa rung động, nước và đất bay tung, không ai không kinh hoàng sợ hãi. Phàm phu mờ tối, không nhận ra sự thay đổi và sai lầm. Những người ấy đều đạt được năm loại thần thông, chỉ trừ lậu tận, vẫn còn lưu luyến trần lao này. Làm sao các ông có thể phá vỡ chỗ của họ? Vì thế, quỷ thần, và các thiên ma, yêu tinh ma mị, khi ông đang ở trong tam-muội, đều kéo đến quấy nhiễu ông. Tuy nhiên, dù đám ma ấy có nổi giận lớn đến đâu, chúng cũng chỉ ở trong trần lao. Còn ông ở trong diệu giác, như gió thổi ánh sáng, như dao cắt nước, hoàn toàn không chạm đến nhau. Ông như nước sôi, chúng như băng cứng; hơi ấm dần lan tỏa, chẳng bao lâu chúng sẽ tan biến. Chúng chỉ ỷ vào thần lực, nhưng cũng chỉ là khách qua đường mà thôi.
Thành tựu bị phá hoại, do năm uẩn chủ nhân trong tâm ông. Chủ nhân nếu mê muội, khách sẽ thừa cơ lợi dụng. Khi ở trong thiền định, giác ngộ không nghi hoặc, thì ma sự kia chẳng làm gì được ông. Uẩn tan vào ánh sáng, thì đám tà ma kia đều chịu khí u ám. Ánh sáng có thể phá tan bóng tối, gần tự tiêu tan. Làm sao giữ lại được, làm rối loạn thiền định. Nếu không sáng tỏ giác ngộ, bị uẩn mê hoặc, thì ông, A-nan, chắc chắn sẽ thành con của ma, thành tựu người ma. Như Ma-đăng-già, thật là nhỏ bé thấp hèn. Nó chỉ dùng chú thuật với ông, phá hoại luật nghi của Phật. Trong tám vạn hạnh, chỉ hủy phạm một giới. Vì tâm thanh tịnh, nên chưa sa vào chìm đắm. Đây chính là điều làm hủy hoại toàn thân giác ngộ quý báu của ông. Như nhà quan tể tướng, bỗng nhiên bị tịch thu gia sản. Xoay chuyển tan rã, không thể nào cứu vãn được.
Sắc Ấm
09-15 A-nan nên biết. Khi ông ngồi đạo tràng, tiêu tan các niệm. Nếu các niệm ấy hết sạch, thì việc rời các niệm đều trở nên tinh sáng. Động tĩnh không thay đổi, nhớ quên như một. Khi an trụ nơi đây tức vào tam-ma-đề.
Giống như người mắt sáng, đứng trong bóng tối lớn, bản tính tinh diệu thanh tịnh, nhưng tâm chưa phát ra ánh sáng. Đây gọi là vùng trời của sắc ấm. Nếu mắt sáng rõ, mười phương rộng mở, không còn bóng tối mờ mịt, gọi là sắc ấm đã tận. Người ấy có thể vượt qua kiếp trược. Quan sát nguyên do, vọng tưởng kiên cố chính là gốc rễ của nó.
A nan, ở trong cảnh này, tinh tế nghiên cứu diệu minh, bốn đại không còn đan dệt, trong chốc lát, thân có thể vượt qua chướng ngại. Đây gọi là tinh anh trong sáng tràn đầy cảnh trước. Đây chỉ là công dụng tạm thời đạt được như vậy, không phải cảnh giớ chứng đắc của bậc thánh. Không nên xem đó là tâm thánh, gọi là cảnh giới thiện. Nếu tự cho là chứng thánh, sẽ bị đám tà ma thừa cơ.
A-nan, lại dùng tâm này tinh tế nghiên cứu diệu minh (tự tánh), bên trong thân thể thông suốt. Người ấy bỗng nhiên trong thân mình nhặt ra giun sán, thân tướng vẫn nguyên vẹn, không hề tổn hại. Đây gọi là tinh minh tràn đầy hình thể. Đây chỉ là tinh hành tạm thời đạt được như vậy, không phải chứng đắc cảnh giới của bậc thánh. Không xem đó là tâm thánh, gọi là cảnh giới thiện lành. Nếu tự cho là chứng thánh, sẽ bị đám tà ma thừa cơ.
Lại dùng tâm này tinh tế nghiên cứu trong ngoài, lúc ấy hồn phách, ý chí, tinh thần, ngoại trừ chấp thọ thân thể, còn lại đều thâm nhập lẫn nhau, luân phiên làm chủ làm khách. Bỗng nhiên trong không trung nghe tiếng thuyết pháp, hoặc nghe mười phương cùng truyền bá nghĩa lý bí mật. Đây gọi là tinh phách lần lượt rời hợp, thành tựu hạt giống thiện. Tạm thời đạt được như vậy, không phải chứng thánh. Không xem đó là tâm thánh, gọi là cảnh giới thiện lành. Nếu tự cho là chứng thánh, sẽ bị đám tà ma thừa cơ.
Lại dùng tâm này trong sáng rực rỡ, ánh sáng bên trong phát ra. Mười phương đều biến thành màu vàng ròng Diêm-phù-đàn. Tất cả mọi loài hóa thành Như Lai. Lúc ấy bỗng thấy Tỳ-lô-giá-na ngồi trên đài Thiên Quang, ngàn Phật vây quanh, trăm tỷ cõi nước và hoa sen cùng lúc hiện ra. Đây gọi là tâm hồn linh ngộ bị nhuốm màu, ánh sáng tâm nghiên cứu tỏa chiếu các thế giới. Tạm thời đạt được như vậy, không phải chứng thánh. Không xem đó là tâm thánh, gọi là cảnh giới thiện lành. Nếu tự cho là chứng thánh, sẽ bị đám tà ma thừa cơ.
Lại dùng tâm này tinh tế nghiên cứu diệu minh, quan sát không ngừng, áp chế hàng phục, chế ngự vượt qua. Lúc ấy bỗng nhiên mười phương hư không biến thành màu bảy báu, hoặc trăm báu, đồng thời tràn đầy, không ngăn ngại lẫn nhau. Xanh, vàng, đỏ, trắng, mỗi màu hiện rõ tinh khiết. Đây gọi là công lực áp chế vượt quá mức. Tạm thời đạt được như vậy, không phải chứng thánh. Không xem đó là tâm thánh, gọi là cảnh giới thiện lành. Nếu tự cho là chứng thánh, sẽ bị đám tà ma thừa cơ.
Lại dùng tâm này nghiên cứu trong sáng thấu suốt, tinh quang không loạn. Đột nhiên vào nửa đêm, trong phòng tối, thấy các vật rõ ràng như ban ngày, mà các vật trong phòng tối cũng không mất đi. Đây gọi là tâm tinh tế, trong sáng kín đáo, cái thấy thấu suốt bóng tối. Tạm thời đạt được như vậy, không phải chứng thánh. Không xem đó là tâm thánh, gọi là cảnh giới thiện lành. Nếu tự cho là chứng thánh, sẽ bị đám tà ma thừa cơ.
Lại dùng tâm này viên dung hòa vào hư không, bốn chi bỗng nhiên giống như cây cỏ, lửa đốt dao chém cũng không hề cảm giác. Lửa không thể đốt cháy, dù cắt thịt cũng như xẻ gỗ. Đây gọi là trần cảnh hòa hợp, sắp xếp tính chất bốn đại, một mực nhập vào sự thuần khiết. Tạm thời đạt được như vậy, không phải chứng thánh. Không xem đó là tâm thánh, gọi là cảnh giới thiện lành. Nếu tự cho là chứng thánh, sẽ bị đám tà ma thừa cơ.
Lại dùng tâm này thành tựu thanh tịnh, dụng công tịnh tâm đạt đến cực điểm, bỗng thấy đại địa mười phương sông núi đều thành cõi Phật, đầy đủ bảy báu, ánh sáng tràn khắp. Lại thấy hằng sa chư Phật Như Lai tràn đầy cõi hư không, lầu điện hoa lệ. Dưới thấy địa ngục, trên thấy cung trời, không bị chướng ngại. Đây gọi là tâm tưởng vui buồn ngưng tụ ngày càng sâu, tưởng lâu hóa thành. Không phải chứng thánh. Không nên xem đó là tâm thánh, gọi là cảnh giới thiện lành. Nếu tự cho là chứng thánh, sẽ bị đám tà ma thừa cơ.
Lại dùng tâm này nghiên cứu sâu xa, bỗng vào giữa đêm, từ xa thấy chợ búa, đường phố, họ hàng thân thích, hoặc nghe tiếng nói của họ. Đây gọi là tâm bị ép buộc đến cực điểm bay ra ngoài, nên thấy được cách xa. Không phải chứng thánh. Không xem đó là tâm thánh, gọi là cảnh giới thiện lành. Nếu tự cho là chứng thánh, sẽ bị đám tà ma thừa cơ.
Lại dùng tâm này nghiên cứu tinh chuyên đến cực điểm, thấy thiện tri thức, hình thể thay đổi. Trong chốc lát, vô cớ biến đổi đủ kiểu. Đây gọi là tâm tà, chứa đựng yêu mị, hoặc bị thiên ma nhập vào tâm can. Vô cớ thuyết pháp, thông đạt nghĩa lý vi diệu. Không phải chứng thánh. Không xem đó là tâm thánh, ma sự sẽ tan biến. Nếu tự cho là chứng thánh, sẽ bị đám tà ma thừa cơ.
09-16 A-nan, mười loại cảnh tượng thiền định như vậy đều do sắc uẩn tương tác với tâm, nên hiện ra những việc này. Chúng sinh ngu muội, không tự cân nhắc. Gặp nhân duyên này, mê muội không tự nhận biết, cho rằng đã đắc thánh. Thành đại Vọng ngữ, rơi vào ngục vô gián. Các ông nên y theo lời Như Lai sau khi diệt độ, trong thời mạt pháp, tuyên thuyết nghĩa này. Đừng để thiên ma thừa cơ lợi dụng. Giữ gìn che chở, thành tựu đạo vô thượng.
Thọ Ấm
09-17 A-nan, người thiện nam kia, trong khi tu tam-ma-đề và thiền định xa-ma-tha, khi sắc uẩn đã tận, thấy tâm chư Phật như hiện ra trong gương sáng. Dù có sở đắc nhưng chưa thể sử dụng. Giống như người bị bóng đè, tay chân vẫn nguyên vẹn, thấy nghe không mê muội, nhưng tâm bị khách tà tác động mà không thể cử động. Đây gọi là vùng trời của thọ uẩn. Nếu bóng đè tan biến, tâm rời khỏi thân, nhìn lại khuôn mặt mình, đi ở tự do, không còn bị ngăn ngại, gọi là thọ uẩn tận. Người ấy có thể vượt qua kiến trược. Quan sát nguyên do, vọng tưởng hư minh chính là gốc rễ của nó.
