Kinh Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm
Kinh Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm là một trong những bộ kinh quan trọng bậc nhất của Phật giáo Đại Thừa. Bộ kinh dạy về bản tính chân tâm thanh tịnh, phương pháp tu hành thâm sâu và cách phá trừ vọng tưởng, phiền não để đạt đến giác ngộ viên mãn. Đây là kinh điển then chốt giúp hành giả nhận ra chân tâm và thực hành thiền định hiệu quả không rơi vào ma đạo.
4/9/2026192 min read
Mục Lục
Kinh Đại Phật Đảnh Như Lai Mật Nhân Tu Chứng Liễu Nghĩa Chư Bồ Tát Vạn Hạnh Thủ Lăng Nghiêm Quyển 01
Kinh Đại Phật Đảnh Như Lai Mật Nhân Tu Chứng Liễu Nghĩa Chư Bồ Tát Vạn Hạnh Thủ Lăng Nghiêm Quyển 01
Đời Đường - Thiên Trúc: Sa Môn Bát Lạt Mật Đế - Hán dịch
Tàm Quý Ni Thích Chơn Ngộ - Việt dịch
01 -01 Duyên Khởi
Tôi nghe như vầy. Một thuở nọ, Đức Phật ở tại tinh xá Kì Hoàn, thành Thất La Phiệt. Với các đại chúng Tỳ kheo, đầy đủ một ngàn hai trăm năm mươi vị. Đều là các bậc Vô lậu đại A La Hán. Hàng đệ tử Phật trụ trì, khéo vượt thoát khỏi các hữu. Trong các cõi nước, thành tựu oai nghi. Theo Phật chuyển pháp luân, khéo kham nhận giáo huấn của Phật. Giới luật trang nghiêm thanh tịnh, làm bậc mô phạm khắp ba cõi. Ứng hiện vô lượng thân, để độ thoát chúng sanh. Cứu tế đời vị lai, thoát khỏi các hệ lụy trần ai.
Tên các Ngài là: Đại Trí Xá Lợi Phất, Đại Mục Kiền Liên, Ma Ha Câu Hi La, Phú Lầu Na Di Đa La Ni Tử, Tu Bồ Đề, Ưu Bà Ni Sa Đà vv...làm bậc thượng thủ.
Lại có, vô lượng Bích Chi Vô Học, cùng hàng sơ phát tâm. Cùng nhau vân tập đi đến chỗ của Phật. Vì nhằm ngày mãn hạ tự tứ của các vị Tỳ Kheo. Nên mười phương Bồ Tát đều đến xin Phật giải tỏa mối nghi hoặc trong tâm. Kính vâng đức từ nghiêm, thỉnh cầu giáo nghĩa bí mật thâm sâu.
Lúc bấy giờ, đức Như Lai trải tọa cụ ngồi an nhiên. Vì tất cả hội chúng trong đạo tràng, mà tuyên nói mở bày pháp thâm sâu vi diệu. Bày yến tiệc pháp hội khiến đại chúng thanh tịnh, được nghe pháp chưa từng có. Tiếng Ca Lăng Tiên, vang khắp mười phương thế giới. Hằng sa chúng Bồ Tát, đều đến vân tập đạo tràng. Văn Thù Sư Lợi làm bậc thượng thủ.
01-02 Lúc bấy giờ, vua Ba Tư Nặc, nhân ngày húy kị của phụ vương ông. Thỉnh Phật vào cung. Tự thân nghinh rước Như Lai. Sắm sửa món ăn trân quí thượng phẩm mỹ vị. Lại cũng đích thân cung thỉnh chư vị đại Bồ tát. Lại ở trong thành, chư vị trưởng giả, cư sĩ đồng thời, cúng dường trai phạn chư Tăng. Đều chờ Phật đến ứng cúng. Đức Phật ủy thác cho ngài Văn Thù, phân chia chư vị Bồ Tát và A La Hán, đến các trai chủ để ứng cúng.
Chỉ có A Nan, đã nhận lời mời riêng. Đường xá xa xôi chưa về, không kịp dự vào hàng tăng. Lại không có vị Thượng Tọa, hay A Xà Lê đi cùng. Một mình đi về trên đường. Hôm ấy không được ai cúng. Lúc đó A Nan, ôm bát ứng khí, đi vào trong thành, theo thứ tự mà khất thực. Trong tâm ban đầu, mong gặp người đàn việt cuối cùng, để làm trai chủ. Không kể người đó là sang hay hèn, thuộc giai cấp quí tộc Sát đế lợi hay tầng lớp hạ tiện Chiên Đà La. Chỉ cốt thực hiện lòng từ bình đẳng, không chọn lựa người giàu kẻ nghèo. Phát tâm thành tựu, cho tất cả chúng sanh, vô lượng công đức. A Nan đã biết Thế Tôn Như Lai, khiển trách Tu Bồ Đề và Đại Ca Diếp, là bậc A La Hán mà tâm không bình đẳng. Vì kính ngưỡng Như Lai, mở lòng không lựa chọn, độ người nghi ngờ, hủy báng.
Đi qua ngôi Thành Hoàng, chậm rãi bước vào cổng. Uy nghi nghiêm chỉnh, cung kính giữ đúng pháp hóa trai.
Lúc bấy giờ, A Nan, do thực hành phép khất thực theo thứ tự, đi qua nhà dâm nữ, gặp phải đại huyễn thuật. Nàng Ma Đăng Già, dùng thần chú Tiên Phạm Thiên, do đạo sĩ Ta Tì Ca La trao cho, kéo vào dâm phòng, tiếp xúc vuốt ve, sắp hoại giới thể!
01-03 Như Lai biết chuyện, dâm thuật hãm hại, thọ trai xong lập tức trở về. Vua cùng đại thần, trưởng giả cư sĩ, cũng đều theo Phật, mong được nghe pháp thâm yếu. Lúc bấy giờ, Thế Tôn, từ trên đỉnh đầu phóng ra trăm vầng ánh sáng báu vô úy, trong ánh sáng ấy lại xuất hiện tòa sen báu ngàn cánh, trên đó có hóa thân của Phật, xếp bằng ngồi kiết già, tuyên nói thần chú. Bảo Văn Thù Sư Lợi, đem thần chú ấy đến cứu hộ, tiêu trừ ác chú, dẫn Ngài A Nan cùng Ma Đăng Già, đem về chỗ Phật.
A Nan thấy Phật, vừa đảnh lễ vừa buồn khóc, tự hận mình từ trước đến nay, chỉ chuyên học rộng nhớ nhiều, mà đạo lực thì hoàn toàn kém cỏi. Khẩn thiết ân cần cầu pháp, mười phương Như Lai, đắc thành Bồ Đề Diệu Xa Ma Tha Tam Ma Thiền Na, phương tiện ban đầu là gì. Lúc bấy giờ, còn có hằng hà sa Bồ Tát và mười phương chư đại A la hán, Bích chi Phật…Đều vui vẻ muốn nghe, lui về chỗ ngồi im lặng, tiếp nhận Thánh chỉ của Phật.
01-04 Phật bảo A Nan: “Ta với ông cùng huyết khí, tình như anh em. Lúc ông mới phát tâm, ở trong giáo pháp của Ta, thấy tướng gì thù thắng, bỗng nhiên xả bỏ những ân ái sâu nặng của thế gian.”
A Nan bạch đức Phật rằng: “Con thấy ba mươi hai tướng tốt của Như Lai thù thắng vi diệu. Hình thể sáng ánh như ngọc lưu ly. Thường tự suy nghĩ, những tướng tốt này không phải do ái dục sanh ra. Tại vì sao vậy? Khí dục thô đục, giao hợp tanh hôi, máu mủ lẫn lộn, không thể sinh ra thân tướng thù thắng thanh tịnh vi diệu ánh sáng vàng kim sáng rỡ. Vì thế khát ngưỡng, theo Phật xuống tóc.”
Phật dạy: “Lành thay A Nan! Các ông nên biết, tất cả chúng sanh, từ vô thỉ đến nay. Sanh tử liên tục, đều do không biết, chân tâm thường trụ, thể tánh tịnh minh. Dùng các vọng tưởng. Các tưởng không thật, nên có luân chuyển. Nay ông muốn nghiên cứu đi sâu vào đạo Vô Thượng Bồ Đề, phải thật sự hiểu rõ tự tánh. Nên dùng tâm ngay thẳng, trả lời điều mà Ta hỏi. Mười phương Như Lai cùng một con đường, thoát ly sanh tử, đều dùng tâm ngay thẳng. Do tâm và lời nói ngay thẳng, cứ thế từ địa đầu tiên cho đến địa cuối cùng, ở chặng giữa không bao giờ có các tướng quanh co.”
Sai ở tâm và mắt
01-05 A Nan! Ta nay hỏi ông: “Lúc ông phát tâm, duyên vào ba mươi hai tướng tốt của Như Lai, dùng gì để thấy, và lấy gì yêu thích?”
A Nan bạch đức Phật rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Sự yêu thích này, dùng tâm mắt của con, do mắt nhìn thấy, thân tướng thù thắng của Như Lai, tâm sanh yêu thích. Nên con phát tâm, nguyện xả bỏ sanh tử.”
Phật bảo A Nan: “Như lời ông nói, sự yêu thích thật sự là do tâm và mắt. Nếu như không biết tâm mắt ở đâu, thì không thể điều phục trần lao. Ví như quốc vương, bị giặc xâm lăng, phát binh đánh dẹp. Thì lính phải biết, giặc ở chỗ nào. Khiến ông lưu chuyển, lỗi ở tâm mắt. Nay Ta hỏi ông, tâm và mắt, hiện ở chỗ nào?”
Tâm Ở Trong Thân
1-06 A Nan bạch đức Phật rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Tất cả thế gian, mười loài dị sanh, đều biết tâm ở trong thân. Dù thấy Như Lai, mắt hoa sen xanh, cũng ở trên mặt Phật. Con nay thấy vậy, bốn căn bên ngoài, chỉ ở trên mặt con. Tâm thức cũng vậy, thật ở trong thân.”
Phật hỏi A Nan: “Hiện giờ ông đang ngồi trong giảng đường của Như Lai, hãy nhìn xem khu rừng Kì Đà, hiện nằm ở đâu?”
“Bạch đức Thế Tôn! Ngôi giảng đường cao lớn thanh tịnh này, ở trong vườn Cấp Cô Độc, nay rừng Kì Đà thật ở bên ngoài giảng đường.”
“A Nan! Ông nay trong giảng đường, nhìn thấy cái gì trước?”
“Bạch đức Thế Tôn! Con ở trong giảng đường, nhìn thấy Như Lai trước. Thứ đến nhìn thấy đại chúng. Sau đó nhìn ra ngoài, mới thấy vườn rừng.”
“Này A Nan! Ông thấy vườn rừng, do cái gì mà thấy?”
“Bạch đức Thế Tôn! Giảng đường rộng này, các cửa đều mở, do đó con ở trong giảng đường, cũng thấy ngoài xa.”
1-7 Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn ở giữa đại chúng, đưa cánh tay sắc vàng kim, xoa đỉnh đầu A Nan. Chỉ dạy A Nan và các đại chúng rằng: “Có Tam Ma Đề, tên Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm Vương, đầy đủ vạn hạnh, mười phương Như Lai, một môn thoát khỏi trần lụy, con đường trang nghiêm vi diệu. Nay ông hãy lắng nghe!”
A Nan đảnh lễ, quỳ phục tiếp nhận giáo chỉ từ bi.
1-8 Phật bảo A Nan: “Như lời ông nói, thân ở trong giảng đường, do cửa mở rộng, nhìn thấy vườn rừng ngoài xa. Vậy có chúng sanh ở trong giảng đường này, không thấy Như Lai, nhưng nhìn thấy bên ngoài giảng đường không?”
A Nan thưa rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Ở trong giảng đường không thấy Như Lai, mà có thể thấy vườn rừng con suối, không có chuyện đó!”
“A Nan! Ông chính như vậy. Tâm linh của ông rõ biết tất cả. Nếu tâm biết rõ của ông bây giờ, quả thật ở trong thân, thì khi ấy trước hết biết rõ trong thân. Liệu có chúng sanh nào, trước thấy trong thân, sau thấy cảnh vật bên ngoài, hay không? Đã không thể thấy, tim, gan, lá lách, bao tử, móng mọc ra, tóc dài thêm, gân chuyển động, mạch máu nhảy, mọi thứ thật rõ ràng, sao lại không biết? Đã không biết được bên trong, sao lại biết được bên ngoài? Vì vậy nên biết, ông nói cái tâm hay biết rõ ràng, ở bên trong thân, không có chỗ đó.”
Tâm Ở Ngoài Thân
01-09 A Nan cúi đầu, mà bạch đức Phật rằng: “Con nghe pháp âm Như Lai dạy như vậy. Ngộ biết tâm con, quả thật ngoài thân. Tại vì sao vậy? Ví như ngọn đèn, thắp sáng ở trong nhà, ánh đèn này chắc chắn chiếu sáng trong nhà trước, rồi từ nơi các cửa, sau chiếu sáng ra ngoài sân. Tất cả chúng sanh, không thấy bên trong thân, mà chỉ thấy bên ngoài thân. Cũng như ngọn đèn, đặt ở bên ngoài nhà, thì không thể chiếu sáng bên trong nhà. Nghĩa ấy thật rõ ràng, chắc không còn mê hoặc, tương đồng với nghĩa rốt ráo của Phật, chắc không phải vọng tưởng đúng không!”
1-10 Phật bảo A Nan: “Chư vị Tỳ Kheo này, vừa theo Như Lai đến thành Thất La Phiệt, thứ tự khất thực, xong trở về rừng Kì Đà, Ta đã thọ trai. Ông hãy xem chúng Tỳ Kheo, khi một người ăn, mọi người no không?”
A Nan thưa rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Không thể! Tại vì sao vậy? Các vị Tỳ Kheo, tuy đều là A La Hán, nhưng cơ thể khác nhau. Làm sao một người ăn mà khiến mọi người no được?”
Phật bảo A Nan: “Nếu cái tâm thấy biết rõ ràng của ông, thật ở ngoài thân, thân tâm tách biệt, tự không liên can. Thì điều tâm biết, thân không thể biết. Thân thể hay biết, tâm không thể biết. Ta nay chỉ rõ cho ông xem bàn tay Đâu la miên, khi mắt ông nhìn thấy, tâm có phân biệt không?”
A Nan thưa rằng: “Bạch đức Thế Tôn, đúng vậy!”
Phật bảo A Nan: “Nếu cùng thấy biết, sao lại ở ngoài. Vì vậy nên biết, ông nói cái tâm thấy biết rõ ràng, nằm ở ngoài thân, không có chỗ đó.”
Tâm Trốn Sau Mắt
1-11 A Nan bạch Phật rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Như lời Phật dạy, do không thấy bên trong, nên không ở trong thân. Thân tâm cùng hay biết, nên không tách rời nhau, không ở ngoài thân. Nay con suy nghĩ, biết tâm ở một chỗ.” Phật hỏi: “Chỗ ấy là chỗ nào?”
A Nan thưa rằng: “Tâm hiểu biết này, đã không biết bên trong, nhưng lại có thể thấy bên ngoài. Thì theo con nghĩ, nó trốn sau mắt! Ví như có người, lấy chén lưu ly, che lên hai mắt. Tuy có vật che lên, mà không gây trở ngại, mắt ấy tùy chỗ nhìn thấy, lập tức theo đó phân biệt. Tuy tâm giác biết rõ ràng này của con, không thấy bên trong, vì nó ở nơi con mắt. Phân biệt rõ ràng bên ngoài, không hề trở ngại, do trốn sau con mắt.”
Phật bảo A Nan: “Như lời ông nói, tâm trốn sau mắt, giống như lưu ly. Người kia khi lấy lưu ly che lên mắt, nhìn thấy núi sông, có nhìn thấy lưu ly hay không?” “Bạch đức Thế Tôn, đúng vậy! Người kia khi dùng lưu ly che lên mắt, quả thật nhìn thấy lưu ly.”
Phật bảo A Nan: “Tâm ông nếu giống như lưu ly che lên mắt, khi thấy núi sông, sao không thấy mắt? Nếu nhìn thấy mắt, thì con mắt chính là ngoại cảnh, không thể thành lập. Nếu không thể thấy, sao lại nói rằng, tâm rõ biết ấy, trốn sau con mắt, giống như lưu ly? Vì vậy nên biết, ông nói tâm thấy biết rõ ràng, trốn sau con mắt, giống như lưu ly, không có chỗ đó.”
Tâm Ở Trong Ngoài
1-12 A Nan bạch đức Phật rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Con nay lại suy nghĩ như vậy. Thân của chúng sanh, phủ tạng bên trong, hang huyệt bên ngoài, có tạng thì tối, có lỗ thì sáng. Con nay thưa Phật, mở mắt thấy sáng, gọi là thấy bên ngoài, nhắm mắt thấy tối, gọi là thấy bên trong, nghĩa ấy thế nào?”
Phật hỏi A Nan: “Ông khi nhắm mắt, nhìn thấy bóng tối, cảnh giới tối ấy, đối xứng với mắt, hay không đối xứng?
Nếu đối xứng mắt, bóng tối trước mắt, sao thành bên trong?
Nếu thành bên trong, ở trong nhà tối, không trời trăng đèn, trong nhà tối này, đều là tạng phủ của ông.
Nếu không đối xứng, sao thành cái thấy.
Nếu ra ngoài nhìn, thành thấy bên trong. Nhắm mắt thấy tối, gọi là thấy trong thân. Mở mắt thấy sáng, sao không thấy mặt.
Nếu không thấy mặt, thấy trong không thành.
Nếu nhìn thấy mặt, tâm rõ biết này, cùng với con mắt, đều ở nơi hư không, sao thành ở trong.
Nếu ở hư không, đâu phải thân ông.
Lúc này Như Lai nhìn thấy mặt ông, thì cũng là thân ông. Mắt ông đã biết, thân đáng lẽ chẳng biết. Ông cứ chấp rằng, thân mắt đều biết, nên có hai cái biết, tức một thân của ông, nên thành hai vị Phật.
Vì vậy nên biết, ông nói thấy tối là thấy bên trong thân, không có chỗ đó.”
Tùy Theo Chỗ Hợp Tâm Theo Đó Có
1-13 A Nan bạch rằng: “Con thường nghe Phật khai thị cho bốn chúng. Do tâm sanh ra, nên các pháp sanh. Do các pháp sanh, nên các tâm sanh. Bây giờ con suy nghĩ, tức thể suy nghĩ này, nó quả thật là tâm tánh con. Tùy theo chỗ gặp, tâm theo đó mà có, cũng chẳng phải nơi ba chỗ trong ngoài khoảng giữa.”
Phật bảo A Nan: “Nay ông nói rằng, do pháp sanh ra, nên các tâm sanh, tùy theo chỗ gặp, tâm theo đó mà có, mà tâm không có thể, thì không có chỗ gặp. Nếu không có thể mà có chỗ gặp, tức có 19 giới do 7 trần hợp thành. Nghĩa này không đúng!