09-18 A-nan, người thiện nam kia, ở trong cảnh này được ánh sáng lớn chiếu rọi. Tâm phát sáng, nhưng nội tâm áp chế quá mức. Bỗng nhiên tại đó phát sinh lòng bi vô hạn. Thậm chí nhìn thấy muỗi mòng cũng như con trẻ, tâm sinh lòng thương xót, không kìm được nước mắt. Đây gọi là công dụng áp chế vượt quá mức. Nếu giác ngộ thì không có lỗi, không phải chứng thánh. Nếu hiểu rõ không mê, lâu dần tự tan biến. Nếu tự cho là chứng thánh, thì bi ma sẽ nhập vào tâm can. Thấy người thì buồn, khóc lóc vô hạn. Mất đi chánh định, sẽ theo đó chìm đắm đọa lạc.
09-19 A-nan, lại trong định ấy, các thiện nam thấy sắc uẩn tan, thọ uẩn rõ ràng. Tướng thù thắng hiện ra, cảm xúc quá mức. Bỗng nhiên trong đó sinh lòng dũng mãnh vô hạn. Tâm sắc bén, chí ngang bằng chư Phật. Cho rằng ba tăng-kỳ kiếp, một niệm có thể vượt qua. Đây gọi là công dụng vượt quá mức độ mạnh mẽ. Nếu giác ngộ thì không có lỗi, không phải chứng thánh. Nếu hiểu rõ không mê, lâu dần tự tan biến. Nếu tự cho là chứng thánh, thì cuồng ma sẽ nhập vào tâm can. Thấy người thì khoe khoang, ngã mạn không gì bằng. Tâm thậm chí trên không thấy Phật, dưới không thấy người. Mất đi chánh định, sẽ sa vào chìm đắm đọa lạc.
09-20 Lại trong định ấy, các thiện nam thấy sắc uẩn tan, thọ uẩn rõ ràng. Trước không có chứng mới, trở về mất chỗ cũ. Trí lực suy yếu, rơi vào trạng thái hủy hoại giữa chừng, xa xôi không thấy gì. Trong tâm bỗng nhiên sinh sự khô khát lớn. Mọi lúc đều chìm trong hồi ức không tan. Cho rằng đây là tướng tinh tấn siêng năng. Đây gọi là tu tâm mất trí tuệ, tự đánh mất mình. Nếu giác ngộ thì không có lỗi, không phải chứng thánh. Nếu tự cho là chứng thánh, thì hồi ức ma sẽ nhập vào tâm can. Sáng tối nắm chặt tâm, treo lơ lửng một chỗ. Mất đi chánh định, sẽ sa vào chìm đắm đọa lạc.
09-21 Lại trong định ấy, các thiện nam thấy sắc uẩn tan, thọ uẩn rõ ràng. Trí tuệ vượt định, mất đi sự sắc bén. Với các tính thắng mang trong tâm, tự nghi mình là Lô-xá-na, đắc ít cho là đủ. Đây gọi là tâm mất đi sự thường xuyên thẩm xét, chìm vào tri kiến. Nếu giác ngộ thì không có lỗi, không phải chứng thánh. Nếu tự cho là chứng thánh, thì sẽ có ma hạ liệt dễ biết đủ nhập vào tâm can. Thấy người tự nói tôi đắc chân lý tối thượng đệ nhất. Mất đi chánh định, sẽ sa vào chìm đắm đọa lạc.
09-22 Lại trong định ấy, các thiện nam thấy sắc uẩn tan, thọ uẩn rõ ràng. Chưa đạt chứng mới, tâm củ đã mất đi. Nhìn qua hai bờ thời gian, tự sinh gian khó. Trong tâm bỗng nhiên sinh nỗi buồn vô tận. Như ngồi trên giường sắt, như uống thuốc độc, tâm không muốn sống. Thường cầu người khác hại mạng mình, sớm được giải thoát. Đây gọi là tu hành mất phương tiện. Nếu giác ngộ thì không có lỗi, không phải chứng thánh. Nếu tự cho là chứng thánh, thì một phần thường sầu não ma sẽ nhập vào tâm can. Tay cầm dao kiếm, tự cắt thịt mình, vui vẻ bỏ mạng. Hoặc luôn buồn rầu, chạy vào rừng núi, không chịu gặp người. Mất đi chánh định, sẽ sa vào chìm đắm đọa lạc.
09-23 Lại trong định ấy, các thiện nam thấy sắc uẩn tan, thọ uẩn rõ ràng. Ở trong thanh tịnh, sau đó tâm an ổn, bỗng nhiên tự sinh niềm vui vô hạn. Trong tâm hoan hỷ, không thể tự dừng. Đây gọi là khinh an (nhẹ nhàng) không trí tuệ tự kiềm chế. Nếu giác ngộ thì không có lỗi, không phải chứng thánh. Nếu tự cho là chứng thánh, thì một phần thích hỷ lạc ma sẽ nhập vào tâm can. Thấy người thì cười. Bên đường lớn tự ca tự múa. Tự cho là đã đắc giải thoát vô ngại. Mất đi chánh định, sẽ sa vào chìm đắm đọa lạc.
09-24 Lại trong định ấy, các thiện nam thấy sắc uẩn tan, thọ uẩn rõ ràng. Tự cho là đủ, bỗng nhiên vô cớ sinh đại ngã mạn. Thậm chí mạn, quá mạn, mạn vượt quá mạn, hoặc tăng thượng mạn, hoặc ti liệt mạn, cùng lúc phát khởi. Trong tâm còn coi nhẹ mười phương Như Lai, huống chi thanh văn, duyên giác ở vị trí thấp hơn. Đây gọi là thấy thắng không trí tuệ tự cứu. Nếu giác ngộ thì không có lỗi, không phải chứng thánh. Nếu tự cho là chứng thánh, thì một phần đại ngã mạn ma sẽ nhập vào tâm can. Không lễ tháp miếu, phá hủy kinh tượng. Nói với thí chủ rằng đây là vàng đồng, hoặc đất gỗ. Kinh là lá cây, hoặc vải thô. Thân thịt là chân thường, không tự cung kính, lại sùng bái đất gỗ, thật là điên đảo. Những kẻ có lòng tin sâu với họ theo đó mà phá hủy, chôn vùi dưới đất. Gây nghi hoặc chúng sinh, rơi vào ngục vô gián. Mất đi chánh định, sẽ sa vào chìm đắm đọa lạc.
09-25 Lại trong định ấy, các thiện nam thấy sắc uẩn tan, thọ uẩn rõ ràng. Trong tinh sáng, viên ngộ lý tinh, đạt sự tùy thuận lớn. Tâm bỗng nhiên sinh vô lượng nhẹ nhàng. Tự nói thành thánh, đắc đại tự tại. Đây gọi là do trí tuệ đạt được sự nhẹ nhàng thanh tịnh. Nếu giác ngộ thì không có lỗi, không phải chứng thánh. Nếu tự cho là chứng thánh, thì một phần thích nhẹ nhàng thanh tịnh ma sẽ nhập vào tâm can. Tự cho là đủ, không cầu tiến nữa. Những người này đa phần thành tỷ-kheo không nghe nhiều học rộng. Gây nghi hoặc chúng sinh, rơi vào ngục A-tỳ. Mất đi chánh định, sẽ sa vào chìm đắm đọa lạc.
09-26 Lại trong định ấy, các thiện nam thấy sắc uẩn tan, thọ uẩn rõ ràng. Trong sáng tỏ đạt được tính hư minh. Trong đó bỗng nhiên hướng về diệt tận mãi mãi. Phủ nhận nhân quả, một mực nhập vào không. Tâm không hiện ra, thậm chí tâm sinh hiểu đoạn diệt dài lâu. Nếu giác ngộ thì không có lỗi, không phải chứng thánh. Nếu tự cho là chứng thánh, thì không ma sẽ nhập vào tâm can. Thậm chí phỉ báng trì giới, cho là tiểu thừa. Bồ-tát ngộ không, có gì là trì phạm. Người ấy thường với thí chủ tin tưởng, uống rượu ăn thịt, hành dâm ô rộng rãi. Do sức ma, nhiếp phục người trước không sinh nghi báng. Tâm quỷ nhập lâu, hoặc ăn phân tiểu cùng rượu thịt. Mọi thứ đều không, phá hoại luật nghi Phật, sai lầm dẫn người gây tội. Mất đi chánh định, sẽ sa vào chìm đắm đọa lạc.
09-27 Lại trong định ấy, các thiện nam thấy sắc uẩn tan, thọ uẩn rõ ràng. Nếm vị hư minh thấm sâu vào tâm cốt. Tâm bỗng nhiên sinh vô hạn yêu thích. Yêu quá phát cuồng, liền thành tham dục. Đây gọi là cảnh định an thuận nhập tâm, không trí tuệ tự giữ, lầm vào các dục. Nếu giác ngộ thì không có lỗi, không phải chứng thánh. Nếu tự cho là chứng thánh, thì dục ma sẽ nhập vào tâm can. Một mực nói dục là đạo Bồ-đề. Hóa các bạch y bình đẳng hành dục. Kẻ hành dâm gọi là người giữ pháp. Do sức thần quỷ, trong thời mạt pháp nhiếp phục kẻ phàm ngu, số lượng đến trăm, thậm chí trăm hai trăm, hoặc năm sáu trăm, nhiều đến hàng vạn. Khi tâm ma chán bỏ, rời khỏi thân thể. Uy đức không còn, rơi vào tai nạn vua chúa. Gây nghi hoặc chúng sinh, rơi vào ngục vô gián. Mất đi chánh định, sẽ sa vào chìm đắm đọa lạc.
09-28 A-nan, mười loại cảnh tượng thiền định như vậy, đều do thọ uẩn tương tác với tâm, nên hiện ra những việc này. Chúng sinh ngu muội, không tự cân nhắc. Gặp nhân duyên này, mê muội không tự nhận biết, cho rằng đã đắc thánh. Thành đại Vọng ngữ, rơi vào ngục vô gián. Các ông cũng nên đem lời Như Lai, sau khi ta diệt độ, truyền dạy trong thời mạt pháp. Khiến khắp chúng sinh khai ngộ nghĩa này. Đừng để thiên ma thừa cơ lợi dụng. Giữ gìn che chở, thành tựu đạo vô thượng.
Tưởng Ấm
09-29 A-nan, người thiện nam kia tu tam-ma-đề, khi thọ uẩn đã tận, dù chưa hết sạch lậu hoặc, tâm đã rời khỏi hình thể, như chim ra khỏi lồng, đã có thể thành tựu. Từ thân phàm phu này, trải qua sáu mươi bậc thánh của Bồ-tát. Được thân ý sinh, tùy ý đi đến không ngăn ngại. Ví như có người, ngủ say nói mơ. Người ấy tuy không biết gì khác, nhưng lời nói đã thành âm điệu mạch lạc. Khiến người không ngủ đều hiểu được lời nói ấy. Đây gọi là vùng trời của tưởng uẩn. Nếu động niệm hết sạch, tưởng nổi trôi tiêu trừ, trong tâm giác biết rõ ràng, như lau sạch bụi bẩn. Một vòng sinh tử, từ đầu đến cuối viên chiếu, gọi là tưởng uẩn tận. Người ấy có thể vượt qua phiền não trược. Quan sát nguyên do, vọng tưởng dung thông chính là gốc rễ của nó.