Nếu như có thể, giả như ông dùng tay tự nhéo thân ông. Tâm biết rõ của Ông, là từ trong ra, hay từ ngoài vào? Nếu từ trong ra, phải thấy trong thân; nếu từ ngoài vào, trước phải thấy mặt.”
A Nan bạch rằng: “Thấy là con mắt, tâm rõ biết không phải con mắt, nên nói thấy là không đúng.”
Phật dạy: “Nếu mắt có thể thấy, ông ở trong nhà, cánh cửa có thấy không? Thì những người đã chết, con mắt vẫn còn, đáng lẽ đều thấy cảnh vật. Nếu thấy cảnh vật, sao gọi là chết.
A Nan! Lại nữa tâm có thể biết, có thể hiểu của ông, nếu nhất định có thể, thì có một thể, hay có nhiều thể. Nay nơi thân ông, là đầy khắp thân, hay không khắp thân.
Nếu là một thể, khi ông dùng tay nhéo vào một chi, bốn chi đều có cảm giác. Nếu đều có cảm giác, chỗ nhéo phải không tồn tại. Nếu có chỗ nhéo, thì thuyết một thể của ông, tự nhiên không thể thành.
Nếu như nhiều thể, thì thành nhiều người, vậy thể nào là ông. Nếu đầy khắp thân, thì giống chỗ nhéo phía trước. Nếu không đầy khắp, khi ông chạm vào cái đầu, cũng chạm vào cái chân, cái đầu có cảm giác, cái chân phải không hay biết. Nay ông lại không phải như vậy. Vì vậy biết rằng, tùy theo chỗ gặp, tâm theo đó mà có, không có chỗ đó.”
Tâm Ở Khoảng Giữa
01-14 A Nan bạch đức Phật rằng: “Bạch đức Thế Tôn. Con cũng từng nghe Phật cùng Văn Thù và các vị Pháp vương tử khác, khi nói về thật tướng, Thế Tôn cũng dạy rằng, tâm không ở trong, cũng không ở ngoài. Theo như con suy nghĩ, bên trong không chỗ thấy, bên ngoài không cùng biết. Vì bên trong không biết, ở trong không thành. Thân tâm cùng biết, ở bên ngoài chẳng đúng. Nay vì cùng biết, lại không thấy bên trong, nên sẽ ở chính giữa.”
Phật dạy: “Ông nói chính giữa, chính giữa chắc không thể không nhận ra, không thể không có chỗ. Nay ông suy đoán chính giữa, chính giữa ở đâu. Là ở một nơi, hay ở nơi thân.
Nếu ở nơi thân, ở một bên không phải chính giữa, ở chính giữa thì giống như ở trong. Nếu ở một nơi, thì có chỗ đánh dấu, hay không có chỗ đánh dấu. Không thể đánh dấu giống như không có. Đánh dấu được thì không nhất định.
Vì sao như vậy? Ví như có người đánh dấu cột mốc, khi đánh dấu cột mốc ở chính giữa, phía đông nhìn thành tây, phía nam nhìn thành bắc. Đánh dấu mốc đã hỗn loạn, thì tâm cũng lộn xộn.”
A Nan bạch rằng: “Con nói chính giữa, không phải hai thứ này. Như Thế Tôn dạy, mắt lấy sắc làm duyên, sanh ra nhãn thức. Mắt có phân biệt, sắc trần không biết. Thức sanh ra ở chính giữa, thì tâm ở tại đó.”
Phật dạy: “Tâm ông nếu ở chính giữa căn và trần, thì tâm thể này, bao gồm cả hai, hay không bao gồm cả hai.
Nếu bao gồm cả hai, vật thể lộn xộn, thể biết vật chẳng biết, trở thành hai cái đối lập; sao gọi là ở chính giữa. Bao gồm cả hai không thành, không biết cũng không thể biết, tức không thể tánh, chính giữa lấy gì làm tướng. Vì thế nên biết, tâm ở chính giữa, không có chỗ đó.”
Tâm Không Chỗ Có
1-15 A Nan bạch Phật rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Trước đây con thấy Phật, cùng Đại Mục Kiền Liên, Tu Bồ Đề, Phú Lâu Na, Xá Lợi Phất, bốn vị đại đệ tử, cùng chuyển pháp luân. Thường nói tâm tánh hiểu biết phân biệt này, đã không ở trong, cũng không ở ngoài, không ở chính giữa, đều không có nơi chốn, tất cả không chấp trước, gọi đó là tâm. Vậy con không chấp trước, có gọi là tâm không?”
Phật bảo A Nan: “Ông nói tâm tánh hiểu biết phân biệt này, đều không có nơi chốn, thế gian các loài bay trong hư không, bơi dưới mặt nước, đi trên mặt đất, những hiện tượng này, gọi là tất cả.
Ông không chấp trước, là có hay không có.
Không có thì đồng với lông rùa sừng thỏ, sao nói là không chấp trước.
Có nhưng không chấp trước. Không thể gọi là không.
Không tướng tức là không, chẳng không tức là tướng.
Có tướng tức là có, sao nói không chấp trước.
Vì thế nên biết, tất cả không chấp trước, cho đó là tâm hiểu biết, không có chỗ đó.”
1-16 Lúc bấy giờ A Nan, ở trong đại chúng, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, vén vai áo bên phải, đầu gối bên phải quì xuống chạm đất, chắp tay cung kính, mà bạch đức Phật rằng:
“Con là đứa em nhỏ nhất của Như Lai, được lòng từ của Phật yêu thương, tuy nay xuất gia, vẫn còn kiêu mạn ỷ lại vào tình thương. Cho nên nghe nhiều nhưng chưa được Vô lậu. Không thể chế phục chú Ta Tì La. Bị nó lôi kéo, sa vào phòng dâm. Chính do không biết chân tánh chỗ nào. Cúi xin Thế Tôn, đại từ thương xót, chỉ dạy chúng con, con đường Xa Ma Tha, khiến những hạng người không tin, kẻ hư hoại tệ ác có con đường đi.”
Nói lời ấy xong, năm vóc sát đất, cùng các đại chúng, chí thành khát ngưỡng, kính nghe lời chỉ dạy.
1-17 Lúc bấy giờ đức Thế Tôn, từ trên khuôn mặt, phóng các ánh sáng, sáng chói rực rỡ, như trăm ngàn mặt trời. Khắp thế giới Phật, chấn động sáu cách. Mười phương vi trần cõi nước như thế, trong chốc lát hiện rõ oai thần của Phật, khiến các thế giới hợp thành một thế giới. Trong thế giới đó, tất cả các vị đại Bồ Tát, đều trụ nơi cõi nước mình, chắp tay lắng nghe tiếp nhận.
Hai Thứ Căn Bản
1-18 Phật bảo A Nan: Tất cả chúng sanh, từ vô thỉ đến nay, mọi thứ điên đảo, hạt giống nghiệp tự nhiên hình thành, như chùm trái ác xoa.
Những người tu hành, không thể thành tựu Vô Thượng Bồ Đề, thậm chí chỉ thành Thanh văn, Duyên giác, cho đến thành ngoại đạo, chư Thiên, Ma vương, và quyến thuộc của ma. Đều do không biết hai điều căn bản, tu tập sai lầm.
Giống như nấu cát, muốn trở thành cơm, dù trải qua trần kiếp, cuối cùng cũng không thể được. Hai điều đó là gì?
Này A Nan, một là, gốc rễ sanh tử từ vô thủy, tức là hiện nay ông, và các chúng sanh, dùng tâm phan duyên, lấy làm tự tánh.
Hai là, thể thanh tịnh vốn có của Bồ đề Niết Bàn từ vô thủy. Tức là ông hiện nay, tánh nhận biết ban đầu vốn sáng suốt, có thể sanh ra các duyên, chạy theo duyên rồi bỏ quên tâm linh.
Do các chúng sanh, sao nhãng bổn tâm, tuy dùng cả ngày, mà không tự biết, để rơi vào các đường một cách oan uổng.
1-19 Này A Nan! Nay ông muốn biết con đường Xa Ma Tha, nguyện thoát khỏi sinh tử. Nay Ta lại hỏi ông. Ngay lúc ấy Như Lai đưa cánh tay sắc vàng lên, gập năm ngón thành nắm, hỏi A Nan rằng: “Giờ ông thấy không?”
A Nan đáp rằng: “Con thấy.”
Phật lại hỏi: “Ông làm thế nào để thấy.”
A Nan thưa rằng: “Con thấy Như Lai đưa cánh tay lên gập ngón tay lại, thành nắm tay sáng rực, chói cả tâm mắt con.”
Phật lại hỏi: “Ông dùng cái gì để thấy?”
A Nan thưa rằng: “Con và đại chúng, đều dùng mắt để thấy.”
Phật bảo A Nan. “Nay ông trả lời Ta, Như Lai gập ngón tay thành nắm tay sáng rực, chói cả tâm mắt ông. Mắt ông có thể thấy, lấy gì làm tâm, để nhận biết nắm tay chói sáng của Ta.”
A Nan lại thưa: “Nay Như Lai hỏi tâm ở chỗ nào, mà con thì dùng tâm suy cứu truy tìm, tức cái có thể suy cứu đó, con lấy làm tâm.”
Tướng Vọng Tưởng Tiền Trần Hư Vọng
Phật dạy: “Sai rồi! A Nan, đó không phải tâm ông.”
A Nan giật mình kinh sợ, từ chỗ ngồi đứng dậy chắp tay bạch Phật: “Đó không phải tâm con, nên gọi là gì?”
Phật bảo A Nan: “Đó là tướng vọng tưởng tiền trần hư vọng, mê hoặc chân tánh ông. Do ông từ vô thủy đến nay, nhận giặc làm chính mình, đánh mất cội gốc thường hằng của ông, nên chịu luân chuyển.”
1-20 A Nan bạch Phật rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Con là em trai cưng của Phật, vì tâm kính yêu Phật, nên con xuất gia.
Tâm con đâu chỉ riêng cúng dường Như Lai. Thậm chí trải khắp hằng sa cõi nước, phụng sự chư Phật, và Thiện tri thức, phát tâm dõng mãnh lớn, làm tất cả các pháp sự khó làm, đều dùng tâm này. Dù có báng pháp, mất hết thiện căn, cũng do tâm này.
Nếu bây giờ phát hiện, hiểu được không phải tâm này, vậy con không có tâm giống như gỗ đất, rời xa tâm hiểu biết này, càng không có gì cả. Tại sao Như Lai lại nói đây không phải là tâm. Con thật sự kinh sợ. Bao gồm cả đại chúng đây, không ai không nghi hoặc. Cúi xin Phật rũ lòng đại bi, chỉ dạy cho những kẻ chưa giác ngộ.”
Việc Phân Biệt Tiền Trần Pháp Trần Bóng Ảnh
1-21 Lúc bấy giờ đức Thế Tôn, khai thị cho A Nan, và các đại chúng. Muốn khiến tâm đại chúng đi vào vô sanh pháp nhẫn. Phật ngồi nơi tòa sư tử, xoa đầu A Nan, mà dạy rằng: “Như Lai thường nói, các pháp sanh ra, do tâm biến hiện. Tất cả nhân quả, thế giới vi trần, do tâm mà thành thể.
Này A Nan! Nếu các thế giới, tất cả mọi thứ, trong đó thậm chí cỏ, lá, sợi dây, nút thắt, xét tận nguồn gốc, đều có thể tánh. Cho dù hư không, cũng có tên gọi tướng mạo. Huống hồ tâm sáng suốt thanh tịnh vi diệu, tánh của tất cả tâm, mà tự nó không có thể tánh sao.
Nếu Ông cố chấp tiếc rẻ, phân biệt và giác quán, tánh rõ biết tất cả, nhất định nó là tâm. Thì tâm này phải lìa khỏi tất cả sắc hương vị xúc những sự nghiệp trần, vẫn có tánh toàn vẹn. Như ông hiện nay nghe nhận pháp Ta, đây tức do âm thanh mà có phân biệt. Cho dù diệt hết tất cả cái thấy, cái nghe, cái hiểu, cái biết, bên trong giữ vắng lặng, vẫn chỉ là việc phân biệt pháp trần bóng ảnh.
Ta chẳng phải bảo ông, đừng chấp làm tâm. Nhưng ông ở nơi tâm này, nghiền ngẫm cho kỹ, nếu lìa khỏi tiền trần vẫn có tánh phân biệt, tức là chân tâm của ông!
Nếu tánh phân biệt, lìa trần không có thể, tức chỉ là việc phân biệt tiền trần bóng ảnh. Trần chẳng thường trụ, nếu lúc biến diệt, thì tâm này giống như lông rùa sừng thỏ, tức là pháp thân của ông cũng giống như đoạn diệt, vậy ai tu chứng, vô sanh pháp nhẫn”.
Lúc đó A Nan, cùng cả đại chúng, im lặng như đánh mất mình.
Phật bảo A Nan: “Tất cả những người tu học trong thế gian, hiện tiền tuy thành tựu chín bậc định theo thứ tự, nhưng không được lậu tận chỉ thành tựu A La Hán, đều do chấp vọng tưởng sanh tử này, lầm cho là chân thật. Vì thế nay ông tuy được đa văn nhưng không thành tựu Thánh quả.
1-22 A Nan nghe xong, lại buồn khóc, năm vóc sát đất, quì gối chắp tay, mà bạch đức Phật rằng: Từ khi con theo Phật phát tâm xuất gia, ỷ lại vào oai thần của Phật. Thường tự suy nghĩ, Con không cần cực khổ tu hành, rồi đây Như Lai sẽ ban cho con tam muội. Không biết thân tâm vốn không thể thay thế cho nhau. Con đánh mất bổn tâm. Tuy thân xuất gia, mà tâm không vào đạo. Ví như đứa con nghèo, bỏ cha chạy trốn. Hôm nay mới biết, tuy có nghe nhiều, mà không tu hành, như người không nghe. Như người chỉ nói ăn, cuối cùng chẳng được no.
Bạch Thế Tôn. Chúng con ngày hôm nay, bị hai thứ chướng ngại ràng buộc. Do đó không biết tâm tánh tĩnh lặng thường hằng, duy nguyện đức Như Lai, thương xót hiển lộ triệt để, phát khởi tâm sáng suốt nhiệm mầu, khai mở đạo nhãn cho con!
1-23 Lúc bấy giờ đức Như Lai, từ tướng chữ vạn ở trước ngực, phóng ra ánh sáng báu. Ánh sáng rực rỡ có trăm ngàn màu sắc. Mười phương vi trần, khắp thế giới Phật, cùng lúc soi khắp. Quán đảnh chư Như Lai trong khắp mười phương tất cả các cõi báu. Rồi chiếu đến A Nan, và cả đại chúng.
Bảo A Nan rằng: “Ta nay vì ông dựng pháp tràng lớn, cũng khiến cho mười phương tất cả chúng sanh, được tâm tánh thanh tịnh sáng suốt vi diệu sâu kín, được mắt thanh tịnh.
Này A Nan, trước tiên ông trả lời Ta thấy ánh sáng nắm tay. Ánh sáng của nắm tay này, do đâu mà có? Làm sao thành nắm tay? Ông dùng cái gì để thấy?”
A Nan bạch rằng: “Do toàn thân Phật như vàng diêm phù đàn, sáng ngời như núi báu, do thanh tịnh sanh ra, nên có ánh sáng ấy. Con quả thật dùng mắt để nhìn, năm đầu ngón tay, co lại đưa lên cho đại chúng xem, cho nên có tướng nắm tay.”
Phật bảo A Nan: “Hôm nay Như Lai nói lời thật cho ông. Những người có trí, cần lấy thí dụ mà được khai ngộ. Này A Nan! Ví như nắm tay của Ta, nếu không có bàn tay của Ta, thì không thành nắm tay của Ta. Nếu không có mắt của ông, thì không thành cái thấy của ông. Lấy nhãn căn của ông, để so sánh với nắm tay của Ta, nghĩa lý của nó giống nhau, đúng không?”
A Nan thưa rằng: “Đúng vậy thưa Thế Tôn. Đã không có đôi mắt của con, thì không thành cái thấy của con. Đem nhãn căn của con, so với nắm tay Như Lai, sự việc và nghĩa lí đều giống nhau.”
Phật bảo A Nan: “Ông nói giống nhau, nghĩa ấy không đúng. Vì sao? Như người không có tay, dĩ nhiên không có nắm tay. Nhưng người không có mắt, chẳng phải cái thấy hoàn toàn không có. Vì sao như vậy? Ông thử ra đường, hỏi người mù rằng, Ông thấy được gì, những người mù kia, nhất định trả lời Ông. Nay trước mắt tôi, chỉ thấy tối đen, không có gì khác. Lấy nghĩa này suy xét, tiền trần tự tối đen, tánh thấy nào có hao tổn.”
A Nan thưa: “Trước mắt những người mù, chỉ thấy tối đen, sao thành cái thấy.”
Phật bảo A Nan: “Những người mù không có mắt, chỉ thấy tối đen, và người có mắt, ở trong nhà tối, hai cái tối có khác nhau, hay không khác nhau?”
“Đúng vậy thưa Thế Tôn. Người trong nhà tối này, và những người mù kia, so sánh hai cái tối ấy, không có gì khác nhau.”
“A Nan. Nếu người không có mắt, toàn thấy trước mắt tối đen, bỗng nhiên mắt được sáng, vẫn nơi tiền trần, thấy đủ màu sắc, gọi là con mắt thấy. Người trong nhà tối kia, toàn thấy trước mắt tối đen, bỗng nhiên có ánh đèn, cũng nơi tiền trần, thấy đủ các sắc, nên gọi là đèn thấy. Nếu đèn thấy được, đèn có thể thấy, tự nó không gọi là đèn. Lại như đèn thấy, liên quan gì đến ông.
Vì thế nên biết, đèn có thể hiển rõ sắc vật. Cái thấy như thế, là mắt không phải đèn. Mắt có thể hiển rõ sắc vật, tánh thấy như thế, là tâm không phải mắt.”
1-24 A Nan, tuy lại được nghe lời dạy như thế, cùng cả đại chúng, miệng đã im lặng, nhưng tâm chưa khai ngộ. Vẫn mong từ âm của Như Lai tuyên dạy, chắp tay tâm thanh tịnh, chờ Phật thương xót dạy bảo.
1-25 Lúc bấy giờ đức Thế Tôn, liền duỗi cánh tay mềm mại sáng ngời, mở năm ngón tay ra, bảo A Nan, cùng cả đại chúng: “Lúc Ta mới thành đạo, ở trong vườn Nai, vì năm vị Tỳ kheo A Nhã Đa, cùng bốn chúng các ông dạy rằng. Tất cả chúng sanh, không thành tựu Bồ đề, và A La Hán, đều do bị khách trần phiền não làm hại. Các ông lúc ấy, nhân đâu khai ngộ, mà nay thành tựu Thánh quả?”
1-26 Lúc ấy Kiều Trần Na, đứng dậy bạch Phật: “Con nay làm trưởng lão, ở trong đại chúng, riêng được tên “Giải”. Nhân ngộ hai chữ khách trần mà chứng quả. Bạch đức Thế Tôn. Ví như hành khách, vào quán trọ nghỉ ngơi, hoặc ngủ hoặc ăn; việc ăn nghỉ ngơi đã xong, thu xếp hành trang tiếp tục lên đường, không ở yên được. Nếu thật là người chủ, ắt không phải đi đâu. Suy nghĩ như thế, Không ở yên gọi là khách, ở yên gọi là người chủ. Lấy việc không ở yên, để nói nghĩa của khách.
Lại như lúc trời quang tạnh, mặt trời sáng tỏ trên không trung, ánh sáng chiếu xuyên qua khe hở, làm hiện rõ những hạt bụi trong hư không, chất bụi thì dao động, hư không thì lặng yên. Suy nghĩ như vậy. Lặng yên thì gọi là “không”. Dao động thì gọi là “trần”. Lấy sự “dao động”, để nói nghĩa của “trần”.
Co Ngón Tay, Ánh Sáng Bay Ra, Kiểm Nghiệm Cái Thấy Không Dao Động.
1-27 Phật dạy: “ Đúng vậy.”
Tức thời Như Lai, ở trong đại chúng, co năm ngón tay lại, nắm rồi lại mở, mở rồi lại nắm.
Lại hỏi A Nan rằng: “Giờ ông thấy gì.”
A Nan thưa: “Con thấy bàn tay trăm báu của Như Lai, trong chúng mở nắm.”
Phật lại hỏi A Nan: “Ông thấy tay Ta, ở trong đại chúng mở nắm. Vậy tay của Ta, có mở có nắm. Hay tánh thấy của ông, có mở có nắm.”
A Nan bạch Phật: “Tay báu của Thế Tôn, ở trong đại chúng mở nắm. Con thấy tay Như Lai tự mở nắm. Không phải tánh thấy của con có mở có nắm.”
Phật hỏi: “Cái gì động, cái gì tĩnh.”
A Nan thưa: “Tay Phật không ở yên, chứ tánh thấy của con, tĩnh còn không có, lấy gì làm không yên.”
Phật dạy: “Đúng vậy!”
1-28 Như Lai liền từ trong lòng bàn tay, phóng ra một luồng ánh sáng báu, ở bên phải A Nan.
Lúc ấy A Nan, quay đầu nhìn bên phải. Lại phóng một luồng ánh sáng, ở bên trái A Nan, A Nan lại liền quay đầu nhìn sang bên trái.
Phật bảo A Nan: “Nay đầu của ông do đâu dao động.”
A Nan thưa rằng: “Con thấy Như Lai phóng ánh sáng báu vi diệu, đến bên phải bên trái con, nên nhìn bên phải bên trái, đầu con tự dao động.”
“A Nan! Ông nhìn ánh sáng của Phật, đầu dao động sang bên phải sang bên trái, là đầu ông dao động, hay tánh thấy dao động.”
Bạch đức Thế Tôn: “Đầu con tự dao động, chứ tánh thấy của con còn không có dừng, lấy gì làm dao động.”
Phật dạy: “Đúng vậy.”
Lúc ấy Như Lai, bảo khắp đại chúng: “Nếu có chúng sanh, lấy dao động gọi đó là trần, lấy việc không ở yên, gọi đó là khách. Ông xem A Nan đầu tự dao động, tánh thấy không dao động, Ông lại xem tay Ta tự nắm mở tánh thấy không duỗi co. Tại sao nay ông lấy động làm thân, lấy động làm cảnh. Từ đầu đến cuối, niệm niệm sanh diệt. Không biết tâm linh, làm việc điên đảo. Không biết tâm linh,nhận mọi vật là mình, Luân hồi trong ấy, tự chuốc luân hồi lưu chuyển.
Quan Sát Sông Phân Biệt Tánh Thấy
2-01 Lúc bấy giờ ngài A Nan, và cả đại chúng. Nghe Phật dạy xong, thân tâm thư thái. Nghĩ từ vô thỉ đến nay, quên mất bổn tâm, nhận lầm duyên trần, phân biệt bóng ảnh. Bây giờ đã tỏ ngộ, giống như đứa trẻ mất sữa, bỗng gặp được mẹ hiền. Liền chắp tay lễ Phật, muốn nghe Như lai, chỉ ra cái chân thật hư vọng của thân tâm, hiểu rõ hai tánh sanh diệt và không sanh diệt nơi hiện tiền.
2-02 Lúc bấy giờ, vua Ba Tư Nặc đứng dậy bạch Phật: Trước kia, khi con chưa tiếp nhận giáo pháp của chư Phật. Gặp được Ca Chiên Diên Tì La Chi Tử. Họ đều nói thân này sau khi chết thì mất hẳn, gọi đó là "Niết Bàn". Nay tuy con được gặp Phật, nhưng vẫn còn hoài nghi. Làm thế nào để phát huy chứng biết tâm này, là không sanh diệt. Nay trong đại chúng đây, các hàng hữu lậu, đều muốn được nghe.
02-03 Phật bảo Đại vương: “Cái thân hiện tại của ông. Nay Ta lại hỏi ông. Cái nhục thân này của ông, nó giống như kim cang thường còn không hư hoại, hay luôn thay đổi hư hoại.”
Bạch đức Thế Tôn: “Cái thân hiện tại của con, đến cuối cùng cũng sẽ thay đổi hoại diệt!”
Phật bảo Đại vương! Ông chưa từng hoại diệt, vì sao biết hoại diệt?”
“Bạch đức Thế Tôn! Thân vô thường biến hoại này của con, tuy chưa từng hoại diệt. Nhưng con quán sát việc trước mắt, niệm niệm thay đổi, biến chuyển không ngừng. Như lửa cháy thành tro, dần dần biến mất. Sự diệt vong đó không ngừng nghỉ, nên biết chắc thân này, sẽ phải diệt mất.”
Đức Phật dạy rằng: “Đúng vậy, Đại vương! Nay tuổi của ông, đã dần già yếu, vậy nhan sắc so với thời còn bé thì như thế nào?”
“Bạch đức Thế Tôn! Ngày xưa lúc con còn bé, da dẻ mịn màng. Đến tuổi trưởng thành, khí huyết dồi dào. Mà nay tuổi già, ngày càng suy yếu, hình sắc khô gầy, tinh thần không còn minh mẫn, tóc bạc da mặt nhăn nheo, sống không còn bao lâu nữa, đâu có thể so sánh được với những ngày còn trẻ khỏe mạnh!”
Phật bảo: “Đại vương! Tướng mạo của ông, đâu phải bỗng trong phút chốc mà suy yếu ngay.”
Vua bạch đức Thế Tôn: “Thân thể âm thầm biến hóa thay đổi, con thật không hay biết. Lạnh nóng đổi dời, dần dần mà thành ra như thế này. Vì sao như vậy? Năm con 20 tuổi, tuy nói là trẻ. Nhưng trông nét mặt thì đã già hơn lúc mới lên 10 tuổi. Năm 30 tuổi, lại sút kém hơn năm 20 tuổi. Đến nay đã 62 tuổi, nhìn lại lúc 50 tuổi, thì lúc ấy khỏe mạnh hơn bây giờ.
Bạch Thế Tôn! Con thấy sự biến đổi âm thầm lặng lẽ này, tiến đến sự suy yếu như hôm nay. Trong khoảng thời gian biến đổi ấy, xét từng giai đoạn 10 năm. Nếu lại bảo con suy xét tỉ mỉ hơn, sự biến đổi ấy đâu chỉ xảy ra trong từng mười năm hai mươi năm, mà thật sự mỗi năm mỗi biến đổi; cũng không chỉ biến đổi trong từng năm, mà biến đổi trong từng tháng; cũng không chỉ biến đổi từng tháng, mà biến đổi từng ngày. Suy xét cho cùng nghĩ cho kĩ, trong từng sát na, trong mỗi niệm niệm, không hề ngừng nghỉ! Cho nên biết thân này của con, cuối cùng phải hoại diệt.”
02-04 Phật bảo Đại vương: “Ông đã thấy sự biến hóa, thay đổi không ngừng, biết rõ ông nhất định sẽ diệt vong. Nhưng, trong lúc diệt vong đó, ông có biết trong thân vẫn có cái không diệt vong không?”
Vua Ba Tư Nặc chắp tay bạch Phật: “Con thật sự không biết!”
Đức Phật dạy rằng: “Bây giờ Như Lai sẽ chỉ cho ông thấy tánh không sanh diệt. Đại vương! Ông năm mấy tuổi, thì thấy nước sông Hằng.”
Vua bạch: “Con sinh ra được 3 tuổi, mẹ con dẫn đi lễ bái đền thờ trời Kì Bà, có đi ngang qua sông Hằng, nên lúc ấy con đã biết, đó là nước sông Hằng.”
Phật dạy Đại vương: “Như ông đã nói, lúc 20 tuổi, thì suy yếu hơn lúc 10 tuổi, cho đến 60 tuổi, năm tháng ngày giờ, niệm niệm thay đổi. Vậy, từ năm ba tuổi, ông đã thấy nước sông Hằng, đến lúc lên 13 tuổi, thì nước sông ấy như thế nào?”
Vua bạch rằng: “Cũng giống như lúc con ba tuổi, không khác chút nào. Cho đến hôm nay, con đã 62 tuổi, cũng không có gì khác.”
Đức Phật dạy rằng: “Nay ông tự thương mình tóc bạc mặt nhăn. Mặt Ông chắc chắn nhăn hơn lúc trẻ. Nhưng ông giờ đây, nhìn sông Hằng này, cùng với lúc trẻ, cái thấy lúc xem sông Hằng, có già trẻ gì không?”
Vua thưa rằng: “Bạch Thế Tôn, thưa không!”
Đức Phật dạy Đại vương: “Mặt ông tuy nhăn, nhưng cái thấy này tinh anh, tánh chưa từng bị nhăn. Bị nhăn là thay đổi, không nhăn là không thay đổi. Cái thay đổi thì phải diệt vong; cái không thay đổi, thì vốn không sanh diệt. Vì sao ở trong đó chịu sự sống chết của ông, mà ông còn dẫn thuyết của các ông Mạt Già Lê kia, đều bảo rằng thân này sau khi chết hoàn toàn mất hẳn?”
Vua nghe lời dạy như vậy, liền tin tưởng, biết rõ sau khi bỏ thân này sẽ thọ thân khác. Cho nên cùng với đại chúng, vui mừng hớn hở, được điều chưa từng có!
02-05 A Nan liền từ chỗ ngồi đứng dậy, chắp tay lễ Phật, quì xuống bạch Phật. Bạch đức Thế Tôn! Nếu tánh thấy tánh nghe này, thật không sanh diệt, vì sao đức Thế Tôn, bảo chúng con, không biết chân tánh, làm việc điên đảo? Xin đức Thế Tôn mở lòng từ bi, rửa sạch trần cấu cho chúng con.
02-06 Ngay lúc ấy, đức Phật duỗi cánh tay màu vàng kim, bàn tay chỉ xuống đất, hỏi A Nan rằng:
“Ông thấy bàn tay Mẫu Đà La của Như Lai, là xuôi hay ngược?”
A Nan thưa: “Chúng sanh ở thế gian, cho đó là ngược, riêng con thì không biết ai là xuôi, ai là ngược.”
Phật bảo A Nan: “Nếu người thế gian, cho rằng như thế này là ngược, vậy người thế gian, cho rằng thế nào gọi là xuôi?”
A Nan bạch rằng: “Đức Như Lai đưa cánh tay lên, bàn tay Đâu La Miên, chỉ lên không trung, thì gọi là xuôi.”
Đức Phật liền đưa cánh tay lên, bảo A Nan rằng: “Sự đảo ngược này, là đầu đuôi thay đổi nhau thôi. Những người thế gian, cùng nhau ngước nhìn. Thì biết được thân của các ông, và pháp thân thanh tịnh của Như Lai, so sánh với nhau thì thấy rõ, thân của Như Lai, gọi là Chánh Biến Tri. Còn thân của các ông, gọi là tánh điên đảo. Ông hãy xét thật kĩ, thân ông và thân Phật, cái gọi là điên đảo ấy, tên gọi chỗ nào, sao lại là điên đảo?”
02-07 Lúc bấy giờ, A Nan cùng cả đại chúng, đều nhìn chăm chú lên đức Phật, không nháy mắt, không biết thân tâm, điên đảo ở chỗ nào. Đức Phật khởi lòng từ bi, thương xót A Nan cùng cả đại chúng. Phát tiếng hải triều, bảo khắp hội chúng.
Duy Tâm Sở Hiện
Các thiện nam tử! Ta thường nói rằng: Sắc tâm các duyên, và tâm sở sai khiến, các pháp sở duyên, đều do tâm hiện ra. Thân tâm của ông, đều từ trong tâm vi diệu sáng suốt chân thật tinh diệu đó mà hiện ra mọi vật.
Vì sao các ông, lại đánh mất cái vi diệu vốn có, tâm vi diệu viên mãn sáng suốt, tánh vi diệu sáng suốt quý báu. Xác nhận ngộ trong mê, lấy u ám làm hư không, mà trong hư không thì tối tăm, kết bóng tối thành sắc, sắc xen lẫn với vọng tưởng, lấy tướng vọng tưởng làm thân, rồi góp nhặt duyên để vào bên trong mà dao động, còn bên ngoài phóng dật chạy bôn ba. Lấy tướng hôn mê nhiễu loạn, làm tâm tánh mình. Một khi lấy mê làm tâm, chắc chắn bị mê hoặc, cho rằng tâm ở bên trong sắc thân. Không biết sắc thân và sông núi, đất đai, ao hồ, hư không, đều là vật từ chân tâm diệu tánh hiện ra. Ví như trong trăm ngàn biển lớn trong xanh lại bỏ đi. Chỉ nhận lấy một tướng bọt bóng, rồi cho rằng đó đều là sóng biển, là toàn bộ biển lớn. Các ông chính là người mê muội chồng chất. Giống như tay Ta duỗi xuống. Không gì sai khác. Cho nên Như Lai gọi đó là kẻ thật đáng thương!
02-08. A Nan nương nhờ lời dạy bảo sâu xa do lòng từ bi cứu độ của đức Phật. Rơi lệ kính cẩn chắp tay, mà bạch đức Phật rằng: “Tuy con tin nhận diệu âm này của đức Phật, ngộ được tâm vi diệu sáng suốt ấy, nó vốn dĩ là tâm địa viên mãn, thường trú. Và con ngộ được pháp âm đức Phật vừa dạy, nay dùng tâm phan duyên, Phật cho phép con chiêm ngưỡng, cho dù có được tâm này; Con vẫn chưa dám nhận đó là tâm địa vốn có. Cúi xin đức Phật thương xót, dùng viên âm tuyên thuyết khai thị, nhổ bỏ gốc nghi hoặc của con, được quay về đạo Vô Thượng.”
02-09 Phật bảo A Nan: “Các ông vẫn đang dùng tâm phan duyên để nghe pháp, thì pháp này cũng là duyên, chẳng được pháp tánh. Ví như có người dùng ngón tay, chỉ mặt trăng cho người kia thấy, người kia nên dựa theo ngón tay chỉ, mà nhìn thấy mặt trăng. Nếu cứ nhìn vào ngón tay mà cho đó là mặt trăng, thì người này không những đánh mất mặt trăng, mà còn đánh mất cả ngón tay! Vì sao như vậy? Vì đã cho rằng ngón tay chính là mặt trăng. Đâu chỉ đánh mất ngón tay, mà cũng không phân biệt được ánh sáng và bóng tối! Vì sao như vậy? Vì lấy thể của ngón tay, làm tánh sáng của mặt trăng. Cho nên, hai tánh sáng tối, cũng không biết rõ.
Ông cũng như vậy, nếu dùng sự phân biệt âm thanh thuyết pháp của Ta, rồi cho đó là tâm ông. Thì tâm này phải tự rời sự phân biệt âm thanh vẫn có tánh phân biệt.
Ví như có người khách, nghỉ qua đêm ở quán trọ, tạm dừng lại liền đi, không thể ở lại luôn được. Nhưng người chủ quán trọ, thì không có chỗ để đi, nên gọi là chủ quán. Ở đây cũng vậy. Nếu thật là tâm ông, thì không có chỗ để đi. Tại sao rời khỏi âm thanh, lại không có tánh phân biệt.
Như vậy, chẳng phải chỉ khi có âm thanh mới có tâm phân biệt. Và ngay cả phân biệt tướng mạo của Ta, khi lìa khỏi sắc tướng, cũng không có tánh phân biệt nữa sao. Như vậy cho đến mọi sự phân biệt đều không có, chẳng phải sắc, chẳng phải không, như nhóm ông Câu Xá Li, mê lầm gọi là "tướng tối tăm". Lìa các pháp duyên trần, thì không có tánh phân biệt. Vậy tâm tánh của ông, mỗi thứ đều có chỗ trả lại, sao gọi là chủ nhân được.”
02-10 A Nan bạch rằng: “Nếu tâm tánh con, mỗi thứ đều có chỗ trả lại. Thì Như Lai nói, tâm tánh sáng suốt vi diệu vốn có ấy, tại vì sao lại không có chỗ trả lại. Cúi xin đức Thế Tôn rủ lòng thương xót, vì con giảng nói.”
Mặt Trăng Thứ Hai
02-11 Phật bảo A Nan: “Như ông nhìn thấy Ta, là cái thấy rõ ràng sáng suốt vốn có. Cái thấy này tuy không phải là chân tâm diệu tánh. Giống như mặt trăng thứ hai, không phải là bóng của mặt trăng. Ông nên nghe cho kĩ! Bây giờ Như Lai sẽ chỉ cho ông biết, thế nào gọi là "không có chỗ trả lại".
Tám Vòng Phân Biệt Tánh Thấy
A Nan! Ngôi giảng đường to lớn này, cửa mở ở hướng Đông, khi mặt trời lên, thì có ánh sáng. Trong đêm tối không trăng, thì mây mù tối mịt, thì lại tối tăm. Chỗ khe hở của cánh cửa, thì lại thấy thông suốt. Giữa vách tường, thì lại ngăn bít. Chỗ phân biệt được, thì lại thấy duyên. Ở trong hư không, tánh không đầy khắp; cảnh tượng mịt mờ, chính là bụi trần cuồn cuộn bay lên. Lúc trời quang mây tạnh, lại thấy trời trong xanh.
A Nan! Ông đã thấy các tướng biến hóa này. Nay Ta đem chúng trả lại chỗ cũ. Thế nào là chỗ cũ?
A Nan! Các tướng biến hóa này: Ánh sáng trả lại cho mặt trời, tại vì sao vậy? Vì không có mặt trời thì không có ánh sáng, ánh sáng thuộc về mặt trời, nên trả nó về cho mặt trời. Bóng tối trả lại cho đêm không trăng; Thông suốt trả lại cho cánh cửa; Ngăn bít trả lại cho vách tường; Sắc duyên trả lại cho sự phân biệt; Hư không trả lại cho hư không; mịt mờ trả lại cho bụi bặm; trong sáng trả lại cho trời quang mây tạnh.
Vậy tất cả mọi thứ trong thế gian, đều không ra ngoài những loại này.