09-30 A-nan, người thiện nam kia, khi thọ uẩn hư diệu, không gặp suy nghĩ sai lầm, định tròn phát sáng. Trong tam-ma-địa, tâm yêu thích viên minh, tinh tấn tư duy, tham cầu thiện xảo. Lúc ấy thiên ma chờ được cơ hội, bay tinh thần nhập vào người, miệng nói kinh pháp. Người kia không biết đó là ma nhập, tự cho rằng đã đắc vô thượng Niết-bàn. Đến chỗ người thiện nam cầu thiện xảo kia, trải tòa thuyết pháp. Hình dạng trong chốc lát, hoặc làm tỳ-kheo, khiến người kia thấy. Hoặc làm Đế Thích. Hoặc làm nữ nhân. Hoặc làm tỳ-kheo-ni. Hoặc nằm trong phòng tối, thân phát ánh sáng. Người ấy ngu mê, lầm tưởng là Bồ-tát. Tin theo sự giáo hóa của họ, khiến tâm dao động. Phá hoại luật nghi Phật, ngầm hành tham dục. Miệng thích nói về tai biến, điềm lạ. Hoặc nói Như Lai xuất thế ở nơi nào đó. Hoặc nói kiếp lửa. Hoặc nói đao binh. Làm người sợ hãi. Khiến gia tài của họ vô cớ hao tán. Đây gọi là quái quỷ già thành ma, quấy nhiễu người này. Khi lòng sanh chán đủ, rời khỏi thân người ấy. Đệ tử và thầy cùng rơi vào tai nạn vua chúa. Ông nên giác ngộ trước, không rơi vào luân hồi. Nếu mê muội không biết, sẽ đọa vào ngục vô gián.
09-31 A-nan, lại có thiện nam, khi thọ uẩn hư diệu, không gặp suy nghĩ sai lầm, định viên phát sáng. Trong tam-ma-địa, tâm yêu thích rong chơi, phóng tinh thần tư duy, tham cầu trải nghiệm. Lúc ấy thiên ma chờ được cơ hội, bay tinh thần nhập vào người, miệng nói kinh pháp. Người kia cũng không biết đó là ma nhập, cũng tự nói rằng đã đắc vô thượng Niết-bàn. Đến chỗ thiện nam cầu trải nghiệm kia, trải tòa thuyết pháp. Hình dạng bản thân không thay đổi. Nhưng người nghe pháp, bỗng tự thấy thân mình ngồi trên hoa sen báu, toàn thân hóa thành khối ánh sáng tím vàng. Tất cả người nghe, mỗi người đều như vậy, đạt được điều chưa từng có. Người ấy ngu mê, lầm tưởng là Bồ-tát. Dâm dật trong tâm, phá hoại luật nghi Phật, ngầm hành tham dục. Miệng thích nói các Phật ứng thế. Nơi nào đó, người nào đó, chính là hóa thân của Phật nào đó đến đây. Người nào đó chính là Bồ-tát nào đó, đến hóa độ nhân gian. Người kia thấy vậy, tâm sinh khao khát, tà kiến âm thầm phát khởi, chủng trí tiêu diệt. Đây gọi là quỷ bá già thành ma, quấy nhiễu người này. Khi tâm sanh chán đủ, rời khỏi thân người ấy. Đệ tử và thầy cùng rơi vào tai nạn vua chúa. Ông nên giác ngộ trước, không rơi vào luân hồi. Nếu mê muội không biết, sẽ đọa vào ngục vô gián.
09-32 Lại có thiện nam, khi thọ uẩn hư diệu, không gặp suy nghĩ sai lầm, định viên phát sáng. Trong tam-ma-địa, tâm yêu thích sự mềm mại kéo dài, làm trong sạch tinh thần tư duy, tham cầu sự khế hợp. Lúc ấy thiên ma chờ được cơ hội, bay tinh thần nhập vào người, miệng nói kinh pháp. Người kia thực sự không biết đó là ma nhập, cũng tự nói rằng đã đắc vô thượng Niết-bàn. Đến chỗ thiện nam cầu khế hợp kia, trải tòa thuyết pháp. Hình dạng của người ấy và những người nghe pháp bên ngoài không thay đổi. Khiến những người nghe, trước khi chưa nghe pháp, tâm tự khai ngộ. Niệm niệm chuyển đổi. Hoặc biết được đời trước. Hoặc có tha tâm thông. Hoặc thấy địa ngục. Hoặc biết các việc tốt xấu ở nhân gian. Hoặc miệng nói kệ. Hoặc tự tụng kinh. Mỗi người đều vui thích, đạt được điều chưa từng có. Người ấy ngu mê, lầm tưởng là Bồ-tát. Tâm mềm mại yêu thích, phá hoại luật nghi Phật, ngầm hành tham dục. Miệng thích nói Phật có lớn nhỏ. Phật này trước Phật kia. Phật kia sau Phật này. Trong đó cũng có Phật thật Phật giả. Phật nam Phật nữ. Bồ-tát cũng vậy. Người kia thấy vậy, rửa sạch tâm vốn có, dễ rơi vào hiểu biết sai lầm. Đây gọi là quỷ mị già thành ma, quấy nhiễu người này. Khi tâm sanh chán đủ, rời khỏi thân người ấy. Đệ tử và thầy cùng rơi vào tai nạn vua chúa. Ông nên giác ngộ trước, không rơi vào luân hồi. Nếu mê muội không biết, sẽ đọa vào ngục vô gián.
09-33 Lại có thiện nam, khi thọ uẩn hư diệu, không gặp suy nghĩ sai lầm, định viên phát sáng. Trong tam-ma-địa, tâm yêu thích gốc rễ, xem xét thấu suốt sự bắt đầu và kết thúc của bản tính biến hóa của vạn vật, làm tinh anh tâm mình, tham cầu sự phân tích rõ ràng. Lúc ấy thiên ma chờ được cơ hội, bay tinh thần nhập vào người, miệng nói kinh pháp. Người kia trước đó không biết đó là ma nhập, cũng tự nói rằng đã đắc vô thượng Niết-bàn. Đến chỗ thiện nam cầu nguồn gốc kia, trải tòa thuyết pháp. Thân có uy thần, khuất phục người cầu pháp. Khiến những người ngồi dưới, dù chưa nghe pháp, tự nhiên tâm phục. Những người này cho rằng Niết-bàn của Phật, pháp thân Bồ-đề, chính là thân thịt hiện tiền của ta đây. Cha truyền con nối, đời đời tương sinh, chính là pháp thân thường trụ không dứt. Đều chỉ hiện tại chính là cõi Phật. Không có cõi tịnh cư riêng biệt hay tướng vàng ròng nào khác. Người kia tin nhận, đánh mất tâm ban đầu. Thân mệnh quy y, đạt được điều chưa từng có. Những kẻ ngu mê này, lầm tưởng là Bồ-tát. Đẩy sâu vào tâm họ, phá hoại luật nghi Phật, ngầm hành tham dục. Miệng thích nói mắt, tai, mũi, lưỡi đều là tịnh độ. Hai căn nam nữ chính là chỗ chân thật của Bồ-đề Niết-bàn. Những kẻ vô tri tin vào lời dơ bẩn này. Đây gọi là quỷ độc bóng đè thắng ác già thành ma, quấy nhiễu người này. Khi tâm sanh chán đủ, rời khỏi thân người ấy. Đệ tử và thầy cùng rơi vào tai nạn vua chúa. Ông nên giác ngộ trước, không rơi vào luân hồi. Nếu mê muội không biết, sẽ đọa vào ngục vô gián.
09-34 Lại có thiện nam, khi thọ uẩn hư diệu, không gặp suy nghĩ sai lầm, định viên phát sáng. Trong tam-ma-địa, tâm yêu thích sự ứng hiện lơ lửng, lưu chuyển tinh tế nghiên cứu, tham cầu sự cảm ứng huyền bí. Lúc ấy thiên ma chờ được cơ hội, bay tinh thần nhập vào người, miệng nói kinh pháp. Người kia vốn không biết đó là ma nhập, cũng tự nói rằng đã đắc vô thượng Niết-bàn. Đến chỗ thiện nam cầu ứng hiện kia, trải tòa thuyết pháp. Có thể khiến người nghe tạm thấy thân mình như trăm ngàn tuổi. Tâm sinh yêu mến, không thể rời xa. Thân làm nô bộc, bốn việc cúng dường, không cảm thấy mệt mỏi. Mỗi người dưới tòa đều khiến tâm họ biết đây là bậc tiên sư, thiện tri thức vốn có, sinh ra pháp ái khác, dính chặt như keo sơn, đạt được điều chưa từng có. Người ấy ngu mê, lầm tưởng là Bồ-tát. Thân cận tâm họ, phá hoại luật nghi Phật, ngầm hành tham dục. Miệng thích nói, ta trong đời trước, trong kiếp nào đó, trước đã độ người nào đó. Lúc ấy là vợ, thiếp, anh em của ta, nay đến độ ngươi. Cùng ngươi theo về cõi nào đó, cúng dường Phật nào đó. Hoặc nói có cõi trời sáng lớn khác, Phật trụ trong đó, là nơi nghỉ ngơi của tất cả Như Lai. Những kẻ vô tri tin vào lời hư vọng này, đánh mất tâm ban đầu. Đây gọi là quỷ dịch già thành ma, quấy nhiễu người này. Khi tâm sanh chán đủ, rời khỏi thân người ấy. Đệ tử và thầy cùng rơi vào tai nạn vua chúa. Ông nên giác ngộ trước, không rơi vào luân hồi. Nếu mê muội không biết, sẽ đọa vào ngục vô gián.