Còn tánh thấy rõ ràng của ông nhìn thấy được tám tướng trên, ông định trả nó lại cho ai? Tại vì sao vậy? Vì nếu trả lại cho ánh sáng, thì lúc không có ánh sáng, lẽ ra không thấy được bóng tối. Tuy bóng tối và ánh sáng bình đẳng, có muôn vàn sự sai khác, nhưng tánh thấy thì không sai khác. Các tướng đều có chỗ trả lại, hẳn nhiên không phải chính ông. Tánh thấy ông không thể trả lại kia, nếu không phải ông thì là ai. Vì vậy nên biết tâm của ông, vốn thanh tịnh sáng suốt vi diệu, ông tự mê lầm, đánh mất bản thể chịu lấy luân hồi, ở trong sanh tử, thường bị chìm đắm nổi trôi. Cho nên Như Lai, gọi đó là “kẻ đáng thương xót!”
Chọn Giữa Vật Và Chính Mình
02-12 A Nan bạch rằng: “Tuy con biết tánh thấy này không thể trả lại.Nhưng làm thế nào để biết được đó chính là chân tánh của con?”
02-13 Phật bảo A Nan: “Nay Ta hỏi ông. Hiện nay ông chưa chứng được quả thanh tịnh vô lậu. Nhưng nhờ sức oai thần của Phật, mà thấy được cõi Sơ thiền, không bị chướng ngại. Và A Na Luật, thấy cõi Diêm phù đề, như thấy trái Am-ma-la trong lòng bàn tay. Các vị Bồ Tát khác, thấy đến trăm ngàn thế giới. Mười phương Như Lai, cùng tận hết thảy vi trần, các cõi nước thanh tịnh, không chỗ nào không thấy. Còn cái thấy của chúng sanh, không quá gang tấc.
A Nan! Nay Ta dẫn ông, đi xem cung điện chỗ ở của Tứ Thiên vương. Nhìn khắp trong không gian, các loài bơi dưới nước, đi trên đất và bay trên không trung. Tuy có sáng tối, các thứ hình tượng, nhưng không gì chẳng phải là tiền trần, các tướng phân biệt ngăn ngại. Ông nên ở trong đây, mà phân biệt rõ mình và vật. Nay Ta dẫn ông, từ trong cái thấy đó mà lựa chọn, cái gì là bản thể của chính mình, cái gì là hiện tượng sự vật?
A Nan! Ông hãy mở rộng hết cái thấy của mình, từ cung mặt trời cung mặt trăng, là vật chứ không phải ông. Cho đến bảy núi vàng, nhìn kĩ khắp nơi, tuy có nhiều thứ ánh sáng, nhưng cũng đều là vật chứ không phải ông. Rồi xem dần đến, mây trôi chim bay, gió chuyển động bụi tung bay, cây cối núi sông, rau cỏ, người và súc vật, tất cả đều là vật chứ không phải ông.
A Nan: Các vật xa gần đó tánh chất của nó, tuy có thù thắng hèn kém sai khác, nhưng đều do tánh thấy rõ ràng, thanh tịnh của ông nhìn thấy. Chứ các loại sự vật kia, tự có sai khác, nhưng tánh thấy thì không sai khác. Tánh thấy rõ ràng sáng suốt vi diệu đó, chính là tánh thấy của ông.
Tánh Thấy Không Phải Vật
Nếu cái thấy là vật, thì Ông cũng có thể thấy được cái thấy của Ta.
Nếu cùng một cái thấy, gọi là cái thấy của Ta. Vậy khi Ta không thấy, tại sao không thấy được chỗ không thấy của Ta?
Nếu thấy được chỗ không thấy, thì tự nhiên chẳng phải tướng không thấy của Ông. Còn nếu không thấy được chỗ không thấy của Ta, tự nhiên chẳng phải là vật. Tại sao không phải là Ông.
Lại nữa bây giờ lúc Ông nhìn thấy vật, ông đã nhìn thấy vật, thì vật cũng thấy Ông. Thể tánh xen tạp, thì Ông và Ta, cùng cả thế gian, không thể thành lập. A Nan! Nếu khi Ông thấy, thì chính là Ông không phải Ta. Tánh thấy cùng khắp, không phải Ông thì là ai? Tại sao Ông tự nghi ngờ chân tánh của mình? Ông không nhận chân tánh của mình, mà lại bám vào Ta để cầu chứng thật!
Tánh Thấy Không Dãn Ra Không Co Rút Lại
02-14 A Nan bạch đức Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn! Nếu tánh thấy này, là chính con chứ không phải ai khác. Vậy khi con cùng đức Như Lai, xem cung điện quí báu của trời Tứ Thiên Vương, ở cung mặt trời mặt trăng, cái thấy này viên mãn, rộng khắp cõi Ta bà. Khi trở về Tinh xá, chỉ thấy chốn già lam, giảng đường phòng ốc thanh tịnh, chỉ thấy hành lang cùng mái hiên. Bạch đức Thế Tôn! Cái thấy như vậy, bản thể của nó vốn cùng khắp pháp giới. Nhưng nay ở trong phòng này, chỉ thấy khắp trong một căn phòng, vì sao cái thấy này lại thay đổi lúc lớn lúc nhỏ. Là do bức tường ngăn cách, khiến cho hẹp lại hay sao? Nay con không biết ý nghĩa này như thế nào, cúi xin đức Thế Tôn rủ lòng thương xót chỉ dạy cho con.
02-15 Phật bảo A Nan: Tất cả thế gian, lớn nhỏ trong ngoài, tất cả mọi sự nghiệp, đều thuộc tiền trần, không nên nói rằng, tánh thấy có co có duỗi.
Ví dụ như đồ đựng hình vuông, thì bên trong thấy hư không hình vuông. Lại nữa Như Lai hỏi Ông. Trong cái đồ đựng hình vuông này, thấy hư không hình vuông, là hình vuông cố định, hay hình vuông không cố định? Nếu là hình vuông cố định, thì khi đặt đồ đựng hình tròn vào, hư không lẽ ra không thể tròn. Nếu không cố định, thì trong đồ đựng hình vuông, lẽ ra hư không không thể vuông! Ông nói ông không biết ý nghĩa ấy là như thế nào, thì ý nghĩa ấy là như thế. Sao có thể nói có.
A Nan! Nếu muốn làm cho hư không đi vào chỗ không vuông không tròn. Thì chỉ cần bỏ cái đồ đựng hình vuông; chứ hư không vốn không vuông. Không nên bảo rằng: còn phải trừ bỏ tướng vuông tròn của hư không.
Lại như lời Ông hỏi, khi vào trong nhà, làm cho cái thấy co rút nhỏ lại. Khi ngước lên nhìn mặt trời, lẽ nào Ông kéo dài cái thấy ngang bằng với mặt trời sao. Nếu vách nhà chia cách, làm cho tánh thấy đứt đoạn, thì khi khoét một cái lỗ nhỏ trên vách, tại sao không thấy dấu nối? Nghĩa này không đúng.
Nếu Có Thể Chuyển Vật Tức Đồng Như Lai
Tất cả chúng sanh, từ vô thỉ đến nay, mê mình là vật, đánh mất bổn tâm, bị vật xoay chuyển. Cho nên ở trong đó, thấy lớn thấy nhỏ. Nếu có thể xoay chuyển được vật, tức đồng với Như Lai, thân tâm tròn đầy sáng suốt, đạo tràng không dao động. Trong một mảy lông, có thể chứa trọn mười phương cõi nước.
02-16 A Nan bạch đức Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn! Nếu tánh thấy này, chính là diệu tánh của con. Nay diệu tánh này, phải ở trước con. Tánh thấy này thực sự là chân tánh của con. Vậy thân tâm hiện giờ của con, lại là vật gì? Mà hiện giờ thân tâm này thật sự có thể phân biệt.
Còn tánh thấy kia thì không thể phân biệt được thân con. Nếu thật sự là chân tâm của con, thì nay khiến cho con được thấy, tánh thấy đó thật sự là chính con, chứ thân này không phải chính con. Như vậy, đâu có khác gì trước đây đức Thế Tôn đã hỏi vặn con: "Vật có thể thấy được con" . Cúi xin đức Thế Tôn rủ lòng đại từ thương xót, khai mở cho con điều chưa tỏ ngộ.
02-17 Phật bảo A Nan: Nay như lời Ông nói, tánh thấy ở trước Ông, điều này không đúng. Nếu quả thật ở trước mắt Ông, Ông thật sự thấy nó, thì tánh thấy tinh anh này, đã có nơi chỗ nhất định, chẳng phải không chỉ ra được.
Hơn nữa, bây giờ Như Lai cùng Ông ngồi trong rừng Kì Đà, nhìn khắp cây cối, suối khe, giảng đường, trên cho đến mặt trời mặt trăng, phía trước đối diện là sông Hằng. Bây giờ Ông ở trước tòa sư tử của Như Lai, Ông đưa tay chỉ rỏ, các hình tướng này. Chỗ râm mát là rừng, chỗ sáng là mặt trời, chỗ che khuất là vách tường, chỗ thông suốt là hư không. Như vậy cho đến cỏ cây dây sợi, tuy lớn nhỏ khác nhau. Nhưng đều có hình tướng, không thứ gì là không chỉ ra được. Nếu tánh thấy kia, hiện tại nhất định ở trước Ông. Thì Ông hãy dùng tay chỉ ra một cách chính xác, cái gì là tánh thấy đó.
A Nan Ông nên biết. Nếu hư không là tánh thấy, đã thành tánh thấy, sao gọi là hư không. Nếu vật là tánh thấy, đã thành tánh thấy, sao gọi là vật? Ông hãy phân tích tỉ mỉ muôn vàn hiện tượng kia, phân tích ra nguồn gốc tánh thấy trong sáng nhiệm mầu, và chỉ cho Như Lai thấy, cũng như các vật kia, rõ ràng không lầm lẫn.
02-18 A Nan bạch rằng: Nay con ở trong giảng đường này, nhìn ra xa đến tận sông Hằng, trên thấy đến mặt trời mặt trăng, lấy tay mà chỉ, đưa mắt mà xem, những thứ chỉ ra được đều là vật, không phải tánh thấy. Bạch đức Thế Tôn! Như lời Thế Tôn vừa dạy, huống hồ con chỉ là hàng Thanh Văn hữu lậu sơ học, cho dù là hàng Bồ Tát, cũng không thể ở trước vạn vật hiện tượng, phân tích ra tánh thấy tinh anh, lìa khỏi tất cả vật, không có tự tánh khác.
02-19 Đức Phật dạy rằng: Đúng vậy! Đúng vậy!
Đức Phật lại bảo A Nan: Như lời Ông vừa nói, không có tánh thấy tinh anh, lìa tất cả vật, có tự tánh khác. Nên trong tất cả những vật Ông chỉ ra, không phải tánh thấy. Bây giờ lại hỏi Ông: Ông cùng Như Lai, ngồi trong rừng Kì Đà, lại xem rừng cây, cho đến mặt trời mặt trăng, cùng các hiện tượng khác, chắc chắn không có tánh thấy, mà Ông có thể chỉ ra được.
Ông lại tìm cho kĩ trong các vật này, cái gì không phải là tánh thấy.
A Nan bạch rằng: Quả thật con nhìn khắp rừng Kì Đà này, không biết ở trong đó cái gì không phải là tánh thấy. Vì sao vậy? Nếu cây cối không phải là tánh thấy, thì làm sao thấy được cây cối. Nếu cây cối tức là tánh thấy, thì tại sao gọi là cây cối. Cũng vậy cho đến hư không chẳng phải là tánh thấy, thì làm sao thấy được hư không. Nếu hư không tức là tánh thấy, thì tại sao gọi là hư không. Con lại suy nghĩ, ở trong muôn vàn hiện tượng kia, tìm kiếm thật kĩ, không có cái gì chẳng phải là tánh thấy!
02-20 Phật dạy: Đúng vậy! Đúng vậy! Lúc bấy giờ trong đại chúng, những vị chưa chứng quả Vô học, nghe lời Phật dạy như vậy, đều rất hoang mang không hiểu, nghĩa lí ấy đầu đuôi như thế nào, nhất thời kinh hoàng sợ hãi, mất chỗ bám víu!
Đức Như Lai biết rõ tâm niệm đại chúng, đang bị rối loạn, liền sanh lòng thương xót, an ủi A Nan cùng các đại chúng rằng: Này các Thiện nam tử! Bậc Pháp Vương Vô Thượng, là đấng nói lời chân thật, giống như sự thật mà nói, không lừa dối không hư vọng, không giống như hàng Mạt Già Lê. Đối với bốn hạng bất tử, nghị luận tán loạn. Ông nên tư duy thật kỹ, chớ nên sanh lòng lo lắng sợ hãi tự trách mình.
02-21 Lúc bấy giờ Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử. Thương xót bốn chúng, ở trong đại chúng, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật, cung kính chắp tay, mà bạch đức Phật rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Đại chúng giờ đây, không hiểu rõ hai điều tánh thấy thanh tịnh và sắc không mà Như Lai giác ngộ, là chính nó hay không phải nó.
Bạch đức Thế Tôn! Nếu những hiện tượng sắc không ở trước mắt đây, nếu đúng là tánh thấy, thì phải có chỗ chỉ ra được. Còn nếu không phải là tánh thấy, thì không thể thấy được. Nhưng nay đại chúng không hiểu được hai nghĩa này như thế nào. Cho nên hoang mang kinh sợ; chứ không phải vì căn lành đời trước ít ỏi. Cúi xin đức Thế Tôn rủ lòng đại từ thương xót dạy rõ, mọi sự vật hiện tượng và tánh thấy tinh anh này, vốn là cái gì, mà ở giữa vạn vật và tánh thấy này, không có hai nghĩa "đúng" và "không đúng"?
Tánh Thấy Và Thấy Các Duyên Cùng Với Tướng Vọng Tưởng Như Hoa Đốm Giữa Hư Không
02-22 Đức Phật bảo Văn Thù, cùng cả đại chúng rằng: Mười phương Như Lai, cho đến chư vị đại Bồ Tát, ở trong thiền định mà các Ngài an trú, tánh thấy và thấy vạn vật hiện tượng, cùng với tướng vọng tưởng, đều như hoa đốm giữa hư không, vốn không chỗ thật có. Tánh thấy và các duyên này, vốn là thể tánh bồ đề thanh tịnh sáng suốt nhiệm mầu. Thì làm sao ở trong đó lại có cái "đúng" hay "không đúng". Văn Thù! Bây giờ Như Lai hỏi ông: Như Ông là Văn Thù, lại còn có cái Văn Thù chính là Văn Thù, hay không phải Văn Thù" nữa sao?
02-23 Bạch đức Thế Tôn, đúng như vậy! Con thật sự là Văn Thù, không phải là Văn Thù, vì sao? Vì nếu có cái "đúng" tức có hai Văn Thù. Nhưng nay con cũng không có cái "chẳng phải Văn Thù". Quả thật, ở trong đây thật không có hai tướng "đúng" hay "không đúng".
Chân Tâm Thanh Tịnh Viên Mãn Vì Vọng Mà Cho Rằng Có Sắc Không Và Nghe Thấy
02-24 Đức Phật dạy rằng: Tánh thấy sáng suốt vi diệu này, cùng các không trần, cũng lại như vậy. Vốn là chân tâm bồ đề vô thượng, trong sạch tròn đầy, sáng suốt vi diệu. Vì vọng mà cho rằng có sắc, không, và nghe, thấy. Như mặt trăng thứ hai, cái nào là mặt trăng, và cái nào không phải là mặt trăng? Văn Thù! Chỉ có một mặt trăng chân thật, trong đó không có cái "chính là mặt trăng" hay "không phải là mặt trăng". Là do, hiện giờ cái ông nhìn thấy và các trần, mọi hiện sự vật hiện tượng, đều gọi là vọng tưởng. Không thể ở trong đó mà nói là "đúng" hay "không đúng". Đều do chân tánh sáng suốt tinh anh vi diệu này, nên có thể khiến cho ông "chỉ được" và "không chỉ được".
02-25 A Nan bạch đức Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn! Thật đúng như lời đấng Pháp Vương đã dạy, tự tánh biến khắp mười phương, trong lặng thường trú, tự tánh không sanh không diệt. So với thuyết của tiên phạm chí Ta Tì Ca La, nói về "minh đế", và các thuyết ngoại đạo của nhóm Đầu khôi, nói có "bản ngã chân thật biến khắp mười phương", có gì khác nhau?
Đức Thế Tôn cũng đã từng ở núi Lăng Già, vì Bồ Tát Đại Huệ và đại chúng diễn nói nghĩa này. Chúng ngoại đạo kia, thường nói tự nhiên, nhưng nhân duyên mà Ta nói, chẳng phải cảnh giới của họ.
Nay con quan sát tánh thấy này cũng là tự nhiên, không sanh, không diệt, xa lìa tất cả hư vọng điên đảo, hình như không phải là nhân duyên, mà giống như thuyết tự nhiên kia. Cúi xin đức Thế Tôn khai thị, khiến cho chúng con không lạc vào các tà kiến, đạt được tâm tánh chân thật sáng suốt giác ngộ vi diệu.
02-26 Phật bảo A Nan: Nay Như Lai dùng đủ mọi phương pháp khai thị như vậy, đều nói cho ông lời chân thật. Sao Ông vẫn chưa hiểu, lại mê hoặc cho là tự nhiên! A Nan! Nếu nhất định là tự nhiên, thì ông phải xác định rõ cái nào là thể tự nhiên. Hơn nữa ông hãy quán sát xem, ở trong tánh thấy sáng suốt nhiệm mầu này, lấy cái gì làm thể tự nhiên? Tánh thấy này lấy ánh sáng làm thể tự nhiên, lấy bóng tối làm thể tự nhiên, lấy hư không làm thể tự nhiên, hay lấy tướng ngăn bít làm thể tự nhiên? A Nan! Nếu lấy ánh sáng là thể tự nhiên, thì lẽ ra không thể thấy được bóng tối. Nếu lại lấy hư không là thể tự nhiên, thì lẽ ra không thể thấy được tướng ngăn bít. Như vậy cho đến lấy các tướng tối làm thể tự nhiên, thì đến lúc có ánh sáng, tánh thấy đã đoạn diệt, làm sao thấy được ánh sáng?
02-27 A Nan bạch rằng: Vậy nhất định tánh thấy vi diệu này, tự tánh của nó không phải là tự nhiên. Bây giờ con phát hiện ra, là do nhân duyên sanh ra. Nhưng tâm con vẫn chưa hiểu rõ, xin hỏi Như Lai, nghĩa lí này là thế nào, để phù hợp với tánh nhân duyên?
02-28 Đức Phật dạy rằng: Ông nói là nhân duyên. Vậy Như Lai lại hỏi Ông:
Nay ông do thấy, tánh thấy hiện tiền. Vậy thấy này là vì do ánh sáng mà có thấy, hay do bóng tối mà có thấy, do hư không mà có thấy, hay do tướng ngăn bít mà có thấy?
A Nan! Nếu do ánh sáng mà có, thì lẽ ra không thể thấy bóng tối; nếu do bóng tối mà có, thì lẽ ra không thể thấy ánh sáng. Cứ như vậy cho đến do tướng hư không, do tướng ngăn bít, cũng giống như do ánh sáng và bóng tối.
Lại nữa, A Nan! Tánh thấy này lại duyên ánh sáng mà có thấy, hay duyên bóng tối mà có thấy, duyên hư không mà có thấy, hay duyên tướng ngăn bít mà có thấy?
A Nan! Nếu duyên hư không mà có, thì lẽ ra không thấy được chỗ ngăn bít; nếu duyên tướng ngăn bít mà có, thì lẽ ra không thấy được hư không. Cứ như vậy, cho đến duyên nơi ánh sáng hay duyên vào bóng tối, cũng giống như duyên hư không hay ngăn bít.
Lìa Tất Cả Tướng Tức Tất Cả Pháp
Do đó nên biết rằng, tánh thấy biết tinh diệu này, chẳng phải nhân, chẳng phải duyên, cũng chẳng phải tự nhiên, chẳng phải không tự nhiên; chẳng không phải cũng không phải không phải, không đúng, chẳng phải đúng, lìa tất cả tướng, tức là tất cả pháp.
Nay tại sao ông ở trong đó mà khởi tâm nghiên cứu, dùng các danh tướng hí luận thế gian, để mà phân biệt. Như dùng tay mà nắm lấy hư không, thì chỉ tự làm nhọc mình thôi, hư không đâu có thể tùy Ông nắm bắt!
02-29 A Nan bạch đức Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn! Có lẽ Tánh giác vi diệu này, không phải là nhân, không phải là duyên. Vậy tại sao đức Thế Tôn thường dạy cho các vị Tỳ Kheo, giảng nói tánh thấy có đầy đủ bốn duyên. Đó là nhân nơi hư không, nhân nơi ánh sáng, nhân nơi tâm và nhân nơi con mắt, nghĩa này là như thế nào?
Đức Phật dạy: Này A Nan! Ta nói về các tướng nhân duyên trong thế gian, không phải là đệ nhất nghĩa. A Nan! Ta lại hỏi Ông. Mọi người trong thế gian, nói "tôi có thể thấy", thế nào gọi là "thấy"? Và thế nào gọi là "không thấy"?
2.30 A Nan bạch rằng: Người thế gian nhờ có ánh sáng của mặt trời, mặt trăng và đèn, mà nhìn thấy được mọi thứ, gọi đó là "thấy". Nếu không có ba thứ ánh sáng này, thì không thể thấy.
2.31 A Nan! Nếu khi không có ánh sáng, mà gọi là không thấy, thì lẽ ra không thấy được bóng tối. Nếu nhất định thấy được bóng tối, chỉ vì lúc đó không có ánh sáng, sao gọi là không thấy!
A Nan. Nếu khi ở chỗ tối, vì không thấy ánh sáng, gọi là không thấy, thì hiện giờ đang ở chỗ sáng, không thấy được bóng tối, cũng phải gọi là không thấy. Cả hai tướng này, đều gọi là không thấy!
Nếu hai tướng này tự lấn đoạt lẫn nhau, chẳng phải tánh thấy của Ông ở trong đó tạm thời không có.
Do đó biết rằng, cả hai đều gọi là "thấy", sao gọi là "không thấy"!
Vì vậy, A Nan! Bây giờ Ông nên biết rằng: Khi thấy ánh sáng, cái thấy không phải là ánh sáng; khi thấy bóng tối, cái thấy không phải là bóng tối; khi thấy hư không, cái thấy không phải là hư không; khi thấy ngăn bít, cái thấy không phải là ngăn bít. Bốn nghĩa đó phải được kiến lập.
Ông lại còn phải biết: Khi nhìn thấy cái thấy, thì cái thấy đó không phải là tánh thấy, tánh thấy xa lìa cái thấy; có cái thấy thì không thể đạt đến chỗ tự tánh, thì tại sao lại nói nhân duyên, tự nhiên, hay tướng hòa hợp.
Các Ông hàng Thanh văn tâm lượng hẹp hòi không biết, không thông đạt được thật tướng thanh tịnh. Nay Ta chỉ dạy cho các Ông, nên khéo tư duy, trên con đường Bồ Đề vi diệu không nên lười biếng giải đãi!
02-32 A Nan bạch đức Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn! Như Đức Thế Tôn đã vì chúng con, mà giảng nói về nhân duyên và tự nhiên; các tướng hòa hợp và không hòa hợp, nhưng tâm chúng con vẫn chưa tỏ ngộ. Và bây giờ lại được nghe cái nhìn thấy và cái được thấy không phải là tánh thấy, càng thêm mờ mịt! Cúi xin đức Thế Tôn thương xót, bố thí cho con mắt đại trí tuệ, chỉ bày cho chúng con cái tâm giác ngộ sáng suốt thanh tịnh này. Nói lời ấy xong, rưng lệ cung kính đảnh lễ, chờ tiếp nhậnThánh chỉ.
02-33 Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn, thương xót A Nan và toàn thể đại chúng. Muốn khai diễn pháp đại Đà La Ni (thần chú) và các Tam Ma Đề (tức chánh định). Con đường tu hành vi diệu. Bảo A Nan rằng: Ông tuy có trí nhớ mạnh mẽ, nhưng chỉ có ích cho phần nghe nhiều học rộng mà thôi; còn đối với pháp Xa Ma Tha (thiền định) quán chiếu chân lí sâu kín, thì tâm chưa tỏ rõ. Nay Ông hãy lắng nghe, Ta sẽ vì Ông mà phân tích chỉ bày. Cũng khiến cho hàng phàm phu hữu lậu trong tương lai, đạt được đạo quả bồ đề.
Hai Cái Thấy Hư Vọng Phân Biệt Điên Đảo
A Nan! Tất cả chúng sanh, luân hồi trong thế gian, đều do hai cái thấy hư vọng phân biệt điên đảo, ngay chỗ tạo nghiệp mà phát sinh, theo nghiệp lực mà xoay vần. Hai cái thấy đó là gì? Một là, cái thấy hư vọng do nghiệp riêng của chúng sanh; hai là, cái thấy hư vọng do nghiệp chung của chúng sanh.
Cái Thấy Hư Vọng Biệt Nghiệp
02-34 Thế nào gọi là "cái thấy sai lầm hư vọng do nghiệp riêng"? A Nan! Như người trong thế gian, mắt bị nhặm đỏ, ban đêm nhìn thấy ánh đèn, riêng thấy có bóng tròn, năm màu bao quanh. Ý Ông nghĩ sao? Cái bóng sáng tròn hiện ra nơi ngọn đèn đó, là màu sắc của ngọn đèn, hay màu sắc của cái thấy?
A Nan! Nếu đây là màu sắc của ngọn đèn, thì tại sao những người không bị nhặm mắt lại không cùng thấy, mà bóng tròn này, chỉ có người bị nhặm mắt mới thấy được? Nếu màu sắc này là của tánh thấy, thì cái thấy đã thành sắc rồi, vậy người bị nhặm mắt kia thấy cái bóng tròn, nên gọi là cái gì? Lại nữa, A Nan! Nếu cái bóng tròn này lìa khỏi đèn tự nó riêng có, thì lẽ ra, những vật kế bên khi nhìn tấm bình phong, bức màn, ghế ngồi, bàn trà..vv… đều có bóng tròn xuất hiện; Nếu lìa khỏi cái thấy tự nó riêng có, thì lẽ ra không thuộc về con mắt, tại sao người bị mắt nhặm thấy được bóng tròn?
Vì vậy nên biết rằng: màu sắc thật sự ở nơi ngọn đèn, do cái thấy bị bệnh tạo ra bóng tròn. Cái bóng và cái thấy đều bị bệnh, cái thấy được bệnh nhặm thì không phải bệnh.
Tóm lại không nên bảo rằng, là của ngọn đèn hay của cái thấy. Ở trong đó có cái không phải của ngọn đèn, hoặc không phải của cái thấy.
Ví như mặt trăng thứ hai, không phải là mặt trăng thật, cũng không phải là bóng của mặt trăng; vì sao vậy? Vì thấy có mặt trăng thứ hai là do dụi mắt mà ra vậy. Cho nên những người có trí tuệ, không nên nói rằng, mặt trăng do dụi mắt mà có, là hình tướng hay không phải hình tướng, là lìa khỏi cái thấy hay không phải cái thấy. Cái này ở đây cũng vậy, do con mắt bị nhặm mà có, nay muốn gọi nó là của ngọn đèn hay của cái thấy, hà huống còn phân biệt nó không phải của ngọn đèn hay không phải của cái thấy!
Cái Thấy Hư Vọng Cộng Nghiệp
02-35 Thế nào là "cái thấy hư vọng do nghiệp chung"? A Nan! Cõi Diêm phù đề này, ngoại trừ nước của biển cả ra, ở giữa phần đất liền, có ba ngàn châu, châu lớn ở chính giữa, bao gồm từ Đông sang Tây, có hai ngàn ba trăm nước lớn. Các châu nhỏ khác ở trong các biển, trong đó hoặc có châu thì hai trăm hay ba trăm nước, hoặc một hoặc hai, thậm chí đến ba mươi, bốn mươi hay năm mươi nước. A Nan! Nếu lại ở trong đó, có một châu nhỏ, chỉ có hai nước, mà chỉ riêng người ở trong một nước, đồng chiêu cảm duyên ác. Còn nước nhỏ kia, những chúng sanh trong nước đó, nhìn thấy tất cả các cảnh tượng không tốt, hoặc thấy có hai mặt trời, hoặc thấy có hai mặt trăng; cho đến những hiện tượng xấu khác, như hiện tượng nhật thực, sao chổi, sao băng; cầu vồng. Những tướng ác này, chỉ có chúng sanh trong nước đó thấy, còn chúng sanh ở nước bên kia, thì không thể thấy, cũng không thể nghe.
02-36 A Nan! Nay Ta vì ông, dùng hai sự việc này, mà biết rõ tiến, thoái, hợp, sáng. A Nan! Như chúng sanh kia, do nghiệp riêng mà có cái thấy hư vọng, nhìn trong ánh đèn mà thấy hiện bóng sáng tròn; tuy giống như cảnh thật ở trước mắt, nhưng rốt cuộc cái thấy đó, do bệnh mắt nhặm tạo thành. Mắt bị nhặm tức cái thấy mệt mỏi, không phải do màu sắc tạo ra. Do đó cái có thể thấy được bệnh nhặm, vốn không phải lỗi của tánh thấy.
Ví dụ như Ông hiện nay, dùng con mắt để nhìn núi sông, cõi nước, cho đến các chúng sanh, đều do cái thấy bị bệnh từ vô thỉ tạo thành. Tánh thấy và cái thấy các duyên, dường như cảnh tượng hiện ở trước mắt. Nguồn gốc của nó là tánh thấy biết rõ ràng sáng suốt vi diệu của chúng ta, mắt bệnh mà nhìn thấy vạn vật, cái thấy biết đó chính là bệnh, còn bổn tâm vốn sáng tỏ, tánh giác biết rõ các duyên chẳng phải bệnh, cái thấy và cái được thấy đều là bệnh, tánh nhận biết đó thì không hề có bệnh. Đây thật là cái thấy bị bệnh, sao lại đem nó gọi là tánh thấy, nghe, hay, biết?
Cho nên, nay Ông thấy Như Lai và chính Ông, cùng mười loại chúng sanh trong thế gian, đều là cái thấy bệnh, cái không phải là cái thấy bệnh, đó chính là tánh thấy chân thật tinh anh. Tánh thấy vốn không phải bệnh, cho nên không thể gọi là "thấy".
A Nan! Nếu chúng sanh kia cái thấy hư vọng do nghiệp chung, so sánh với cái thấy hư vọng do nghiệp riêng của một người, thì một người bị bệnh mắt nhặm, đồng như mọi người trong cả nước kia. Người kia thấy bóng tròn, do mắt nhặm vọng sanh ra. Những người cộng nghiệp này hiện ra các tướng không lành, công nghiệp cùng thấy, là do chướng ác tạo thành. Cả hai đều là cái thấy hư vọng từ vô thỉ sanh ra.
Ví như, ba ngàn châu trong cõi Diêm Phù Đề, cùng bốn biển lớn, thế giới Ta Bà, và các cõi nước hữu lậu trong mười phương và tất cả chúng sanh, đều cùng tánh giác sáng suốt, chân tâm vi diệu vô lậu, nhưng do cái thấy nghe giác biết hư vọng bệnh duyên, hòa hợp vọng sanh, hòa hợp vọng diệt. Nếu có thể lìa khỏi các tướng duyên hòa hợp và không hòa hợp, thì có thể diệt trừ các nhân sanh tử, Bồ Đề viên mãn, không sanh diệt, bổn tâm thanh tịnh, tánh giác thường trụ.
Chẳng Phải Hòa Hợp
02-37 A Nan! Tuy Ông phần trước đã ngộ được tự tánh sáng suốt vi diệu, tánh vốn chẳng phải nhân duyên, chẳng phải tánh tự nhiên. Nhưng vẫn còn chưa rõ nguồn gốc của tánh giác như vậy, vốn không phải do hòa hợp sanh, và không hòa hợp. A Nan! Bây giờ Ta lại dùng trần cảnh ở trước mắt mà hỏi Ông: Nay Ông còn lấy tất cả những tính nhân duyên, hòa hợp của vọng tưởng trong thế gian, để tự nghi hoặc rằng, chứng đắc tâm bồ đề cũng là do hòa hợp mà phát khởi.
Thì bây giờ tánh thấy thanh tịnh vi diệu tinh anh này của Ông, có cùng hòa hợp với ánh sáng không? Có cùng hòa hợp với bóng tối không? Có cùng hòa hợp với chỗ thông suốt không? Có cùng hòa với tướng ngăn bít không?
Nếu hòa hợp với ánh sáng, khi Ông thấy ánh sáng, ánh sáng đang ở trước mắt, nó hòa lẫn với tánh thấy ở chỗ nào? Tướng thấy có thể nhận rõ được, còn hình tướng xen tạp đó thì như thế nào?
Nếu không phải là tánh thấy, thì làm sao thấy được ánh sáng?
Nếu chính là tánh thấy, thì làm sao thấy được cái thấy? Tánh thấy nhất định viên mãn, thì ánh sáng hòa vào chỗ nào?
Nếu ánh sáng viên mãn, không hòa hợp với tánh thấy. Tánh thấy nhất định khác với tướng sáng. Khi xen tạp thì tánh và tên gọi của ánh sáng đều mất đi. Xen tạp thì mất tánh sáng, hòa với ánh sáng thì không đúng nghĩa lí. Đối với tướng tối, tướng thông suốt và các tướng ngăn bít, cũng đều như vậy.
Lại nữa, A Nan! Tánh thấy thanh tịnh vi diệu tinh anh của Ông hiện giờ, đang hợp với ánh sáng, hợp với bóng tối, hợp với chỗ thông suốt, hay hợp với tướng ngăn bít?
Nếu hợp với ánh sáng, thì lúc tối đến, tướng ánh sáng đã diệt mất, mà cái thấy này vốn không hợp với bóng tối, thì làm sao thấy được bóng tối?
Nếu lúc thấy tối, nhưng không hợp với bóng tối, mà hợp với ánh sáng, lẽ ra không thấy được ánh sáng; đã không thấy được ánh sáng, thì làm sao hợp với ánh sáng, thấy rõ ràng thì không phải là bóng tối.
Nghĩa lí này đối với tướng tối, tướng thông suốt và các tướng ngăn bít, cũng đều như vậy.
Chẳng Phải Không Hòa Hợp
02-38 A Nan bạch đức Phật rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Theo Con suy nghĩ: Tánh giác vi diệu vốn có này, với các duyên trần, và tâm niệm nhớ nghĩ, chẳng phải hòa hợp.
Đức Phật dạy rằng: Bây giờ Ông lại nói tánh giác chẳng phải hòa hợp, vậy Ta lại hỏi ông: Tánh thấy vi diệu tinh anh này chẳng phải hòa hợp, là không hòa với ánh sáng, không hòa với bóng tối, không hòa với chỗ thông suốt, hay không hòa với tướng ngăn bít?
Nếu không hòa với ánh sáng, thì giữa tánh thấy và ánh sáng, phải có ranh giới. Vậy Ông hãy xem cho kĩ, chỗ nào là ánh sáng? Chỗ nào là tánh thấy? Là ở nơi tánh thấy hay ở nơi ánh sáng, chỗ nào là ranh giới.
A Nan! Nếu ở trong chỗ ánh sáng, thì chắc chắn không có tánh thấy; tức hai tướng ấy không đến với nhau được, tự chúng không biết nhau, tướng ánh sáng ở chỗ nào, thì làm sao lập được ranh giới? Đối với bóng tối, chỗ thông suốt, nơi ngăn bít, cũng như vậy.
Lại nữa, tánh thấy vi diệu tinh anh, không hòa hợp, là không hợp với ánh sáng, không hợp với bóng tối, không hợp với tướng thông suốt, hay không hợp với tướng ngăn bít?
Nếu không hợp với ánh sáng, thì tánh thấy và tướng sáng, tánh tướng trái ngược nhau, giống như lỗ tai và ánh sáng, hoàn toàn không tiếp xúc với nhau; hơn nữa tánh thấy chẳng biết tướng ánh sáng ở đâu, làm sao xem xét rõ ràng đạo lí hợp hay không hợp? Đối với bóng tối và thông suốt, và các tướng ngăn bít, cũng đều như vậy.
Vốn Dĩ Là Như Lai Tạng
02-39 A Nan! Ông vẫn chưa biết rõ, tất cả phù trần, đều là các tướng huyễn hóa, ngay chỗ đó sanh ra, theo chỗ đó diệt mất. Huyễn vọng gọi là tướng, nhưng thể tánh của nó thật sự là thể tánh giác biết vi diệu sáng suốt. Như vậy cho đến năm ấm, sáu nhập, từ mười hai xứ, đến mười tám giới, nhân duyên hòa hợp, hư vọng có sanh, nhân duyên chia lìa, hư vọng gọi diệt mất. Lại không biết rằng sanh, diệt, đến, đi, vốn là Như Lai tạng, là tánh chân như thường trú, không dao động, sáng suốt vi diệu, tròn đầy cùng khắp. Ở trong tánh chân thường đó mà tìm các tướng đến, đi, mê, ngộ, sống, chết, hoàn toàn không thể có được.
Ngũ Ấm
02-40 Sắc ấm
A Nan! Vì sao nói rằng năm ấm, vốn là tánh Như Lai Tạng chân như vi diệu?
A Nan! Ví như có người, dùng con mắt trong sáng, nhìn bầu trời quang đãng, chỉ thấy hư không trong suốt, chẳng có gì khác. Người này vô cớ, nhìn chăm chú không nháy mắt, nhìn lâu mắt sanh ra mỏi mệt, liền ở trong hư không, thấy có đốm hoa lăng xăng, lại có tất cả hình tướng nhảy múa loạn xạ. Nên biết sắc ấm cũng giống như vậy.
A Nan! Những hoa đốm lăng xăng kia, chẳng phải từ hư không mà có, chẳng phải từ mắt mà ra.
Thật vậy, A Nan! Nếu từ hư không mà đến. Đã từ hư không đến, thì phải trả vào hư không; nếu có ra vào, thì chẳng phải là hư không.
Hư không nếu không phải hư không, thì tự nó không dung chứa những tướng hoa đốm sanh diệt ở trong ấy. Giống như thân thể của A Nan không thể dung chứa A Nan khác nữa.