09-35 Lại có thiện nam, khi thọ uẩn hư diệu, không gặp suy nghĩ sai lầm, định viên phát sáng. Trong tam-ma-địa, tâm yêu thích sự thâm sâu. Khắc chế bản thân, siêng năng khổ nhọc, vui ở nơi âm u tĩnh lặng, tham cầu sự yên tĩnh. Lúc ấy thiên ma chờ được cơ hội, bay tinh thần nhập vào người, miệng nói kinh pháp. Người kia vốn không biết đó là ma nhập, cũng tự nói rằng đã đắc vô thượng Niết-bàn. Đến chỗ thiện nam cầu sự âm u kia, trải tòa thuyết pháp. Khiến người nghe, mỗi người đều biết nghiệp gốc của mình. Hoặc tại đó nói với một người rằng, ngươi nay chưa chết, đã làm súc sinh. Ra lệnh cho một người khác phía sau đạp đuôi, khiến người ấy đứng dậy không được. Thế là cả đám người nghiêng lòng kính phục. Có người khởi tâm, đã biết nguyên do của họ. Ngoài luật nghi Phật, lại thêm khổ hạnh tinh tấn. Phỉ báng tỳ-kheo, mắng chửi đồ chúng. Vạch trần việc người, không tránh chê bai nghi ngờ. Miệng thích nói về họa phúc chưa xảy ra. Đến khi thời điểm ấy, không sai một ly. Đây là quỷ có sức mạnh lớn, già thành ma, quấy nhiễu người này. Khi tâm sanh chán đủ, rời khỏi thân người ấy. Đệ tử và thầy cùng rơi vào tai nạn vua chúa. Ông nên giác ngộ trước, không rơi vào luân hồi. Nếu mê muội không biết, sẽ đọa vào ngục vô gián.
09-36 Lại có thiện nam, khi thọ uẩn hư diệu, không gặp suy nghĩ sai lầm, định viên phát sáng. Trong tam-ma-địa, tâm yêu thích tri kiến, siêng năng khổ cực nghiên tầm, tham cầu túc mệnh. Lúc ấy thiên ma chờ được cơ hội, bay tinh thần nhập vào người, miệng nói kinh pháp. Người kia hoàn toàn không biết đó là ma nhập, cũng tự nói rằng đã đắc vô thượng Niết-bàn. Đến chỗ thiện nam cầu tri kiến kia, trải tòa thuyết pháp. Người ấy vô cớ tại nơi thuyết pháp được viên ngọc báu lớn, ma ấy đôi khi hóa thành súc sinh, miệng ngậm viên ngọc ấy, cùng các báu vật lẫn lộn, sách vở, bùa chú, các vật kỳ dị khác, trước trao cho người ấy, sau nhập vào thân họ. Hoặc dụ người nghe giấu dưới đất, có viên ngọc sáng trăng chiếu rọi nơi ấy. Những người nghe này đạt được điều chưa từng có. Ăn nhiều cỏ thuốc, không dùng món ngon. Hoặc có lúc mỗi ngày chỉ ăn một hạt mè, một hạt lúa, nhưng thân hình vẫn mập mạp, do sức ma giữ gìn. Phỉ báng tỳ-kheo, mắng chửi đồ chúng, không tránh chê bai nghi ngờ. Miệng thích nói về kho báu phương khác, nơi ẩn náu bí mật của thánh hiền mười phương. Những kẻ đi theo sau, thường thấy có người kỳ dị xuất hiện. Đây gọi là thần quỷ sơn lâm, thổ địa, thành hoàng, sông núi, già thành ma. Hoặc có kẻ tuyên truyền dâm ô, phá hoại giới luật Phật, cùng người thừa sự ngầm hành năm dục. Hoặc có kẻ tinh tấn, chỉ ăn cỏ cây thuần túy. Hành sự không cố định, quấy nhiễu người này. Khi tâm sanh chán đủ, rời khỏi thân người ấy. Đệ tử và thầy cùng rơi vào tai nạn vua chúa. Ông nên giác ngộ trước, không rơi vào luân hồi. Nếu mê muội không biết, sẽ đọa vào ngục vô gián.
09-37 Lại có thiện nam, khi thọ uẩn hư diệu, không gặp suy nghĩ sai lầm, định viên phát sáng. Trong tam-ma-địa, tâm yêu thích thần thông, đủ loại biến hóa, nghiên cứu nguồn gốc biến hóa, tham cầu sức mạnh thần lực. Lúc ấy thiên ma chờ được cơ hội, bay tinh thần nhập vào người, miệng nói kinh pháp. Người kia thật sự không biết đó là ma nhập, cũng tự nói rằng đã đắc vô thượng Niết-bàn. Đến chỗ thiện nam cầu thần thông kia, trải tòa thuyết pháp. Người ấy hoặc cầm lửa trong tay, nắm ánh sáng ấy, chia lên đầu bốn chúng đang nghe. Trên đỉnh đầu các người nghe, ánh lửa dài vài thước, nhưng không nóng, không hề thiêu đốt. Hoặc đi trên nước, như bước trên đất bằng. Hoặc ngồi yên trong không trung, không động. Hoặc chui vào bình. Hoặc ở trong túi. Vượt qua cửa sổ, xuyên qua tường, không có chướng ngại. Chỉ với đao binh là không tự tại. Tự xưng là Phật. Mặc áo trắng, nhận lễ của tỳ-kheo. Phỉ báng thiền luật, mắng chửi đồ chúng. Vạch trần việc người, không tránh chê bai nghi ngờ. Miệng thường nói về thần thông tự tại. Hoặc khiến người bên cạnh thấy cõi Phật. Sức quỷ mê hoặc người, không có thật. Tán thán hành dâm, không hủy hoại hành vi thô thiển. Đem những điều ô uế, cho là truyền pháp. Đây gọi là tinh lực lớn của trời đất, tinh núi, tinh biển, tinh gió, tinh sông, tinh đất, tất cả tinh mị tích tụ qua kiếp của cỏ cây. Hoặc là mị rồng. Hoặc tiên hết thọ, sống lại thành mị. Hoặc tiên đến kỳ hết hạn, tính năm đáng chết, hình thể không hóa, bị quái vật khác nhập vào. Già thành ma, quấy nhiễu người này. Khi tâm sanh chán đủ, rời khỏi thân người ấy. Đệ tử và thầy, phần nhiều rơi vào tai nạn vua chúa. Ông nên giác ngộ trước, không rơi vào luân hồi. Nếu mê muội không biết, sẽ đọa vào ngục vô gián.
09-38 Lại có thiện nam, khi thọ uẩn hư diệu, không gặp suy nghĩ sai lầm, định viên phát sáng. Trong tam-ma-địa, tâm yêu thích nhập diệt, nghiên cứu tính biến hóa, tham cầu không sâu thẳm. Lúc ấy thiên ma chờ được cơ hội, bay tinh thần nhập vào người, miệng nói kinh pháp. Người kia hoàn toàn không biết đó là ma nhập, cũng tự nói rằng đã đắc vô thượng Niết-bàn. Đến chỗ thiện nam cầu không kia, trải tòa thuyết pháp. Giữa đại chúng, hình thể người ấy bỗng nhiên trống rỗng, mọi người không thấy gì. Rồi từ hư không đột nhiên xuất hiện, hiện ra mất đi tự tại. Hoặc hiện thân trong suốt như lưu ly. Hoặc tay chân buông xuống tỏa mùi chiên đàn. Hoặc đại tiểu tiện như mật đá dày. Phỉ báng giới luật, khinh rẻ người xuất gia. Miệng thường nói không nhân không quả. Một lần chết là hết mãi mãi, không còn hậu thân, cũng không có phàm thánh. Dù được không tịch, ngầm hành tham dục. Người chịu dục của họ cũng được tâm không, phủ nhận nhân quả. Đây gọi là tinh khí nhật nguyệt bị nhật thực nguyệt thực, cỏ linh chi vàng ngọc, kỳ lân phượng rùa hạc, trải nghìn vạn năm không chết thành linh, sinh ra ở cõi nước ấy. Già thành ma, quấy nhiễu người này. Khi tâm sanh chán đủ, rời khỏi thân người ấy. Đệ tử và thầy, phần nhiều rơi vào tai nạn vua chúa. Ông nên giác ngộ trước, không rơi vào luân hồi. Nếu mê muội không biết, sẽ đọa vào ngục vô gián.
09-39 Lại có thiện nam, khi thọ uẩn hư diệu, không gặp suy nghĩ sai lầm, định viên phát sáng. Trong tam-ma-địa, tâm yêu thích trường thọ, khổ cực nghiên cứu, tham cầu tuổi đời mãi mãi, từ bỏ sinh tử phân đoạn, mong muốn đột nhiên biến đổi thành tướng vi tế thường trụ. Lúc ấy thiên ma chờ được cơ hội, bay tinh thần nhập vào người, miệng nói kinh pháp. Người kia cuối cùng không biết đó là ma nhập, cũng tự nói rằng đã đắc vô thượng Niết-bàn. Đến chỗ thiện nam cầu sống lâu kia, trải tòa thuyết pháp. Thích nói về việc qua lại phương khác không chút trì trệ. Hoặc vượt vạn dặm, trong khoảnh khắc đã trở lại. Đều từ phương kia mang vật về. Hoặc tại một nơi, trong một ngôi nhà, cách vài bước, khiến người từ tường đông sang tường tây, người ấy chạy nhanh, nhiều năm không đến được. Do đó tâm tin, nghi ngờ Phật hiện tiền. Miệng thường nói, mười phương chúng sinh đều là con ta. Ta sinh ra chư Phật. Ta tạo ra thế giới. Ta là Phật nguyên thủy, xuất thế tự nhiên, không do tu mà được. Đây gọi là thiên ma tự tại trụ thế, sai khiến quyến thuộc của nó, như Giá văn trà, và bốn thiên vương Tỳ-xá đồng tử, những kẻ chưa phát tâm, lợi dụng sự hư minh của họ, ăn tinh khí của họ. Hoặc không nhờ thầy, người tu hành tự mình thấy, xưng là chấp trì Kim Cang ban cho ngươi trường mệnh. Hiện thân mỹ nữ, thịnh hành tham dục. Chưa qua một năm, gan não khô kiệt. Miệng nói một mình, nghe như yêu mị. Người trước không rõ, phần nhiều rơi vào tai nạn vua chúa. Chưa đến lúc chịu hình, đã khô chết trước. Quấy nhiễu người ấy, cho đến khi chết. Ông nên giác ngộ trước, không rơi vào luân hồi. Nếu mê muội không biết, sẽ đọa vào ngục vô gián.
09-40 A-nan, nên biết rằng mười loại ma này, vào thời mạt thế, trong pháp của ta sẽ xuất gia tu đạo. Hoặc nhập vào thân người. Hoặc tự hiện hình. Đều nói đã thành chánh biến tri giác. Tán thán dâm dục, phá hoại luật nghi Phật. Trước là thầy ác ma, cùng ma đệ tử, dâm ô truyền nhau. Như vậy, tinh tà mị nhập vào tâm can họ. Gần thì chín đời. Nhiều thì vượt trăm kiếp. Khiến người tu hành chân chính, tổng thành quyến thuộc của ma. Sau khi mạng chung, chắc chắn thành dân ma. Mất chánh biến tri, đọa vào ngục vô gián. Ông nay chưa cần vội cầu tịch diệt. Dù đạt vô học, hãy giữ nguyện vào trong thời mạt pháp ấy, khởi đại từ bi, cứu độ chúng sinh có chánh tâm tin sâu, khiến họ không bị ma nhập, đạt chánh tri kiến. Ta nay độ ông đã ra khỏi sinh tử. Ông tuân lời Phật, gọi là báo ân Phật. A-nan, mười loại cảnh tượng thiền định như vậy đều do tưởng uẩn. Tâm tương tác lẫn nhau, nên hiện ra những việc này. Chúng sinh ngu muội, không tự cân nhắc. Gặp nhân duyên này, mê muội không tự nhận biết, cho rằng đã đắc thánh. Thành đại vọng ngữ, đọa vào ngục vô gián. Các ông phải đem lời Như Lai, sau khi ta diệt độ, truyền dạy trong thời mạt pháp. Khắp khiến chúng sinh khai ngộ nghĩa này. Đừng để thiên ma thừa cơ lợi dụng. Giữ gìn che chở, thành tựu đạo vô thượng.
Hành Ấm
10-01 A-nan, người thiện nam kia, tu tam-ma-đề khi tưởng uẩn đã tận, người này mộng tưởng bình thường tiêu diệt, lúc tỉnh lúc ngủ luôn như một. Giác minh hư tĩnh, giống như hư không trong xanh. Không còn bóng dáng thô nặng của những việc tiền trần bóng ảnh. Nhìn các thế gian, đất lớn, sông núi, như gương sáng soi, đến không dính mắc, qua không dấu vết. Thọ hư ảo chiếu ứng, hiểu rõ thói quen cũ không còn, chỉ còn một chân tinh duy nhất. Gốc rễ sinh diệt, từ đây hiển lộ. Thấy mười phương mười hai loại chúng sinh, tận hết các loài của chúng. Dù chưa thông suốt nguồn gốc từng mệnh của chúng, nhưng thấy được căn bản đồng sinh. Giống như ngựa hoang lấp lánh, trong sáng nhiễu động. Là trung tâm rốt ráo của trần căn nổi. Đây gọi là vùng trời của hành uẩn. Nếu sự nhiễu động trong sáng lấp lánh này, bản tính nhập vào cái trong suốt ban đầu, một khi trong suốt thói quen cũ, như sóng gợn tan, hóa thành nước trong, gọi là hành uẩn tận. Người ấy thì có thể vượt qua chúng sinh trược. Quan sát nguyên do, vọng tưởng ẩn sâu chính là gốc rễ của nó.
10-02 A-nan, nên biết rằng những thiện nam đạt được chánh tri trong thiền định xa-ma-tha, tâm chánh sáng tỏ ngưng tụ, mười loại thiên ma không thể lợi dụng được. Lúc ấy mới được tinh tế nghiên cứu nguồn gốc các loài sinh vật. Với những ai trong bổn loại mà nguồn sinh hiển lộ, nghiên cứu đến chỗ thâm sâu, phát hiện nguồn gốc phiền não thường nhiễu động không ngừng. Từ trong nguồn này tròn đầy ấy khởi sự đo lường, người này rơi vào hai luận thuyết vô nhân. Một là, người này thấy nguồn gốc không có nguyên nhân. Vì sao vậy? Người này đã phá sạch cơ cấu sinh khởi. Nhờ tám trăm công đức của mắt căn, thấy được tám vạn kiếp tất cả chúng sinh, dòng nghiệp xoay vòng, chết đây sinh kia. Chỉ thấy chúng sinh luân hồi tại chỗ ấy. Ngoài tám vạn kiếp, tối tăm không thấy gì. Liền cho rằng, mười phương chúng sinh trong thế gian này, từ tám vạn kiếp đến nay, không nhân tự có. Do sự đo lường này, mất chánh biến tri, rơi vào ngoại đạo, mê hoặc bản tính Bồ-đề. Hai là, người này thấy cuối cùng không có nguyên nhân. Vì sao vậy? Người này đã thấy gốc của sinh. Biết người sinh ra người. Biết chim sinh ra chim. Quạ từ xưa đã đen. Cò từ xưa đã trắng. Người trời vốn đứng thẳng. Súc sinh vốn nằm ngang. Trắng không do rửa mà thành. Đen không do nhiễm tạo. Từ tám vạn kiếp không hề thay đổi. Nay hết hình thể này, cũng vẫn như vậy. Mà ta vốn không thấy Bồ-đề. Sao lại có chuyện thành Bồ-đề nữa. Nên biết rằng hôm nay mọi vật tượng, đều vốn không nguyên nhân. Do sự đo lường này, mất chánh biến tri, rơi vào ngoại đạo, mê hoặc bản tính Bồ-đề. Đây gọi là ngoại đạo thứ nhất, lập luận vô nhân.
10-03 A-nan, những thiện nam trong tam-ma-địa này, chánh tâm sáng tỏ ngưng tụ, ma không thể lợi dụng, nghiên cứu nguồn gốc các bổn loại sinh vật, nghiên cứu đến chỗ thâm sâu, phát hiện nguồn gốc phiền não thường nhiễu động không ngừng. Từ trong nguồn viên mãn thường hằng ấy khởi sự đo lường, người này rơi vào bốn luận thuyết biến thường. Một là, người này nghiên cứu đến cùng bản tính của tâm và cảnh, hai chỗ không nguyên nhân. Tu tập biết được trong hai vạn kiếp, mười phương chúng sinh, tất cả sinh diệt, thảy đều tuần hoàn, không từng tan mất, cho đó là thường hằng. Hai là, người này nghiên cứu đến cùng nguồn gốc bốn đại, bốn tính thường trụ. Tu tập biết được trong bốn vạn kiếp, mười phương chúng sinh, tất cả sinh diệt, đều giữ thể thường hằng, không từng tan mất, cho đó là thường. Ba là, người này nghiên cứu đến cùng sáu căn, mạt na chấp thọ, trong tâm ý thức bổn nguyên từ xứ, nên tánh vốn thường hằng. Tu tập biết được trong tám vạn kiếp, tất cả chúng sinh, tuần hoàn không mất, bản lai thường trụ. Nghiên cứu đến cùng tánh không mất, cho đó là thường. Bốn là, người này đã tận nguồn tưởng, lý sinh không còn lưu chuyển vận hành, tâm tưởng sinh diệt nay đã vĩnh viễn đoạn diệt. Trong lý tự nhiên thành không sinh không diệt. Do tâm đo lường, cho đó là thường. Do vậy cho là thường, mất chánh biến tri, rơi vào ngoại đạo, mê hoặc bản tánh Bồ-đề. Đây gọi là ngoại đạo thứ hai, lập luận viên thường.
10-04 Lại nữa những thiện nam trong tam-ma-địa này, chánh tâm kiên cố ngưng tụ, ma không thể lợi dụng, nghiên cứu nguồn gốc các bổn loại sinh vật, nghiên cứu đến chỗ thâm sâu, phát hiện nguồn gốc phiền não thường nhiễu động không ngừng. Từ trong chính mình và người khác khởi sự đo lường, người này rơi vào bốn kiến chấp điên đảo, một phần vô thường, một phần thường luận. Một là, người này quan sát tâm diệu minh trải khắp mười phương giới, trong sáng thanh tịnh cho là thần ngã cứu cánh. Từ đó cho rằng ngã trải khắp mười phương, ngưng tụ sáng tỏ không động. Tất cả chúng sinh, trong tâm ngã của ta tự sinh tự diệt. Nhưng tâm tánh của ta gọi nó là thường. Những sự sinh diệt kia, thật là tánh vô thường. Hai là, người này không quan sát tâm mình, mà trải khắp quan sát mười phương hằng sa cõi nước. Thấy chỗ kiếp hoại, gọi là chủng tánh cứu cánh vô thường. Chỗ kiếp không hoại, gọi là cứu cánh thường. Ba là, người này riêng quan sát tâm ngã, tinh tế vi mật, giống như vi trần. Lưu chuyển mười phương, tánh không đổi thay. Có thể khiến thân này tức sinh tức diệt. Tánh không hoại của nó, gọi là ngã tánh thường. Tất cả sinh tử từ Ta lưu xuất gọi là tánh vô thường. Bốn là, người này biết tưởng uẩn đã tận, thấy hành uẩn lưu chảy. Hành uẩn thường lưu, cho là tánh thường. Sắc, thọ, tưởng v.v., nay đã diệt tận, gọi là vô thường. Do sự đo lường này, một phần vô thường một phần thường, nên rơi vào ngoại đạo, mê hoặc bản tánh Bồ-đề. Đây gọi là ngoại đạo thứ ba, lập luận một phần thường.
10-05 Lại nữa những thiện nam trong tam-ma-địa này, chánh tâm kiên cố ngưng tụ, ma không thể lợi dụng, nghiên cứu nguồn gốc các bổn loại sinh vật, nghiên cứu đến chỗ thâm sâu, phát hiện nguồn gốc phiền não thường nhiễu động không ngừng. Từ trong các phân vị khởi sự đo lường, người này rơi vào bốn luận thuyết hữu biên. Một là, người này dùng tâm tính toán nguồn sinh, lưu dụng không ngừng. Tính toán về quá khứ và tương lai, gọi là hữu biên. Tính toán tâm tương tục, gọi là vô biên. Hai là, người này quan sát tám vạn kiếp, thì thấy chúng sinh. Trước tám vạn kiếp, vắng lặng không nghe không thấy. Chỗ không nghe không thấy, gọi là vô biên. Chỗ có chúng sinh, gọi là hữu biên. Ba là, người này tính toán ta khắp biết, đạt được tánh vô biên. Tất cả người khác hiện trong sự biết của ta. Nhưng ta từng không biết tánh biết của họ. Gọi là họ không được tâm vô biên. Chỉ có tánh hữu biên. Bốn là, người này nghiên cứu đến cùng hành uẩn trống rỗng. Dùng con đường tâm mà mình thấy để đo lượng, tất cả chúng sinh trong một thân, tính toán thảy đều nửa sinh nửa diệt. Hiểu rằng thế giới tất cả những gì có (sở hữu), một nửa hữu biên, một nửa vô biên. Do sự đo lường hữu biên vô biên này, rơi vào ngoại đạo, mê hoặc bản tánh Bồ-đề. Đây gọi là ngoại đạo thứ tư, lập luận hữu biên.