Nếu từ mắt mà ra. Nếu đã từ mắt mà ra, thì phải trở vào lại trong con mắt. Tức tánh này của hoa vì đã từ mắt đi ra, lẽ ra phải có tánh thấy!
Nếu nó có tánh thấy, thì lúc ra làm hoa đốm giữa hư không, đến lúc trở vào phải thấy được con mắt.
Nếu không có tánh thấy, thì lúc đi ra chúng làm nhòe hư không, khi trở vào chúng làm lòa con mắt!
Lại nữa, khi thấy hoa đốm, lẽ ra con mắt không lòa, sao gọi là bầu trời quang đãng, con mắt trong sáng; Cho nên biết rằng, sắc ấm là hư vọng, vốn không phải nhân duyên, cũng không phải tánh tự nhiên.
02-41 Thọ ấm
A Nan! Ví như có người, tay chân an ổn, cơ thể điều hòa, bỗng như quên sự sống của mình, không thuận không nghịch. Người này vô cớ, đưa hai tay lên, ở trong hư không xoa vào nhau, trong hai tay này, vọng sanh các tướng trơn, rít, lạnh, nóng... Nên biết thọ ấm, cũng giống như vậy.
A Nan! Những cảm xúc hư huyễn kia, không phải từ hư không đến, cũng không phải từ bàn tay ra. Thật vậy, này A Nan!
Nếu từ hư không đến, liền có thể xúc chạm vào bàn tay, thì tại sao không xúc chạm thân thể. Không lẽ hư không, biết chọn lựa chỗ để xúc chạm?
Nếu từ bàn tay ra, thì lẽ ra không cần phải đợi hai bàn tay xoa vào nhau!
Lại nữa, nếu từ bàn tay ra, khi xoa vào nhau thì tay biết có cảm xúc, khi rời thì cảm xúc chạy vào, cổ tay, cánh tay, xương, tủy, đều phải biết tung tích. Chắc chắn phải có tâm hay biết, biết ra, biết vào. Tự có một vật đi lại trong thân. Tại sao đợi hai bàn tay xoa vào nhau mới biết, mới gọi là cảm xúc. Do đó biết rằng, thọ ấm là hư vọng, vốn không phải nhân duyên, cũng không phải tánh tự nhiên.
02-42 Tưởng ấm
A Nan! Ví như có người, nói đến quả mơ chua, thì trong miệng chảy nước miếng; nghĩ đến đứng trên vực núi chênh vênh, thì lòng bàn chân cảm thấy tê buốt. Nên biết tưởng ấm, cũng giống như vậy.
A Nan! Như vậy khi nói đến quả mơ, không từ quả mơ sanh ra, cũng không phải từ miệng vào. Thật vậy, A Nan! Nếu do quả mơ sanh ra, thì quả mơ phải tự nói, sao phải đợi người ta nói? Nếu từ miệng vào, miệng phải tự nghe, cần gì đến lỗ tai? Nếu chỉ riêng lỗ tai nghe, thì nước miếng này sao không từ lỗ tai mà chảy ra? Việc nghĩ đến đứng trên vực núi chênh vênh cũng như vậy. Do đó nên biết rằng, tưởng ấm là hư vọng, vốn không phải nhân duyên, cũng không phải tự nhiên.
02-43 Hành ấm
A Nan! Ví như thác nước chảy xiết, sóng tuôn cuồn cuộn tương tục, lớp trước lớp sau tiếp nối nhau, mà không vượt qua nhau. Nên biết hành ấm, cũng giống như vậy. A Nan! Hiện tượng chảy xiết đó, không nhân nơi hư không mà sanh ra, cũng không nhân nước mà có; không phải tánh nước, nhưng không ra ngoài hư không và nước.
Thật vậy, A Nan! Nếu do hư không mà sanh, thì khắp cả cõi hư không không cùng tận trong mười phương, đều trở thành dòng nước không cùng tận; thế gian tự nhiên đều bị nhấn chìm hết rồi!
Nếu do nước mà có, thì tánh chảy của thác nước này lẽ ra không phải là nước, có tướng sở hữu, bây giờ nên suy nghĩ.
Giả như chính là tánh nước, thì khi lặng trong, lẽ ra không phải là nước nữa!
Nếu lìa khỏi hư không và nước, ngoài hư không chẳng có, lìa khỏi nước không có nước chảy. Vì vậy nên biết, hành ấm là hư vọng, vốn không phải nhân duyên, cũng không phải tánh tự nhiên.
02-44 Thức ấm
A Nan! Ví như có người, lấy cái bình Tần Già, bịt kín hai lỗ của nó, rồi đựng đầy hư không, mang đi xa ngàn dặm, đem tặng cho nước khác. Nên biết rằng thức ấm cũng giống như vậy.
A Nan! Hư không đó, không phải từ phương kia đến, cũng không phải từ phương này vào. Thật vậy, A Nan! Nếu từ phương kia đến, thì chỗ cũ trong bình đó chứa hư không đã lấy đi, vậy ở chỗ cũ của bình, lẽ ra phải thiếu hư không. Nếu từ phương này vào, thì thì khi mở miệng bình trút ra, phải thấy hư không tuôn ra! Do đó nên biết rằng, thức ấm là hư vọng, vốn không phải nhân duyên, cũng không phải tánh tự nhiên.
Lục Nhập
03-01 Nhãn Nhập
Lại nữa, này A Nan! Vì sao nói rằng sáu nhập, vốn là tự tánh chân như Như Lai tạng?
A Nan! Như con mắt kia, nhìn chăm chú sinh ra mệt mỏi, Cả con mắt và tướng mệt mỏi, đều là tánh Bồ Đề nhìn chằm phát sanh tướng mệt mỏi. Nhân nơi sáng tối hai trần hư vọng, ở trong đó phát ra cái thấy, thâu nhận tướng trần này, gọi đó là tánh thấy. Tánh thấy này, lìa khỏi hai trần sáng tối kia, hoàn toàn không có tự thể.
Như vậy, A Nan! Nên biết rằng tánh thấy này, không phải từ sáng tối mà đến, không phải ở nơi con mắt mà ra, không do hư không phát sinh. Vì sao như vậy? Nếu từ ánh sáng đến, tối liền diệt theo, nên không thể thấy bóng tối.
Nếu từ bóng tối mà đến, sáng liền diệt theo, nên không thể thấy ánh sáng.
Nếu từ con mắt mà ra, thì chắc chắn không có sáng tối. Như vậy tánh thấy, vốn không có tự tánh.
Nếu do hư không sinh ra, nhìn ra trước thấy các cảnh tượng, quay trở về thì phải tự thấy con mắt. Vả lại, hư không tự nhìn thấy, đâu liên quan gì đến nhập của Ông. Do đó nên biết, nhãn nhập là hư vọng, vốn chẳng phải nhân duyên, cũng chẳng phải tánh tự nhiên.
03-02 Nhĩ Nhập
A Nan! Ví như có người, dùng hai ngón tay, bịt thật kín hai lỗ tai của họ. Vì lỗ tai mệt mỏi, trong đầu thành ra có tiếng ù. Đều là Bồ đề chăm chú lâu phát tướng mệt mỏi. Nhân nơi hai thứ vọng trần động tĩnh, ở trong đó phát ra cái nghe, thâu nhận tướng trần này, gọi đó là tánh nghe.
Tánh nghe này lìa khỏi hai trần động tĩnh kia, hoàn toàn không có tự thể. Như vậy, A Nan! Nên biết tánh nghe này, không phải từ nơi động tĩnh mà đến, không phải do nhĩ căn mà ra, không phải do hư không phát sinh. Vì sao như vậy?
Nếu từ tĩnh mà đến, khi động liền diệt theo, nên không thể nghe tiếng động.
Nếu từ động mà đến, khi tĩnh liền diệt theo, nên không thể biết tĩnh.
Nếu do nhĩ căn mà ra, thì nhất định không có động tĩnh, như vậy thì tánh nghe, vốn không có tự tánh.
Nếu do hư không phát sinh, đã có tánh nghe, tức không phải là hư không.
Vả lại, hư không tự nghe, thì liên quan gì đến nhập của ông. Bởi vậy nên biết, nhĩ nhập là hư vọng, vốn chẳng phải nhân duyên, chẳng phải tánh tự nhiên.
03-03 Tỉ Nhập
A Nan! Ví như có người, lỗ mũi hít thở gấp rút. Vì hít lâu nên thành ra mệt mỏi, thì ở trong mũi, nghe như có cảm giác lạnh. Nhân nơi xúc chạm mà phân biệt, thông, nghẹt, hư rỗng, hay cứng đặc, như vậy cho đến ngửi các mùi thơm hôi; cả lỗ mũi và tướng mệt mỏi đó, đều là Bồ đề ngửi lâu sanh tướng mệt mỏi. Nhân nơi hai thứ vọng trần thông nghẹt, ở trong đó phát ra, thâu nhận tướng trần này, gọi đó là tánh ngửi. Tánh ngửi này lìa khỏi hai trần thông nghẹt kia, thì hoàn toàn không có tự thể. Nên biết tánh ngửi này, không phải từ thông, nghẹt mà đến, không phải do tỷ căn mà ra, cũng không phải do hư không phát sinh. Vì sao như vậy? Nếu từ thông mà đến, lúc nghẹt tánh ngửi bị diệt mất, làm sao biết được nghẹt? Nếu nhân nghẹt mà có, thì khi thông sẽ không thể ngửi, làm sao biết được các mùi thơm, thối? Nếu từ lỗ mũi mà ra, chắc chắn không có thông nghẹt, như vậy tánh ngửi này, vốn không có tự tánh.
Nếu do hư không sanh ra, thì cái ngửi này phải quay lại ngửi lỗ mũi của Ông. Hư không tự có tánh ngửi, thì đâu có liên quan gì đến nhập của Ông. Do đó nên biết rằng, tỷ nhập là hư vọng, vốn chẳng phải nhân duyên, cũng chẳng phải tánh tự nhiên.
03-04 Thiệt Nhập
A Nan! Ví như có người dùng lưỡi liếm môi. Liếm lâu sanh ra mệt mỏi. Nếu người này bệnh, thì cảm thấy có vị đắng, nếu người không bệnh, thì cảm thấy có vị hơi ngọt. Do cảm xúc ngọt và đắng này, mà hiển rõ thiệt căn, lúc không cử động, thường có tánh nhạt. Cả lưỡi và tướng mệt mỏi, đều là Bồ đề liếm lâu sanh tướng mệt mỏi. Nhân nơi hai thứ vọng trần đắng ngọt và nhạt, ở trong đó phát ra tánh biết, thâu nhận tướng trần này, gọi đó là tánh biết vị. Tánh biết vị này, lìa hai thứ vọng trần đắng ngọt và nhạt kia, thì hoàn toàn không có tự thể.
Đúng vậy, A Nan! Nên biết nếm biết đắng nhạt như vậy, không phải từ vị ngọt đắng mà đến, không phải do vị nhạt mà có, không phải do thiệt căn mà ra, cũng không phải do hư không phát sinh. Vì sao như vậy? Nếu từ vị ngọt đắng mà đến, thì khi nhạt cái biết vị liền diệt theo, làm sao biết được vị nhạt?
Nếu từ vị nhạt mà ra, thì khi ngọt cái biết vị đã diệt theo, làm sao biết được hai tướng ngọt, đắng?
Nếu từ thiệt căn sanh ra, thì nhất định không có các vị trần ngọt nhạt, và đắng. Vậy thì cái biết vị căn này, vốn không có tự tánh.
Nếu do hư không phát sinh, thì hư không tự nếm vị, không phải miệng Ông nếm biết. Vả lại, hư không tự biết vị, có liên quan gì đến nhập của Ông. Do đó nên biết, thiệt nhập là hư vọng, vốn chẳng phải nhân duyên, cũng chẳng phải tánh tự nhiên.
03-05 Thân Thức (Nhập)
A Nan! Ví như có người, dùng bàn tay lạnh, chạm vào bàn tay nóng. Nếu thế lực bên lạnh nhiều hơn, thì bên nóng liền lạnh theo. Nếu bên nóng mạnh hơn, thì bên lạnh trở thành nóng. Do đây cảm giác xúc chạm khi hai bàn tay hợp lại, cũng hiển hiện lúc hai bàn tay rời ra. Nếu thế lực nào lớn thì thành, đều do nơi xúc giác mệt mỏi. Cả thân và tướng mệt mỏi, đều là tướng nhìn chằm phát sanh ra mệt mỏi từ thể tánh bồ đề. Nhân nơi hai thứ vọng trần hợp và ly, mà phát ra cảm giác ở bên trong, thu nạp các tướng trần này, gọi đó là tánh giác biết. Thể tri giác này, lìa khỏi hai tướng trần ly-hợp thuận-nghịch, thì hoàn toàn không có tự thể. Như vậy, A Nan! Nên biết cái cảm giác đó, không phải từ ly-hợp mà có, không phải do tướng thuận nghịch mà có, không phải do căn mà ra, cũng không phải do hư không phát sinh. Vì sao như vậy? Nếu lúc hợp mà có, thì đến khi lìa đã bị diệt, làm sao biết được lìa? Hai tướng thuận nghịch cũng lại như vậy. Nếu từ căn mà ra, thì chắc chắn không có bốn tướng ly-hợp, thuận-nghịch. Tức cái cảm giác nhận biết của thân, vốn không có tự tánh. Nếu nhất định do hư không phát sinh, thì hư không tự hay biết, liên quan gì đến “nhập” của Ông! Bởi vậy nên biết, thân nhập là hư vọng, vốn chẳng phải nhân duyên, cũng chẳng phải tánh tự nhiên.
03-06 Ý Nhập
A Nan! Ví như có người mỏi mệt thì ngủ, ngủ đủ rồi thì thức dậy. Nhìn trần cảnh thì nhớ, lúc mất trí nhớ gọi là quên. Các tướng điên đảo sanh trụ dị diệt này, thu nhận huân tập đưa vào bên trong, không vượt khỏi nhau, gọi là ý căn. Cả ý và tướng mệt mỏi, đều cùng là tướng nhìn chằm sanh ra mệt mỏi của tánh bồ đề. Nhân nơi hai thứ vọng trần sanh diệt, tập hợp lại cái biết ở bên trong, thu nạp nội trần; thấy nghe chảy ngược vào trong, chảy không đến đích, gọi là tánh giác biết. tánh giác biết này, lìa khỏi hai trần thức-ngủ, sanh-diệt kia, hoàn toàn không có tự thể. Như vậy A Nan! Nên biết căn của tri giác như vậy, chẳng phải từ thức-ngủ mà có, chẳng phải do sanh diệt mà có, cũng không phải nơi căn phát ra, cũng không phải do hư không sanh khởi. Vì sao như vậy? Vì nếu từ lúc thức mà có, thì lúc ngủ liền diệt theo, lấy ai làm ngủ. Nếu nhất định do sanh mà có, thì lúc diệt cũng đồng với không, lấy ai làm diệt. Nếu từ diệt mà có, thì lúc sanh diệt liền không có, ai biết cái sanh. Nếu từ căn mà có, thì hai tướng thứ và ngủ tùy thân khai hợp, lìa khỏi hai thể này, tánh giác biết này, đồng với đốm hoa trong hư không, rốt ráo không có thể tánh. Nếu từ hư không sanh ra, thì tự hư không biết, liên quan gì đến nhập của Ông. Do đó nên biết, ý nhập hư vọng. Chẳng phải nhân duyên, chẳng phải tánh tự nhiên.
03-07 Lại nữa A Nan! Thế nào gọi là mười hai xứ, vốn là tánh chân như vi diệu Như Lai Tạng?
Mười Hai Xứ
03-08 A Nan! Ông hãy nhìn rừng cây Kì Đà và các suối ao ở đó. Ý Ông nghĩ sao? Những tướng này là sắc sanh sanh ra mắt thấy, hay mắt sanh ra sắc tướng. A Nan! Lại nếu do nhãn căn, sanh ra sắc tướng. Thì khi nhìn thấy hư không chẳng phải sắc, lẽ ra tánh sắc phải diệt mất. Diệt mất thì hiển hiện tất cả đều là không. Sắc tướng đã không, thì ai rõ biết bản chất không. Không cũng như vậy, lại nếu sắc trần, sanh ra cái thấy của mắt, thấy không chẳng phải sắc, cái thấy liền diệt vong. Đã diệt vong thì đều không, lấy ai rõ biết sắc không. Do đó nên biết thấy và sắc không, đều không chỗ có. Tức sắc và cái thấy, cả hai đều là hư vọng, vốn chẳng phải nhân duyên, chẳng phải tánh tự nhiên.
03 -09 A Nan. Ông lại nghe trong vườn Kì Đà này, khi dọn cơm xong thì đánh trống, khi nhóm chúng thì đánh chuông, tiếng chuông tiếng trống, trước sau nối tiếp nhau. Ý Ông nghĩ sao? Những hiện tượng này là âm thanh chạy đến bên lỗ tai, hay lỗ tai chạy đến chỗ âm thanh? A Nan. Nếu âm thanh này, chạy đến bên lỗ tai, thì cũng giống như khi Như Lai đi khất thực trong thành Thất La Phiệt, tức ở trong rừng Kì Đà, không có Như Lai nữa. Âm thanh này tất yếu phải đến chỗ lỗ tai A Nan. Mục Liên Ca Diếp, đều không thể nghe. Huống hồ là một ngàn hai trăm năm mươi vị Sa Môn ở trong đó, một khi nghe tiếng chuông, đều cùng đến chỗ ăn cơm. Lại nếu lỗ tai của Ông, chạy đến chỗ âm thanh kia, giống như Ta trở về ở trong rừng Kì Đà, ở trong thành Thất La Phiệt, sẽ không có Ta nữa. Ông nghe tiếng trống, lỗ tai Ông đã chạy đến chỗ tiếng trống rồi, khi tiếng chuông gióng lên, lẽ ra không thể cùng lúc nghe được. Huống gì trong đó tiếng voi, tiếng ngựa, tiếng trâu, tiếng dê, và nhiều thứ tiếng khác. Nếu không đến đi, cũng lại không nghe. Do đó nên biết, nghe và âm thanh, đều không có xứ sở, vốn dĩ nghe và âm thanh, cả hai chỗ đều hư vọng, vốn chẳng phải nhân duyên, chẳng phải tánh tự nhiên.
A Nan! Ông lại ngửi mùi hương chiên đàn trong lư hương này. Loại hương ấy, chỉ cần đốt một cây, trong vòng 40 dặm của thành Thất La Phiệt đều cùng ngửi được mùi thơm. Ý thầy thế nào? Mùi hương đó phát sinh từ gỗ chiên đàn, từ mũi của thầy, hay từ hư không?
A Nan! Giả sử mùi hương đó phát sanh ra từ mũi của thầy, đã nói là mũi phát sinh, thì mùi hương phải từ mũi mà ra, nhưng mũi không phải là gỗ chiên đàn thì làm sao trong mũi có mùi hương chiên đàn? Nói rằng Thầy ngửi thấy mùi hương, thì mùi hương phải bay vào lỗ mũi, chứ nói mùi hương từ mũi phát ra là lời nói vô nghĩa!