10-06 Lại nữa những thiện nam trong tam-ma-địa này, chánh tâm kiên cố ngưng tụ, ma không thể lợi dụng, nghiên cứu nguồn gốc các bổn loại sinh vật, nghiên cứu đến chỗ thâm sâu, phát hiện nguồn gốc phiền não thường nhiễu động không ngừng. Từ trong tri kiến khởi sự đo lường, người này rơi vào bốn loại điên đảo, bất tử kiêu loạn, hư luận khắp nơi. Một là, người này quan sát nguồn biến hóa. Thấy chỗ lưu chuyển, gọi là biến. Thấy chỗ tương tục, gọi là hằng. Thấy chỗ được thấy, gọi là sinh. Thấy chỗ không thấy, gọi là diệt. Nguyên nhân tương tục, chỗ tánh không đoạn, gọi là tăng. Trong chánh tương tục, chỗ giữa rời xa, gọi là giảm. Các chỗ sinh riêng, gọi là hữu. Các chỗ mất lẫn nhau, gọi là vô. Dùng lý khắp quan sát, dùng tâm riêng thấy. Có người cầu pháp, đến hỏi nghĩa ấy. Đáp rằng: Ta nay cũng sinh cũng diệt. Cũng hữu cũng vô. Cũng tăng cũng giảm. Trong mọi lúc đều làm loạn lời nói của mình. Khiến những người ở trước kia mất đi chương cú. Hai là, người này xét kỹ tâm mình, lẫn nhau không chỗ, do vô mà chứng. Có người đến hỏi, chỉ đáp một chữ, chỉ nói là vô. Ngoài vô ra, không nói gì thêm. Ba là, người này xét kỹ tâm mình, mỗi mỗi có chỗ, do hữu mà chứng. Có người đến hỏi, chỉ đáp một chữ, chỉ nói là chính nó. Ngoài chính nó ra, không nói gì thêm. Bốn là, người này hữu vô đều thấy, cảnh của họ phân nhánh, tâm cũng loạn. Có người đến hỏi, đáp rằng: Cũng hữu tức là cũng vô, cũng trong vô, không phải cũng hữu, tất cả kiêu loạn, không thể truy vấn. Do sự đo lường kiêu loạn hư vô này, rơi vào ngoại đạo, mê hoặc bản tánh Bồ-đề. Đây gọi là ngoại đạo thứ năm, bốn tánh điên đảo, bất tử kiêu loạn, hư luận khắp nơi.
10-07 Lại nữa những thiện nam trong tam-ma-địa này, chánh tâm kiên cố ngưng tụ, ma không thể lợi dụng, nghiên cứu nguồn gốc các bổn loại sinh vật, nghiên cứu đến chỗ thâm sâu, phát hiện nguồn gốc phiền não thường nhiễu động không ngừng. Từ trong dòng chảy vô tận khởi sự đo lường, người này rơi vào tướng có sau khi chết, phát tâm điên đảo. Hoặc tự cố giữ thân, nói sắc là ta. Hoặc thấy Ngã (ta) tròn đầy, bao hàm khắp cõi nước, nói Ngã (ta) có sắc. Hoặc duyên trước kia theo ta xoay chuyển, nói sắc thuộc về ta. Hoặc lại ta nương vào trong hành mà tương tục, nói ta ở trong sắc. Thảy đều đo lường rằng sau khi chết có tướng. Như vậy tuần hoàn, có mười sáu tướng. Từ đây hoặc cho rằng rốt ráo phiền não, rốt ráo Bồ-đề, hai tánh cùng tồn tại, không chạm nhau. Do sự đo lường rằng sau khi chết có tướng này, rơi vào ngoại đạo, mê hoặc bản tánh Bồ-đề. Đây gọi là ngoại đạo thứ sáu, lập luận trong năm uẩn rằng sau khi chết có tướng, tâm điên đảo luận.
10-08 Lại nữa những thiện nam trong tam-ma-địa này, chánh tâm kiên cố ngưng tụ, ma không thể lợi dụng, nghiên cứu nguồn gốc các bổn loại sinh vật, nghiên cứu đến chỗ thâm sâu, phát hiện nguồn gốc phiền não thường nhiễu động không ngừng. Từ trong chỗ đã trừ diệt trước đó là sắc, thọ, tưởng mà khởi sự đo lường, người này rơi vào tướng không sau khi chết, phát tâm điên đảo. Thấy sắc của mình diệt, hình thể không có nguyên nhân. Quan sát tưởng diệt, tâm không có chỗ dựa. Biết thọ diệt, không còn liên kết. Tánh của uẩn tan rã, dẫu có lý sinh, nhưng không có thọ tưởng, cùng như cây cỏ. Chất này hiện tiền còn không thể nắm bắt. Sau khi chết sao lại càng có các tướng. Do đó khảo xét rằng sau khi chết không có tướng. Như vậy tuần hoàn, có tám vô tướng. Từ đây hoặc cho rằng nhân quả Niết-bàn, tất cả đều không. Chỉ là danh từ suông, rốt ráo đoạn diệt. Do sự đo lường rằng sau khi chết không có này, rơi vào ngoại đạo, mê hoặc bản tánh Bồ-đề. Đây gọi là ngoại đạo thứ bảy, lập luận trong năm uẩn rằng sau khi chết không có tướng, tâm điên đảo luận.
10-09 Lại nữa những thiện nam trong tam-ma-địa này, chánh tâm kiên cố ngưng tụ, ma không thể lợi dụng, nghiên cứu nguồn gốc các bổn loại sinh vật, nghiên cứu đến chỗ thâm sâu, phát hiện nguồn gốc phiền não thường nhiễu động không ngừng. Từ trong hành còn tồn tại, cùng với thọ và tưởng đã diệt, cùng lúc tính toán cả có và không, tự thể tướng phá nhau, người này rơi vào lý luận điên đảo rằng sau khi chết đều chẳng phải. Trong sắc, thọ, tưởng, thấy có mà chẳng phải có. Trong dòng lưu chuyển của hành, quan sát không mà chẳng phải không. Như vậy tuần hoàn, nghiên cứu đến cùng của ấm giới, tất cả đều chẳng phải tướng. Theo một duyên nào đó, đều nói rằng sau khi chết có tướng, không tướng. Lại tính toán rằng tánh chân thật của các hành lưu chuyển sai lệch, tâm phát thông ngộ. Có không đều chẳng phải, hư thực mất chuẩn. Do sự đo lường rằng sau khi chết đều chẳng phải này, về sau mờ mịt không thể nói được, rơi vào ngoại đạo, mê hoặc bản tánh Bồ-đề. Đây gọi là ngoại đạo thứ tám, lập luận trong năm ấm rằng sau khi chết đều chẳng phải, tâm điên đảo luận.
10-10 Lại nữa những thiện nam trong tam-ma-địa này, chánh tâm kiên cố ngưng tụ, ma không thể lợi dụng, nghiên cứu nguồn gốc các bổn loại sinh vật, nghiên cứu đến chỗ thâm sâu, phát hiện nguồn gốc phiền não thường nhiễu động không ngừng. Từ trong chỗ sau này không còn sinh khởi sự đo lường, người này rơi vào bảy luận thuyết đoạn diệt. Hoặc cho rằng thân diệt. Hoặc cho rằng dục diệt tận. Hoặc cho rằng khổ diệt tận. Hoặc cho rằng cực lạc diệt. Hoặc cho rằng cực xả diệt. Như vậy tuần hoàn, nghiên cứu đến cùng bảy cảnh giới, hiện tiền tan diệt, diệt rồi không còn nữa. Do sự đo lường rằng sau khi chết đoạn diệt này, rơi vào ngoại đạo, mê hoặc bản tánh Bồ-đề. Đây gọi là ngoại đạo thứ chín, lập luận trong năm uẩn rằng sau khi chết đoạn diệt, tâm điên đảo luận.
10-11 Lại nữa những thiện nam trong tam-ma-địa này, chánh tâm kiên cố ngưng tụ, ma không thể lợi dụng, nghiên cứu nguồn gốc các bổn loại sinh vật, nghiên cứu đến chỗ thâm sâu, phát hiện nguồn gốc phiền não thường nhiễu động không ngừng. Từ trong chỗ sau này còn sinh khởi sự đo lường, người này rơi vào năm luận thuyết Niết-bàn. Hoặc lấy dục giới làm chỗ nương tựa chánh chuyển, vì quan sát thấy viên minh mà sinh lòng yêu mến. Hoặc lấy sơ thiền, vì tánh không lo âu. Hoặc lấy nhị thiền, vì tâm không khổ. Hoặc lấy tam thiền, vì cực vui tùy thuận. Hoặc lấy tứ thiền, vì khổ lạc đều mất, không chịu tánh sinh diệt luân hồi. Mê các cõi trời hữu lậu, cho là giải thoát vô vi. Năm chỗ an ổn cho là chỗ nương tựa thanh tịnh thù thắng. Như vậy tuần hoàn, năm chỗ rốt ráo. Do sự đo lường năm Niết-bàn hiện tiền này, rơi vào ngoại đạo, mê hoặc bản tánh Bồ-đề. Đây gọi là ngoại đạo thứ mười, lập luận trong năm ấm rằng năm Niết-bàn hiện tiền, tâm điên đảo luận.
10-12 A-nan, mười loại điên giải trong thiền định này, đều là do hành ấm dùng tâm tương tác mà hiện ra những ngộ nhận ấy. Chúng sinh ngu muội, không tự cân nhắc. Gặp phải cảnh hiện tiền này, lấy mê làm giải, tự nói rằng đắc thánh. Thành đại vọng ngữ, rơi vào ngục vô gián. Các ông phải đem lời Như Lai, sau khi ta diệt độ, truyền dạy trong thời mạt pháp. Khắp khiến chúng sinh giác ngộ ý nghĩa này. Đừng để ma tâm tự khởi yêu nghiệt sâu nặng. Giữ gìn che chở, tiêu diệt tà kiến. Dạy thân tâm họ, khai mở ý nghĩa chân thật. Trên đạo vô thượng không gặp ngã rẽ. Đừng để tâm cầu nguyện đắc ít cho là đủ. Làm dấu chỉ thanh tịnh của bậc Đại Giác Vương.
Thức Ấm
10-13 A-nan, người thiện nam kia tu tam-ma-địa khi hành ấm đã tận. Các tánh thế gian, phiền não nhiễu động, cộng nghiệp cùng sanh, bỗng nhiên tan rã, chìm vào mối liên kết tinh tế. Bổ-đặc-già-la, mạch sâu trả nghiệp, cảm ứng treo đứt. Trên cõi Niết-bàn sắp đại minh ngộ. Như gà gáy lần cuối, ngắm nhìn phương Đông, đã có sắc tinh. Sáu căn hư tĩnh, không còn rong ruổi. Trong ngoài sáng tỏ, vào mà không chỗ vào. Thấu sâu mười phương mười hai loại chúng sinh, nguồn gốc thọ mệnh. Quan sát nguồn chấp, không chiêu cảm nghiệp các loài. Trong mười phương giới, đã đạt sự đồng nhất. Sắc tinh không chìm, hiển lộ điều u ẩn. Đây gọi là vùng trời của thức ấm. Nếu chiêu cảm nghiệp trong các loài, đã đạt đồng nhất ấy mà tiêu mòn sáu cửa, hợp mở thành tựu. Thấy nghe thông suốt gần nhau, cùng dùng thanh tịnh. Mười phương thế giới cùng thân tâm, như ngọc lưu ly, trong ngoài sáng suốt, gọi là thức ấm tận. Người này thì có thể vượt qua mệnh trược. Quan sát nguyên do của nó, hư tượng không thật, vọng tưởng điên đảo, chính là gốc của nó.