Nếu mùi hương ấy phát sinh từ hư không, thì tánh của hư không là thường hằng, lẽ ra mùi hương cũng phải thường có, cần gì phải đốt miếng gỗ chiên đàn khô trong lư hương này?
Giả sử mùi hương phát sinh từ gỗ chiên đàn, thì chất thơm ấy nhân đốt mà thành khói, nếu mũi ngửi được, lẽ ra khói phải xông đến mũi. Tại sao khói ấy vừa bay lên không chưa được bao xa, mà cả mọi người trong vòng 40 dặm đều đã ngửi thấy được? Bởi vậy nên biết: mùi hương, mũi và cái ngửi đều không có xứ sở; có nghĩa là, cả tị xứ và hương xứ, hai xứ này đều là hư vọng, vốn không phải nhân duyên, cũng không phải tự nhiên.
03-10 A Nan! Ông thường mỗi ngày, cùng đại chúng ôm bình bát khất thực, trong quá trình này hoặc gặp được thí chủ cúng cho các món phô mai giòn, cháo, gọi là các món thượng vị. Ý ông nghĩ sao? Những vị này được sanh ra từ hư không, sanh ra từ lưỡi, hay sanh ra từ trong thức ăn?
A Nan! Nếu những thứ vị ấy, sanh ra từ lưỡi của ông, thì trong miệng ông, chỉ có một cái lưỡi, cái lưỡi lúc ấy đã thành vị phô mai rồi, nếu gặp cục đường đen, lẽ ra không thay đổi. Nếu không thay đổi, thì không gọi là biết vị.
Nếu thay đổi, thì lưỡi chẳng phải nhiều cái, làm sao một cái lưỡi mà biết được nhiều vị?
Nếu từ thức ăn sanh ra, thức ăn không có khả năng nhận biết, làm sao tự biết vị?
Vả lại, nếu thức ăn tự biết, tức giống như người khác ăn, có liên quan gì đến ông, mà gọi là biết vị.
Nếu từ không trung sanh ra, thì ông nếm hư không, xem là vị gì. Nếu nó nhất định là vị mặn, đã mặn thì lưỡi của ông, cũng mặn mặt của ông, thì tất cả mọi người trong thế giới này, giống như cá biển. Đã luôn luôn cảm nhận vị mặn, thì không còn biết vị nhạt nữa. Nếu không biết nhạt, cũng không biết mặn. Chắc chắn không biết gì, sao gọi là vị.
Bởi vậy nên biết: vị, lưỡi và nếm, đều không có xứ sở. Tức nếm và vị, cả hai đều là hư vọng. Vốn không phải nhân duyên, không phải tánh tự nhiên.
03-11 A Nan! Ông thường vào buổi sáng sớm dùng tay xoa đầu, ý ông thế nào? Việc xoa này là do ai biết (năng tri), ai là người có thể chạm, năng này là ở tay, hay là ở đầu? Nếu ở tay, thì đầu sẽ không biết, làm sao thành chạm? Nếu ở đầu, thì tay sẽ vô dụng, làm sao gọi là chạm? Nếu mỗi bên đều có, thì ông A Nan, nên có hai thân. Nếu đầu và tay cùng một (sở) chỗ chạm sinh ra, thì tay và đầu, phải là một thể. Nếu là một thể, thì chạm sẽ không thành. Nếu là hai thể, thì chạm ở chỗ nào? Ở (năng) chỗ có thể thì không phải là chỗ bị chạm (sở), ở chỗ bị chạm (sở) thì không phải là chỗ có thể chạm (năng). Không lẽ hư không cùng ông thành chạm. Vì vậy nên biết, giác xúc và thân, đều không có chỗ ở. Tức thân và xúc, cả hai đều hư vọng. Vốn không phải nhân duyên, không phải tánh tự nhiên.
Ý Và Pháp
03-12 A Nan! Ông thường trong ý nghĩ, duyên theo ba tính thiện, ác, vô ký, mà sinh ra các pháp tắc. Pháp này hoặc là từ tâm mà sinh ra, hoặc là lìa tâm, có chỗ ở riêng?
A Nan! Nếu là từ tâm, thì pháp không phải là trần. Không phải là chỗ duyên của tâm, làm sao thành chỗ ở? Nếu lìa khỏi tâm, có chỗ ở riêng, thì tự tính của pháp, là biết hay không biết? Biết thì gọi là tâm, khác với trần của ông, đồng với tâm lượng của người khác. Tức là tâm của ông, sao lại có hai với ông? Nếu không biết, thì trần này đã không phải là sắc, thanh, hương, vị, lìa hợp, lạnh, nóng, và tướng hư không, thì nên ở đâu? Nay trong sắc và không, đều không có biểu hiện, không ở nhân gian, lại ở ngoài hư không. Tâm không phải là chỗ duyên (sở duyên), (xứ) chỗ ở từ đâu mà lập?
Vì vậy nên biết, pháp và tâm, đều không có chỗ ở (xứ sở). Thì ý và pháp, cả hai đều hư vọng. Vốn không phải nhân duyên, không phải tánh tự nhiên.
Mười Tám Giới
03-13 Lại nữa A Nan. Vì sao gọi là 18 giới, bản tánh Như Lai tạng tánh diệu chân như?
03-14 A Nan! Như điều ông nói: Con mắt lấy sắc làm duyên, sanh ra nhãn thức. Thức này lại nhân nơi con mắt mà sanh ra, lấy con mắt làm ranh giới. Nhân nơi sắc trần mà sanh ra, lấy sắc trần làm ranh giới.
A Nan! Nếu do con mắt sanh ra, không có sắc trần và hư không, thì không thể phân biệt; dù Ông có Thức ấy, nhưng đâu có tác dụng gì! Cái Ông thấy lại chẳng phải xanh, vàng, đỏ, trắng, không thể chỉ ra được, thì căn cứ vào đâu mà lập ranh giới.
Nếu do sắc sanh ra, khi hư không không có sắc trần, Thức của Ông cũng diệt, làm sao Thức biết đó là tánh hư không.
Nếu khi sắc biến đổi, Ông cũng biết được sắc tướng của nó đã biến đổi; Thức của Ông không biến đổi, ranh giới do đâu mà thành lập.
Nếu thức biến đổi theo sắc trần, tướng ranh giới tự sẽ không tồn tại.
Không thay đổi tức thường tồn tại, đã từ sắc mà có, lẽ ra Thức không thể biết chỗ của hư không.
Nếu kiêm cả hai, do con mắt và sắc trần cùng sanh ra, thì hợp tức lìa ở giữa, lìa tức hai bên hợp, thể tánh tạp loạn, làm thế nào để thành ranh giới.
Bởi vậy nên biết, con mắt duyên với sắc trần sanh ra ranh giới nhãn Thức, cả ba chỗ đều không. Tức con mắt và sắc trần, và sắc giới ba thứ này, vốn chẳng phải nhân duyên, chẳng phải tánh tự nhiên.
03-15 A Nan! Lại như những gì Ông nói, nhĩ căn duyên với thanh trần sanh ra nhĩ thức. Thức này lại nhân nơi nhĩ căn mà sanh ra, lấy nhĩ căn làm ranh giới. Nhân nơi thanh trần mà sanh ra, lấy thanh trần làm ranh giới.
A Nan! Nếu do nhĩ căn sanh ra, hai tướng động tĩnh, lại không hiện tiền, căn không thể biết, đã không thể biết, biết còn không thành, Thức làm sao hình thành tướng mạo.
Nếu lỗ tai nghe, nhưng không có động tĩnh, cái nghe không thành. Làm sao đem lỗ tai, xen tạp sắc xúc trần, gọi đó là thức giới. Tức ranh giới của Nhĩ Thức, lại do đâu mà hình thành.
Nếu do âm thanh mà sanh ra, thức do âm thanh mà có, tức không liên quan đến tánh nghe; không nghe tức mất, tướng âm thanh không tồn tại. Thức từ âm thanh sanh ra, cho phép âm thanh do nghe mà có tướng âm thanh, thì tánh nghe nên nghe được thức, nếu không nghe tức chẳng có ranh giới. Nghe được tức đồng với âm thanh, Thức đã được nghe, thì cái nào nghe biết Thức. Nếu không người biết, cuối cùng như cây cỏ.
Không lẽ âm thanh và nhĩ căn xen lẫn thành ranh giới ở giữa. Ranh giới không có phương vị ở giữa, thì tướng trong ngoài, lại từ đâu sanh ra.
Bởi vậy nên biết: nhĩ căn duyên với thanh trần, sanh ra Nhĩ Thức Giới, cả ba chỗ đều không. Tức lỗ tai và âm thanh, cho Thanh giới cả ba, vốn chẳng phải nhân duyên, cũng chẳng phải tánh tự nhiên.
03-16 A Nan. Lại như lời Ông nói: Tị căn duyên với Hương trần sanh ra Tị thức. Thức này lai do Tị căn sanh ra, lấy Tị căn làm ranh giới. Hay do Hương trần sanh ra, lấy Hương trần làm ranh giới.
A Nan. Nếu do Tị căn sanh ra, tức trong tâm ông, lấy gì là Tị căn. Là lấy tướng của khúc thịt như đôi móng tay, hay lấy cái tánh biết ngửi dao động.
Nếu lấy hình khúc thịt, chất thịt thuộc về thân, thân biết tức là xúc, gọi là thân chứ chẳng phải Tị, gọi là xúc tức là trần. Tị còn không có tên gọi, làm sao thành lập ranh giới.
Nếu lấy tánh ngửi biết, lại theo ý ông, lấy gì để biết.
Nếu khúc thịt biết, tức cái biết của thịt, vốn là xúc không phải Tị.
Nếu lấy hư không làm tánh biết, thì hư không tự biết, thịt sẽ không biết. Như vậy lẽ ra hư không chính là Ông, nhưng thân ông chẳng biết. A Nan hiện tại, lẽ ra không có.
Nếu lấy hương làm tánh biết, tánh biết tự thuộc về hương, đâu liên quan gì đến Ông. Nếu mùi thơm hôi, nhất định từ mũi Ông sanh ra, thì hai thứ mùi thơm hôi kia, không phải phát sinh từ cây Y Lan và Chiên Đàn. Hai vật này không có, Ông tự ngửi mũi mình, là thơm hay là hôi, hôi tức không phải thơm, thơm thì chẳng phải hôi, nếu cả hai mùi thơm hôi đều có thể ngửi, thì một thân ông, nên có hai lỗ mũi. Hỏi đạo với Ta, có hai A Nan, ai là thân Ông. Nếu mũi là một, thơm hôi không hai, hôi tức là thơm, thơm lại thành hôi. Hai tánh không có, ranh giới từ đâu thành lập.
Nếu do Hương sanh ra, Thức này do Hương mà có, giống như cái thấy do con mắt sinh ra, thì không thể thấy con mắt. Vì do hương mà có, nên lẽ ra không biết được Hương; Biết được Hương tức chẳng phải do hương sanh ra. Nếu không biết thì không phải Thức.
Hương không có khả năng biết, thì ranh giới của Hương không thành. Thức không biết hương, do giới chẳng thành, từ Hương kiến lập, đã không ở giữa, trong ngoài không thành, các tánh ngửi kia, thảy đều hư vọng.
Bởi vậy nên biết, Tị căn duyên với hương trần, sanh ra thức giới, ba chỗ đều không. Tức cả ba thứ Tị và Hương, cho đến Hương giới, vốn chẳng phải nhân duyên, chẳng phải tánh tự nhiên.
03-17 A Nan! Lại như điều Ông đã nói: Lưỡi lấy vị làm duyên, sanh ra thiệt thức. Cái thức này do lưỡi mà sanh ra, lấy lưỡi làm ranh giới? Hay do vị sanh ra, lấy vị làm ranh giới? A Nan! Nếu do lưỡi sanh ra, thì ở trong thế gian, tất cả các loại vị như vị ngọt của mía, vị chua của ô-mai, vị đắng của hoàng-liên, vị mặn của muối, vị cay của tế-tân, gừng, quế vân vân, đều không có vị; Ông tự nếm lưỡi mình, là ngọt hay đắng? Nếu lưỡi là tánh đắng, thì cái gì đã nếm cái lưỡi? Lưỡi không tự nếm nó được, thì cái gì giác biết? Nếu tánh của lưỡi không phải đắng, vị không tự sanh, làm sao lập ranh giới. Nếu do vị sanh ra, thức tự là vị, đồng với thiệt căn, lẽ ra không thể tự nếm được, làm sao Thức biết có vị hay không có vị? Vả lại, tất cả các vị, không phải chỉ do một vật sinh ra. Vị đã do nhiều vật sinh ra, thì Thức cũng phải có nhiều thể. Nếu thể của Thức chỉ có một, thể ấy nhất định do vị sanh ra, thì mặn, nhạt, ngọt, cay, hòa hợp cùng sinh ra, các tướng biến đổi sai khác, cùng là một vị, thì phải không thể phân biệt. Đã không có phân biệt, thì không gọi là Thức; làm sao lại nói là thiệt giới, vị giới và thức giới? Chẳng lẽ hư không đã sinh ra tâm thức của Ông?
Nếu thiệt căn hòa hợp với vị trần, tức ở trong đó, vốn không có tự tánh, làm sao sanh giới. Bởi vậy nên biết: thiệt căn duyên với vị trần, sanh ra thiệt thức giới, ba chỗ đều không. Tức Lưỡi và vị, cho đến thiệt thức giới vốn không phải nhân duyên, cũng không phải tánh tự nhiên.
Thân, Xúc, Thân Thức Giới
03-18 A Nan! Lại như điều Ông đã nói: thân duyên với xúc, sanh ra thân thức. Thức này lại do thân sanh ra, lấy thân căn làm giới. Hay do xúc sanh ra, lấy xúc làm giới.
A Nan! Nếu do thân sanh ra, nhưng nhất định không có hai thứ cảm giác hợp và lìa làm duyên, thì thân làm thế nào nhận biết.
Nếu do xúc sanh ra, nhưng nhất quyết không có thân của Ông, thì có ai không có thân mà biết được cảm xúc hợp, lìa?
A Nan! Vật không biết xúc, thân biết có xúc. Biết thân tức là xúc, biết xúc tức là thân. Tức xúc chẳng phải thân, tức thân chẳng phải xúc.
Hai tướng thân và xúc, vốn không chỗ có. Hợp với thân tức lấy thân làm thể tánh, lìa khỏi thân tức đồng với tướng hư không. Trong ngoài không thành, ở giữa làm sao thành lập, giữa không thể lập, trong ngoài tánh không. Tức Thức của ông sanh, từ chỗ nào lập giới.
Bởi vậy nên biết: thân căn duyên với xúc trần, sanh ra thân thức giới, cả ba chỗ đều không. Tức cả ba thân giới, xúc giới và thân thức giới , vốn chẳng phải nhân duyên, cũng chẳng phải tánh tự nhiên.
Ý, Pháp, Ý Thức Giới
03-19 A Nan. Lại như lời ông nói: ý căn duyên với pháp trần, sinh ra ý thức. Thức này lại do ý căn mà sanh ra, lấy ý căn làm ranh giới, hay do pháp trần sanh ra, lấy pháp trần làm ranh giới.
A Nan. Nếu do ý sanh ra, ở trong ý của ông, chắc chắn phải có chỗ suy nghĩ, mới phát rõ ý ông. Nếu không có pháp trần, thí ý không có chỗ sanh. Lìa duyên không có hình tướng, thức làm sao khởi tác dụng? Vả lại tâm thức, và những sự suy nghĩ đo lường của ông, kiêm tánh rõ biết, là giống nhau hay khác nhau. Giống với ý tức là ý, làm sao nó tự sanh ra. Không đồng với ý, lẽ ra không có chỗ nhận biết, nếu không chỗ nhận biết, sao gọi là ý sanh. Nếu có chỗ nhận biết, sao gọi là thức ý. Duy chỉ giống và khác, hai tánh không thành, giới lập chỗ nào. Nếu do pháp trần sanh ra, các pháp trong thế gian, không lìa khỏi năm trần. Ông quán sát sắc pháp, cho đến các thanh pháp, hương pháp, vị pháp, cho đến xúc pháp, tướng trạng phân minh, dùng nó đối với năm căn, không thuộc ý thu nhiếp. Nếu thức của Ông nhất định y nơi pháp trần sanh ra, thì giờ đây Ông hãy quán sát thật kĩ, các pháp tướng trạng như thế nào?
Nếu lìa sắc không, động tĩnh, thông, bít, hợp, lìa, sanh, diệt, lìa khỏi các tướng này, rốt ráo không chỗ đắc. Sanh tức sắc không các pháp đó sanh. Diệt tức sắc không các pháp đó diệt. Chỗ nhân đã không, nhân sanh có thức, tạo thành hình tướng gì. Tướng trạng không có, giới sanh chỗ nào.
Bởi vậy nên biết: ý căn duyên với pháp trần sanh ra ý thức giới, cả ba chỗ đều không; Tức cả ba ý và pháp cho đến ý giới, vốn không phải nhân duyên, cũng không phải tánh tự nhiên.
03-20 A Nan bạch đức Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn. Như Lai thường nói về pháp "nhân duyên hòa hợp", tất cả thế gian đủ các thứ biến hóa, đều do bốn đại hòa hợp mà phát sanh ra. Tại sao Như Lai lại bác bỏ cả hai tánh nhân duyên và tự nhiên? Nay Con thật không biết, nghĩa lí ấy như thế nào, cúi xin đức Thế Tôn thương xót, khai thị cho chúng sanh, liễu nghĩa trung đạo, dứt các pháp hí luận.
03-21 Lúc bấy giờ đức Thế Tôn, bảo A Nan rằng: Ông trước đã nhàm lìa các pháp tiểu thừa của hàng Thanh văn, Duyên giác, phát tâm cần cầu vô thượng bồ đề. Do đó nay Ta, sẽ vì Ông khai thị "đệ nhất nghĩa đế”. Tại sao lại đem những hí luận của thế gian, nhân duyên vọng tưởng, để tự trói buộc mình. Ông tuy đa văn, nhưng như người chỉ giỏi nói tên các vị thuốc, khi có thuốc thật ngay trước mặt, lại không phân biệt được. Như lai gọi đó là người thật đáng thương xót! Bây giờ Ông hãy lắng nghe cho kĩ, Ta sẽ vì Ông, khai thị rõ ràng. Cũng khiến những người tu hành Đại Thừa trong đời tương lai, thông đạt thật tướng. A Nan lặng yên, tiếp nhận thánh chỉ của Phật.
Bảy Đại
03-22 A Nan. Như Ông đã nói, bốn đại hòa hợp, phát sinh ra mọi hiện tượng biến hóa trong thế gian. A Nan. Nếu tánh của bốn đại kia, thể không hòa hợp, thì không thể hòa lẫn với các đại khác; cũng giống như hư không, không hòa hợp được với các sắc tướng. Nếu là hòa hợp, thì đồng với biến hóa, từ đầu đến cuối hỗ trợ nhau mà thành, sanh diệt tương tục, sanh tử tử sanh, sanh sanh tử tử, như vòng lửa quay tròn, chưa hề ngưng nghỉ. A Nan, như nước đóng thành băng, băng trở lại thành nước.