10-14 A-nan, nên biết rằng người thiện nam này nghiên cứu đến cùng hành không, nơi thức đã trở về nguồn, đã diệt sạch sinh diệt, nhưng với sự tinh diệu tịch diệt chưa viên mãn. Có thể khiến thân mình các căn ngăn cách hợp mở, cũng cùng mười phương các loài thông giác, giác tri thông suốt, có thể nhập vào nguồn viên mãn. Nếu ở nơi trở về ấy, lập nhân chân thường, sinh hiểu biết thù thắng, người này liền rơi vào chấp nhân sở nhân. Sa-tỳ-ca-la nơi trở về là minh đế, thành bạn đồng hành của họ. Mê bản tánh Bồ-đề của Phật, mất đi tri kiến. Đây gọi là thứ nhất, lập tâm sở đắc, thành quả sở quy. Trái xa viên thông, quay lưng với thành Niết-bàn, sinh dòng ngoại đạo.
A nan, lại người thiện nam nghiên cứu đến cùng hành không, đã diệt sạch sinh diệt, nhưng với sự tinh diệu tịch diệt chưa viên mãn. Nếu ở nơi chỗ trở về xem đó là tự thể, cho rằng tất cả chúng sinh trong mười hai loại khắp tận hư không giới, đều từ một loại trong thân ta lưu xuất, sinh hiểu biết thù thắng, người này liền rơi vào chấp năng phi năng. Ma-hê-thủ-la hiện thân vô biên, thành bạn đồng hành của họ. Mê bản tánh Bồ-đề của Phật, mất đi tri kiến. Đây gọi là thứ hai, lập tâm năng vi, thành quả năng sự. Trái xa viên thông, quay lưng với thành Niết-bàn, sinh trời đại mạn, chủng loại Ngã (cái tôi) biến mãn khắp.
10-15 Lại người thiện nam nghiên cứu đến cùng các hành không, đã diệt sạch sinh diệt, nhưng với sự tinh diệu tịch diệt chưa viên mãn. Nếu ở nơi chỗ trở về có chỗ nương tựa, tự nghi thân tâm từ đó lưu xuất. Mười phương hư không, thảy đều do nó sinh khởi. Liền ở nơi khởi phát chỗ tuyên lưu ấy, cho là thân chân thường không sinh không diệt. Trong sinh diệt, sớm tính là thường trụ. Đã mê rằng không sinh, cũng mê cả sinh diệt. An trụ trong mê mờ sinh hiểu biết thù thắng, người này liền rơi vào chấp thường phi thường. Cho rằng trời Tự Tại thành bạn đồng hành của họ. Mê bản tánh Bồ-đề của Phật, mất đi tri kiến. Đây gọi là thứ ba, lập tâm nhân y, thành quả vọng tính. Trái xa viên thông, quay lưng với thành Niết-bàn, sinh dòng điên đảo viên mãn.
10-16 Lại người thiện nam nghiên cứu đến cùng các hành không, đã diệt sạch sinh diệt, nhưng với sự tinh diệu tịch diệt chưa viên mãn. Nếu ở nơi chỗ biết, vì biết khắp viên mãn, do biết mà lập giải. Cho rằng cỏ cây mười phương đều gọi là hữu tình, không khác với người. Cỏ cây thành người, người chết lại thành cỏ cây mười phương. Không phân biệt mà biết khắp, sinh hiểu biết thù thắng, người này liền rơi vào chấp tri vô tri. Bà-tra-tiễn-ni, chấp tất cả giác, thành bạn đồng hành của họ. Mê bản tánh Bồ-đề của Phật, mất đi tri kiến. Đây gọi là thứ tư, lập tâm biết khắp, thành quả hư ngụy. Trái xa viên thông, quay lưng với thành Niết-bàn, sinh dòng tri kiến điên đảo.
10-17 Lại người thiện nam nghiên cứu đến cùng các hành không, đã diệt sạch sinh diệt, nhưng với sự tinh diệu tịch diệt chưa viên mãn. Nếu trong sự viên dung căn dùng lẫn nhau, đã đạt tùy thuận. Liền ở nơi viên hóa tất cả phát sinh, cầu ánh sáng của lửa, thích sự trong sạch của nước, yêu sự lưu thông của gió, quan sát bụi trần thành tựu, tôn thờ từng thứ. Lấy đám trần này làm nguyên nhân phát khởi, lập giải thường trụ. Người này liền rơi vào chấp sinh vô sinh. Các Ca-diếp-ba cùng Bà-la-môn, tâm siêng sai khiến thân, thờ lửa kính nước, cầu ra khỏi sinh tử, thành bạn đồng hành của họ. Mê bản tánh Bồ-đề của Phật, mất đi tri kiến. Đây gọi là thứ năm, chấp đắm tôn thờ, mê tâm theo vật, lập vọng cầu nhân, cầu mong quả hư vọng. Trái xa viên thông, quay lưng với thành Niết-bàn, sinh dòng biến hóa điên đảo.
10-18 Lại người thiện nam nghiên cứu đến cùng các hành không, đã diệt sạch sinh diệt, nhưng với sự tinh diệu tịch diệt chưa viên mãn. Nếu ở nơi viên minh, cho rằng minh (trong sáng) là hư không, chẳng phải diệt quần hóa, lấy sự vĩnh diệt làm chỗ nương tựa, sinh hiểu biết thù thắng, người này liền rơi vào chấp quy vô quy. Trong cõi trời Vô Tưởng, các Thuấn-nhã-đa thành bạn đồng hành của họ. Mê bản tánh Bồ-đề của Phật, mất đi tri kiến. Đây gọi là thứ sáu, lập tâm viên hư vô, thành quả không và tan rã. Trái xa viên thông, quay lưng với thành Niết-bàn, sinh dòng đoạn diệt.
10-19 Lại người thiện nam nghiên cứu đến cùng các hành không, đã diệt sạch sinh diệt, nhưng với sự tinh diệu tịch diệt chưa viên mãn. Nếu ở nơi viên thường, gia cố thân thường trụ, đồng với sự tinh tế viên mãn, lâu dài không nghiêng ngã diệt mất, sinh hiểu biết thù thắng, người này liền rơi vào chấp tham phi tham. Các A-tư-đà cầu trường mệnh thành bạn đồng hành của họ. Mê bản tánh Bồ-đề của Phật, mất đi tri kiến. Đây gọi là thứ bảy, chấp trước mệnh nguồn, lập nhân vọng kiên cố, hướng đến quả lao nhọc dài lâu. Trái xa viên thông, quay lưng với thành Niết-bàn, sinh dòng kéo dài hư vọng.
10-20 Lại người thiện nam nghiên cứu đến cùng các hành không, đã diệt sạch sinh diệt, nhưng với sự tinh diệu tịch diệt chưa viên mãn. Quan sát mệnh thông nhau, nhưng vẫn lưu luyến trần lao, sợ rằng nó tiêu tận. Liền ở nơi này ngồi trong cung hoa sen, hóa rộng bảy báu, thêm nhiều nữ bảo, buông thả tâm mình, sinh hiểu biết thù thắng, người này liền rơi vào chấp chân phi chân. Tra-kỷ-ca-la thành bạn đồng hành của họ. Mê bản tánh Bồ-đề của Phật, mất đi tri kiến. Đây gọi là thứ tám, phát nhân tà tư, lập quả trần cháy bỏng. Trái xa viên thông, quay lưng với thành Niết-bàn, sinh dòng Thiên ma.
10-21 Lại người thiện nam nghiên cứu đến cùng các hành không, đã diệt sạch sinh diệt, nhưng với sự tinh diệu tịch diệt chưa viên mãn. Trong mệnh rõ ràng phân biệt tinh thô, gạn chọn chân ngụy, nhân quả đáp trả lẫn nhau, chỉ cầu cảm ứng, quay lưng với đạo thanh tịnh. Cái gọi là thấy khổ đoạn tập, chứng diệt tu đạo. Ở nơi diệt đã ngừng nghỉ, không tiến thêm nữa, sinh hiểu biết thù thắng, người này liền rơi vào định tánh Thanh Văn. Các vị tăng vô văn, kẻ tăng thượng mạn, thành bạn đồng hành của họ. Mê bản tánh Bồ-đề của Phật, mất đi tri kiến. Đây gọi là thứ chín, lập tâm tinh ứng viên mãn, thành quả hướng tịch. Trái xa viên thông, quay lưng với thành Niết-bàn, sinh dòng trói buộc trong không.
10-22 Lại người thiện nam nghiên cứu đến cùng các hành không, đã diệt sạch sinh diệt, nhưng với sự tinh diệu tịch diệt chưa viên mãn. Nếu trong sự viên dung thanh tịnh giác minh, phát khởi nghiên cứu thâm diệu, liền lập Niết-bàn mà không tiến thêm, sinh hiểu biết thù thắng, người này liền rơi vào định tánh Bích-chi. Các hàng Duyên giác Độc giác không hồi tâm, thành bạn đồng hành của họ. Mê bản tánh Bồ-đề của Phật, mất đi tri kiến. Đây gọi là thứ mười, lập tâm giác viên thông, thành quả sáng tỏ tịch lặng. Trái xa viên thông, quay lưng với thành Niết-bàn, sinh dòng giác viên minh không biến hóa viên mãn.
10-23 A-nan. Như vậy, mười loại thiền định này, giữa đường hóa thành điên cuồng, do dựa vào mê hoặc, trong lúc chưa đầy đủ lại sinh ra chứng ngộ thỏa mãn. Tất cả đều là do thức ấm tương tác với tâm dụng, nên sinh ra những vị trí này. Chúng sinh ngu muội, không tự xét lượng sức mình, gặp cảnh này hiện tiền, mỗi người dựa vào sở thích và thói quen mê tâm từ trước, mà tự dừng nghỉ. Họ cho rằng đó chính là chỗ nương tựa cuối cùng, tự nói rằng đã thỏa mãn Bồ-đề vô thượng. Thành đại vọng ngữ, cuối cùng bị nghiệp cảm của ngoại đạo tà ma dẫn dắt, đọa vào ngục vô gián. Thanh Văn, Duyên Giác không thể tiến thêm. Các con hãy lưu tâm, giữ vững đạo Như Lai, đem pháp môn này sau khi ta diệt độ, truyền dạy cho đời mạt thế. Khiến chúng sinh khắp nơi, giác ngộ ý nghĩa này, không để ma kiến tự tạo tội chướng trầm luân, bảo vệ an ủi, thương xót cứu vớt, tiêu diệt duyên tà. Khiến thân tâm họ nhập tri kiến Phật, từ đầu thành tựu, không lạc đường tà. Pháp môn này, trong quá khứ xa xưa qua hằng sa kiếp, vi trần số Như Lai, đã nương tâm khai mở này, mà đắc đạo vô thượng.
Thức ấm nếu tận, thì ngay lúc đó các căn của ông sẽ hỗ tương sử dụng lẫn nhau. Từ sự hỗ tương này, có thể nhập vào trí tuệ thuần chất Kim cang của Bồ-tát. Tâm viên minh tinh khiết, từ trong đó phát khởi sự biến hóa. Như ngọc lưu ly trong sạch, bên trong chứa đựng vầng trăng quý báu. Như vậy, cho đến vượt qua mười Tín, mười Trụ, mười Hạnh, mười Hồi hướng, bốn Tâm gia hạnh, con đường Bồ-tát hành qua mười địa Kim cang, Đẳng giác viên minh, nhập vào biển trang nghiêm vi diệu Như Lai. Viên mãn Bồ-đề, trở về chỗ vô sở đắc. Đây là điều mà các vị Phật Thế Tôn trong quá khứ, trong pháp Xa Ma Tha, Tỳ-bà-xá-na, giác minh phân tích những việc ma vi tế. Khi cảnh ma hiện tiền, ông có thể nhận biết rõ ràng, tâm cấu được rửa sạch, không rơi vào tà kiến. Ma của năm ấm tiêu diệt, thiên ma bị nghiền nát, các quỷ thần đại lực mất hồn bỏ chạy. Yêu mị, quỷ quái không còn sinh khởi nữa. Cho đến khi đạt Bồ-đề, không hề thiếu thốn chút nào. Những kẻ thấp kém tiến lên, trong Đại Niết-bàn tâm không mê muội. Nếu các chúng sinh ngu độn ở đời mạt thế, chưa hiểu Thiền-na, không biết thuyết pháp, thích tu Tam-muội, ông lo họ lẫn lộn với tà đạo, hãy một lòng khuyên họ trì chú Đà-la-ni Phật Đảnh của ta. Nếu không thể tụng, thì viết ra đặt trong thiền đường, hoặc mang theo trên người, tất cả các ma đều không thể động đến. Ông nên cung kính vâng lời mười phương Như Lai, tu tiến rốt ráo, làm gương cuối cùng.
10-24 A-nan liền từ chỗ ngồi đứng dậy. Nghe lời Phật dạy bảo, đảnh lễ kính cẩn vâng theo, ghi nhớ không quên. Ở trong đại chúng, lặp lại bạch Phật: “Như lời Phật đã dạy, trong tướng năm ấm, năm loại hư vọng tâm vọng tưởng là gốc. Chúng con bình thường chưa được Như Lai khai thị vi tế. Lại nữa, năm ấm này là cùng lúc tiêu trừ, hay lần lượt tận diệt? Năm tầng này, rốt cuộc lấy gì làm ranh giới? Cúi xin Như Lai phát khởi lòng đại từ, vì đại chúng này mà làm sáng tỏ tâm mắt thanh tịnh, để cho tất cả chúng sinh trong đời mạt thế làm con mắt tương lai.
10-25 Phật bảo A-nan: “Tinh chân diệu minh, bản giác viên tịnh, không lưu giữ sinh tử hay các trần cấu. Thậm chí hư không cũng do vọng tưởng mà sinh khởi. Bản giác diệu minh chân tinh này, do vọng mà phát sinh các khí thế gian, như Diễn-nhã-đa, mê đầu nhận bóng. Vọng vốn không nguyên nhân. Trong vọng tưởng, lập tính nhân duyên. Kẻ mê nhân duyên, gọi là tự nhiên. Tính hư không kia, vẫn thực là huyễn sinh. Nhân duyên, tự nhiên, đều là do tâm vọng của Chúng Sinh Suy Lường.
Năm Thứ Vọng Tưởng
10-26 A-nan, biết vọng từ đâu khởi, nói vọng là nhân duyên. Nếu vọng vốn không, nói vọng là nhân duyên, thì vốn không có gì. Huống chi kẻ không biết, lại suy đoán là tự nhiên. Vì vậy, Như Lai khai thị cho ông: nhân gốc của năm uẩn, đều cùng là vọng tưởng.
Thân ông trước do ý tưởng của cha mẹ mà sinh ra. Tâm ông nếu không phải là tưởng, thì không thể đến trong tưởng để truyền mệnh. Như ta trước đã nói: tâm tưởng đến vị chua của giấm, nước miếng trong miệng liền sinh ra. Tâm tưởng đến việc trèo cao, lòng bàn chân liền thấy nhức nhối. Vách đá không có thật, giấm cũng chưa đến. Thân ông chắc chắn không phải là hư vọng thông thường. Nước miếng làm sao vì nói đến giấm mà tiết ra? Vì vậy nên biết, sắc thân hiện tại của ông, được gọi là vọng tưởng kiên cố thứ nhất.
Tức là tâm tưởng trèo cao đã nói, có thể khiến thân hình ông thực sự cảm nhận đau nhức. Do nhân cảm thọ mà sinh, có thể khiến sắc thể chuyển động. Nay ông hiện tiền, thuận lợi hay tổn hại, cả hai đều hiện hành, thúc đẩy, được gọi là vọng tưởng hư minh thứ hai.
Do niệm lự của ông, khiến sắc thân ông vận hành. Thân không thuộc loại niệm, vậy thân ông vì sao lại tùy theo niệm mà bị chi phối? Đủ loại hình ảnh được nắm bắt, tâm sinh ra hình thể, tương ứng với niệm. Khi tỉnh là tâm tưởng, khi ngủ thành các mộng. Vậy nên, niệm tưởng của ông làm dao động vọng tình, được gọi là vọng tưởng dung thông thứ ba.
10-27 Hiện tượng biến hóa không ngừng, vận chuyển âm thầm chuyển dịch. Móng tay dài ra, tóc mọc, khí huyết suy hao, nhan sắc nhăn nheo. Ngày đêm thay nhau, chẳng hề hay biết.
A -nan, nếu đây không phải là ông, sao thân thể lại biến đổi? Nếu chắc chắn là chân thật, sao ông lại không giác biết? Vậy nên, các hành của ông niệm niệm không ngừng, được gọi là vọng tưởng u ẩn thứ tư.
Điên Đảo Tưởng Vi Tế Thứ Năm
Lại nữa, tinh minh trong sáng, không lay động của ông, được gọi là thường hằng. Ở trong thân, không vượt ngoài thấy, nghe, giác biết. Nếu thực sự là tinh chân, thì không dung chứa thói quen vọng tưởng. Vì sao các ông, trong những năm xưa, từng thấy một vật kỳ lạ, trải qua năm tháng, trí nhớ và vọng tưởng đều không còn, nhưng sau này bỗng nhiên thấy lại vật kỳ lạ trước kia, ký ức rõ ràng, chưa từng mất đi? Vậy thì trong cái tinh liễu trong sáng không lay động này, niệm niệm chịu hun đúc, có gì để tính toán?
10-28 A-nan, nên biết rằng cái trong sáng (湛) này không phải là chân thật. Như dòng nước chảy xiết, nhìn thì tưởng lặng yên, nhưng chảy nhanh nên không thấy, không phải là không có dòng chảy. Nếu không phải là nguồn của tưởng, làm sao chịu thói quen vọng tưởng? Không phải do sáu căn của ông xen nhau mở đóng, thì vọng tưởng này không lúc nào diệt. Vì vậy, trong cái thấy, nghe, giác biết hiện tại của ông, thói quen xen lẫn bao nhiêu, thì trong cái tinh liễu trong sáng ấy, ảo tượng hư vô, được gọi là vọng tưởng vi tế điên đảo thứ năm.
biên tế Ngũ uẩn
10-29 A-nan, năm thọ uẩn này, do năm vọng tưởng mà thành. Nay ông muốn biết về cạn sâu của nhân giới. Chỉ có sắc và không, là biên tế của sắc. Chỉ có xúc và ly, là biên tế của thụ. Chỉ có nhớ và vọng, là biên tế của tưởng. Chỉ có diệt và sinh, là biên tế của hành. Trong sáng hợp với trong sáng, thuộc về biên tế của thức.
Năm uẩn này vốn chồng chất sinh khởi. Sinh do thức có, diệt từ sắc trừ. Về lý thì đốn ngộ, nhân ngộ mà cùng tiêu. Về sự thì không phải đốn trừ, mà do thứ tự dứt hết. Ta đã chỉ cho ông về nút thắt khăn lau, còn gì chưa rõ, hỏi lại cái này lần nữa? Ông nên đem căn nguyên vọng tưởng này, khiến tâm được khai thông, truyền dạy cho các hành giả trong thời mạt pháp tương lai. Khiến họ nhận biết hư vọng, Tự sanh chán ghét sâu sắc, biết có Niết-bàn, không luyến ái tam giới.
10-30 A-nan, nếu lại có người, khắp đầy mười phương tất cả hư không, chứa đầy bảy báu, đem dâng cúng các vi trần chư Phật, phụng sự cúng dường, tâm không hề luống qua. Ý ông nghĩ sao? Người này do nhân duyên bố thí chư Phật, được phước nhiều hay không?
10-31 A-nan đáp: “Hư không vô tận, trân bảo vô biên. Xưa có chúng sinh cúng Phật bảy đồng tiền, bỏ thân còn được vị trí Chuyển Luân Vương. Huống chi hiện tại, hư không đã cùng tận, cõi Phật đầy khắp, đều dâng trân bảo. Dù tận kiếp suy tư, cũng không thể sánh bằng. Phước này làm sao lại có biên giới?”
Biến Khổ Địa Ngục Thành Cõi Nước An Vui
10-32 Phật bảo A-nan: “Chư Phật Như Lai, lời nói không hư vọng. Nếu lại có người, thân mang đủ bốn tội trọng và mười ba-la-di, trong khoảnh khắc liền trải qua địa ngục A-tì ở cõi này cõi kia, cho đến cùng tận các địa ngục vô gián trong mười phương, không nơi nào không trải qua. Nhưng nếu người ấy có thể trong một niệm, đem pháp môn này, trong thời mạt kiếp, khai thị cho những người chưa học. Tội chướng của người ấy, trong một niệm sẽ tiêu diệt. Biến cái nhân khổ đau địa ngục mà họ chịu, thành cõi nước an lạc. Phước đức đạt được vượt xa người bố thí trước đó, trăm lần, ngàn lần, triệu ức lần, cho đến mức số lượng và thí dụ cũng không thể sánh kịp.”
10-33 A-nan, nếu có chúng sinh nào có thể tụng kinh này, trì chú này, như ta đã giảng rộng, dù tận kiếp cũng không hết. Y theo lời dạy của ta, thực hành đúng như giáo pháp, sẽ trực tiếp thành Bồ-đề, không còn nghiệp ma.
Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, tất cả chư thiên, nhân, A-tu-la trong thế gian, cùng các vị Bồ-tát, Nhị thừa, Thánh tiên đồng tử từ các cõi khác, và những ai mới phát tâm, cùng các đại lực quỷ thần, đều rất hoan hỷ, đảnh lễ rồi lui đi.
Chúng tôi luôn sẵn lòng lắng nghe và hỗ trợ bạn
Email:
Điện thoại:
chonngobalamat@gmail.com
+61 425750840