Đất
Ông hãy quán sát tánh của Đất, thô là đất liền, nhỏ là hạt bụi vi trần, nhỏ nữa là lân hư trần, phân tích cực vi trần kia, tướng biên tế của sắc, chia làm bảy phần, lại chia lân hư, tức tánh thật không.
A Nan, nếu lân hư này, phân thành hư không, nên biết hư không, sanh ra sắc tướng.
Nay Ông hỏi rằng, vì do hòa hợp, sanh ra các tướng biến hóa trong thế gian, thì Ông hãy quan sát một hạt lân hư trần, phải dùng bao nhiêu hư không, hòa hợp lại mà có. Không lẽ lân hư, hợp lại thành lân hư. Lại nữa, lân hư trần đã có thể phân chia thành hư không, thì phải dùng bao nhiêu sắc tướng, để hợp thành hư không. Nếu khi sắc hợp, hợp sắc chẳng phải không. Nếu khi không hợp, hợp không chẳng phải sắc, sắc còn có thể phân chia, không làm sao hợp.
Ông vốn không biết trong Như Lai tạng, tánh của sắc là chân không, tánh của không là chân sắc, xưa nay vốn thanh tịnh, biến khắp pháp giới. Tùy theo tâm của chúng sanh, ứng sở tri lượng, theo nghiệp hiện hành. Thế gian không biết, lầm cho là nhân duyên, và tánh tự nhiên, đó đều là tâm Thức, phân biệt đo lường, nếu có nói ra, hoàn toàn không có nghĩa chân thật.
Hỏa Đại
03-23 A Nan. Tánh của HỎA (lửa) là vô ngã, nương vào các duyên. Ông xem ở trong thành những nhà chưa nấu cơm, khi muốn có lửa, tay cầm cái kính dương toại, đưa thẳng trước ánh nắng mặt trời mà lấy lửa.
A Nan. Cái gọi là hòa hợp, thì Ta và ông, cùng 1.250 Tỳ Kheo đây, bây giờ hợp thành một chúng. Chúng tuy chỉ có một, nhưng xét từ nguồn gốc, mỗi người mỗi thân, đều có nơi sinh, gia tộc tên tuổi riêng. Như Xá Lợi Phất, thuộc dòng Bà-la-môn, Ưu Lâu Tần Loa thuộc họ Ca-diếp-ba, cho đến A Nan thuộc họ Cồ-đàm.
A Nan. Nếu tánh lửa này, do hòa hợp mà có, thì khi người kia cầm cái kính đưa thẳng lên ánh nắng mặt trời để lấy lửa, lửa ấy là từ trong cái kính phát ra, hay từ nắm cỏ mà có, hay từ mặt trời mà đến?
A Nan. Nếu từ mặt trời đến, tự nó có thể đốt cháy nắm cỏ trong tay ông, thì bao nhiêu rừng cây mà ánh nắng mặt trời chiếu qua, lẽ ra đều phải bị đốt cháy.
Nếu từ trong kính phát ra, thì tự trong cái kính có thể phát ra đốt cháy nắm cỏ, vậy tại sao kính không bị tan chảy. Hơn nữa tay ông cầm cái kính, còn không thấy nóng, thì làm sao cái kính có thể bị chảy được.
Nếu do nơi nắm cỏ mà có, thì cần gì phải nhờ cái kính tiếp nhận ánh nắng mặt trời, sau đó mới sinh ra lửa. Ông lại quán sát cho kĩ, cái kính thì do tay cầm, mặt trời thì ở trên trời chiếu xuống, nắm cỏ từ đất sinh ra, vậy lửa đã từ phương nào đi đến đây. Mặt trời và cái kính ở cách nhau rất xa, không có hòa, không có hợp, không lẽ ánh lửa, không do đâu mà tự nhiên có.
Ông vốn không biết trong Như Lai tạng, tánh của lửa là chân không, tánh của không là thật hỏa, xưa nay vốn thanh tịnh, biến khắp pháp giới, tùy theo tâm của chúng sanh, ứng sở tri lượng. A Nan! Nên biết người trong thế gian, một chỗ cầm kính, chỗ kia có lửa, cầm khắp pháp giới, khắp thế gian bốc lửa. Lửa dậy khắp thế gian, đâu có nơi chỗ nào nhất định, tùy theo nghiệp mà triển hiện.
Nhưng thế gian không biết, lầm cho là nhân duyên, và tánh tự nhiên. Đều là tâm thức, phân biệt đo lường. Nếu có nói ra, hoàn toàn không có ý nghĩa chân thật.
Thủy Đại
03-24 A Nan. Tánh của THỦY (nước) không nhất định, tuôn chảy hay đứng lặng không thường hằng. Như trong thành Thất-la-phiệt, đạo sĩ Ca Tì La, Chước Ca La, và các nhà đại ảo thuật Bát Đầu Ma, Ha Tát Đa vv…, muốn luyện thái âm tinh để hòa vào các thứ thuốc ảo thuật, những nhà ảo thuật này, vào đêm trăng sáng như ban ngày, tay cầm viên ngọc đi khắp nơi, để lấy nước trong ánh sáng trăng. Vậy, nước này từ trong hạt ngọc mà ra, từ không không mà có, hay từ mặt trăng mà đến.
A Nan. Nếu từ mặt trăng đến, từ phương xa mà còn có thể làm cho hạt ngọc chảy nước ra, thì ánh trăng đi qua tất cả rừng cây, lẽ ra đều phải chảy nước ra. Chảy nước ra thì chỗ nào có ngọc đều có thể lưu xuất ra. Không chảy ra, thì nước trong chẳng phải từ ánh trăng mà tuôn xuống. Nếu từ viên ngọc ra, thì trong viên ngọc này, phải thường chảy ra nước, sao phải đợi đến nữa đêm rằm nhờ ánh trăng sáng như ban ngày. Nếu từ hư không sinh ra, tánh không vô biên, nước sẽ không bờ bến, vậy thì tất cả trời và người đều bị ngập chìm trong biển nước mênh mông. Tại sao lại còn có các loài khác nhau bơi dưới nước, đi trên đất liền, bay trong hư không?
Ông càng quán sát cho kĩ, mặt trăng treo trên bầu trời, hạt ngọc được cầm trong tay người, cái đĩa hứng nước từ hạt ngọc, vốn do người sắp đặt, vậy nước kia từ phương nào đến, chảy ra từ chỗ này. Mặt trăng và hạt ngọc ở cách nhau rất xa, không phải hòa, không phải hợp, không lẽ tinh nước kia không do đâu mà tự có.
Ông vốn không biết, trong Như Lai Tạng, tánh nước chân thật là không, tánh không chân thật là nước, xưa nay vốn thanh tịnh, biến khắp pháp giới. Tùy theo tâm của chúng sanh, ứng sở tri lượng. Một nơi cầm hạt ngọc, một nơi có nước. Cầm ngọc khắp pháp giới, khắp pháp giới sanh ra nước; nước sanh đầy khắp thế gian, đâu có nơi chốn nào nhất định, tuần hoàn theo nghiệp mà hiển hiện. Thế gian vô tri, lầm cho là nhân duyên, hoặc tánh tự nhiên. Đều là tâm thức, phân biệt đo lường. Nếu có nói năng gì, hoàn toàn không có nghĩa chân thật.
Phong Đại
03-25 A Nan. Tánh gió không có tự thể, động tĩnh bất thường. Ông thường chỉnh Y đi vào trong đại chúng, góc y Tăng Già Lê dao động chạm vào người kế bên, liền có làn gió nhẹ phất qua mặt người kia. Làn gió này phát ra từ góc y Ca Sa, hay phát ra từ hư không, hay sanh ra từ mặt người kia.
A Nan! Nếu gió ấy phát ra từ góc y Ca Sa, thì Ông mặc luôn cả gió, chiếc y lẽ ra phải bay tung ra, lìa khỏi thân Ông. Nay Ta rũ y xuống ở trong hội chúng thuyết pháp. Ông nhìn xem chiếc y của Ta, gió ở chỗ nào? Không lẽ ở trong chiếc y, có chỗ chứa gió.
Nếu từ hư không sanh ra, y của ông không lay động, sao không phất gió. Tánh của hư không là thường trụ, thì gió phải thường sanh ra. Nếu khi không có gió, thì hư không phải diệt mất. Gió diệt mất thì có thể thấy biết được, còn hư không diệt mất thì hình trạng như thế nào. Nếu đã có sanh có diệt, thì không gọi là hư không. Đã gọi là hư không, thì làm sao phát sanh ra gió. Nếu gió tự sanh ra từ mặt của người bị phất, gió từ mặt người kia sanh ra, thì lẽ ra phải phất vào Ông. Tự Ông chỉnh Y, tại sao phất ngược lại. Ông hãy quan sát cho kĩ, người chỉnh y là Ông, cái mặt thuộc của người kia, hư không thì yên tĩnh, không hề lay động, vậy gió từ phương nào mà chuyển động đến đây. Tánh của gió và tánh của hư không cách biệt, không phải hòa, không phải hợp; không lẽ tánh gió, không do đâu mà tự có. Ông vốn không biết trong Như Lai Tạng, tánh của gió chân thật là không, tánh của không chân thật là gió, xưa nay vốn thanh tịnh, biến khắp pháp giới, tùy theo tâm của chúng sanh, ứng sở tri lượng. A Nan, Như một mình Ông động nhẹ y phục, có gió nhẹ sanh ra. Biến khắp pháp giới phất, khắp cõi nước sanh, biến khắp thế gian, không có nơi chỗ nhất định, tuần hoàn theo nghiệp mà hiển hiện. Thế gian vô tri, mê lầm cho là nhân duyên, và tánh tự nhiên. Đều là tâm Thức, phân biệt đo lường. Nếu có nói năng gì, đều không có nghĩa chân thật.
Không Đại
03-26 A Nan. Tánh hư KHÔNG là vô hình, nhân sắc mà hiển hiện. Như thành Thất La Phiệt, ở cách xa sông, những người trong các dòng Sát Đế Lợi, và Bà La Môn, Tì Xá, Thủ Đà, kể cả họ Phả La Đọa, Chiên Đà La, khi cất nhà mới, họ phải đào giếng để lấy nước. Đào lên được một thước đất, thì trong đó có một thước hư không. Như vậy cho đến khi đào lên được một trượng đất, thì trong đó vẫn có một trượng hư không. Hư không sâu cạn, tùy theo đào lên bao nhiêu. Hư không này nhân nơi đất mà sanh ra, do đào mà có, hay không do đâu cả mà tự nó sanh ra.
A Nan. Nếu khoảng hư không này, không do đâu mà nó tự phát sinh, thì khi chưa đào đất, sao không trống rỗng, mà chỉ thấy toàn đất liền, đều không thông suốt.
Nếu do đất sinh ra, thì khi đào đất lên, phải thấy hư không đi vào. Nếu đất đã đào lên rồi, mà không thấy hư không đi vào, làm sao gọi là hư không nhân nơi đất mà sinh ra.
Nếu không ra không vào, thì lẽ ra hư không và đất vốn không khác nhau, không khác tức là giống nhau, thì khi đào đất ra, sao hư không không ra theo.
Nếu do đào mà có, thì phải đào ra hư không, chứ không phải đào ra đất.
Nếu đào tự ra đất, thì tại sao thấy hư không.
Ông nên quán xét cho thật kĩ càng, nhìn cho thật kĩ thẩm xét thật thấu, đào là do tay người, tùy theo phương hướng vận chuyển, đất theo đó mà di dời, như vậy thì hư không, từ đâu mà ra.
Đào và hư không, một cái thật một cái hư, không tác dụng lẫn nhau, không phải hòa, không phải hợp, không lẽ hư không, không do đâu mà tự có.
Nếu hư không này, tánh viên mãn biến khắp, vốn không dao động.
Phải biết rằng hiện tại đất, nước, lửa, gió, gọi chung là "năm đại". Tánh vốn chân thật viên dung, đều là Như Lai Tạng, vốn không sanh không diệt.
A Nan. Tâm Ông mê muội, không tỏ ngộ bốn đại vốn là Như Lai Tạng. Nên quán sát hư không, dù ra hay vào, chẳng phải ra chẳng phải vào. Ông hoàn toàn không biết trong Như Lai Tạng, Tánh giác chân không, tánh không chân giác, vốn dĩ thanh tịnh, biến khắp pháp giới. Tùy tâm chúng sanh, ứng sở tri lượng.
A Nan, cũng như hư không trong một cái giếng, hư không sanh trong một giếng. Mười phương hư không, cũng lại như vậy. Viên mãn mười phương, không có nơi chỗ nhất định, theo nghiệp hiển hiện. Thế gian vô tri, mê hoặc cho là nhân duyên và tánh tự nhiên, đều là tâm thức, phân biệt đo lường, nếu có nói năng, đều không thực nghĩa.
Kiến Đại
03-27 A Nan. Thấy biết vô tri, nhân sắc không mà có. Như Ông hiện đang ở rừng Kì-đà, bình minh thì sáng, hoàng hôn thì tối. Giả như đêm khuya, có trăng thì sáng, không trăng thì tối. Các tướng sáng tối, do thấy mà phân biệt. Cái thấy này cùng với tướng sáng tối, và cả hư không, là cùng một thể, hay chẳng phải một thể. Là giống nhau, hay không giống nhau. Hoặc là khác hay chẳng phải khác.
A Nan. Nếu cái thấy này cùng với sáng, tối và hư không vốn cùng một thể. Thì tướng sáng và tối này, cả hai thể đều mất.
Lúc tối thì không sáng, lúc sáng thì chẳng tối.
Nếu cùng tướng tối hợp nhất, thì lúc sáng cái thấy sẽ diệt mất.
Nếu nhất định một thể với sáng, thì lúc tối sẽ diệt mất. Đã diệt mất thì sao gọi là thấy sáng thấy tối.
Nếu sáng tối khác biệt, tánh thấy không sanh diệt, làm sao thành một thể.
Nếu tánh thấy tinh anh này, cùng với tướng sáng tối, không đồng một thể. Ông lìa khỏi sáng tối và hư không, phân tích tánh thấy vốn có, hình tướng thế nào.
Lìa khỏi sáng tối và lìa khỏi hư không, tánh thấy này vốn đồng như lông rùa sừng thỏ.
Sáng, tối và hư không, cả ba việc đều khác, tánh thấy do đâu mà kiến lập.
Tướng sáng tối trái ngược nhau, sao gọi là "đồng".
Lìa khỏi ba thứ này vốn không, sao gọi là khác.
Phân hư không phân tánh thấy, vốn không ranh giới, sao gọi là chẳng đồng.
Thấy tối thấy sáng, tánh chẳng đổi dời, sao gọi là chẳng phải khác.
Ông hãy thẩm xét thật kĩ, thật tỉ mĩ, tường tận: tướng sáng là từ mặt trời, tướng tối là do đêm không trăng, tướng thông suốt thuộc về hư không, tướng ngăn bít thuộc về đại địa, như vậy tánh thấy tinh anh này, do đâu mà sinh ra. Tánh thấy thì hay biết, hư không thì không biết gì, không phải hòa, không phải hợp, chẳng lẽ tánh thấy tinh anh này, không do đâu mà tự có.
Như thấy nghe biết, tánh viên mãn châu biến, vốn không dao động. Nên biết hư không vô biên không dao động, và bốn yếu tố dao động đất, nước, lửa, gió, gọi chung là "sáu đại". Tánh chân thật viên dung, đều là Như Lai Tạng, vốn không sanh diệt. A Nan! Tâm tánh của Ông trầm luân, không tỏ ngộ được những sự thấy nghe giác biết của ông, vốn là Như Lai Tạng. Ông nên quán sát những sự thấy nghe giác biết này, là sanh hay là diệt? Là đồng hay khác? Hay không phải sanh diệt? Hoặc là không phải đồng, không phải khác?
Ông chưa từng biết, trong Như Lai Tạng, tánh thấy giác biết rõ ràng, tánh giác rõ thấy, xưa nay vốn thanh tịnh, biến khắp pháp giới. Tùy theo tâm của chúng sanh, ứng sở tri lượng. Như một nhãn căn, tánh thấy biến khắp pháp giới. Nghe, ngửi, nếm, xúc, giác xúc giác tri, diệu đức rõ ràng, biến khắp pháp giới, viên mãn mười phương hư không, không có nơi chỗ nhất định, tuần hoàn theo nghiệp mà hiển hiện. Nhưng thế gian không biết, mê hoặc cho là nhân duyên, và tánh tự nhiên, đều là thức tâm, phân biệt đo lường. Dù có nói năng, đều không thật nghĩa.
Thức Đại
03-28 A Nan. Tánh Thức không có nguồn gốc, nhân nơi sáu thứ căn trần mà vọng sanh. Nay Ông hãy nhìn khắp Thánh chúng trong pháp hội này. Dùng mắt nhìn quanh. Mắt này nhìn khắp, nhưng chỉ như hình ảnh trong gương, không mảy may sai khác. Ở trong Thức này của Ông, thứ tự chỉ ra, đây là Văn Thù, đây là Phú Lâu Na, đây là Mục Kiền Liên, đây là Tu Bồ Đề, đây là Xá Lợi Phất. Thức này rõ biết, là từ cái thấy sanh ra, là từ tướng sanh ra, hay từ hư không sanh ra, là không có chỗ nhân mà đột nhiên sanh ra?
A Nan. Nếu tánh thức của Ông, do cái thấy sanh ra, như không có các tướng sáng, tối, và sắc, không, bốn thứ này nhất định không có, vốn không có tánh thấy của Ông, tánh thấy còn không có, thức do đâu mà phát sanh?
Nếu tánh thức của Ông, do các tướng sanh ra, không phải do thấy sanh, đã không thấy sáng, cũng không thấy tối; sáng tối đã không thấy, tức cũng không có sắc và không. Các tướng kia còn không có, thì thức do đâu mà sanh ra?
Nếu từ hư không sanh ra, không phải tướng không phải thấy, không phải thấy thì không phân biệt, tự không thể biết được, sáng, tối, sắc, không, không phải tướng diệt duyên, thấy nghe giác biết, không có chỗ an lập. Chẳng phải hai chỗ này (thấy, tướng), không tức đồng với không có, có thì chẳng phải đồng như vật. Cho dù phát khởi Thức của ông, lấy gì phân biệt.
Nếu không chỗ nhân, đột nhiên sanh ra, sao mặt trời không phân biệt nhận thức được mặt trăng.
Ông hãy suy xét thật kĩ càng, suy xét tường tận, thấy nương vào con mắt của ông, tướng thì trả về tiền cảnh, có tướng trạng thành có, không tướng thành không, Thức duyên như vậy, do đâu sanh ra. Thức động Thấy tĩnh, chẳng phải hòa chẳng phải hợp. Sư nghe giác biết, cũng lại như vậy, không lẽ Thức duyên, không do đâu mà tự sanh.
Nếu Tâm Thức này, vốn không do đâu, thì nên biết rằng, biết rõ Thấy Nghe Giác Biết, viên mãn tịch nhiên, tánh chẳng chỗ sanh. Bao gồm cả Hư Không Đất Nước Lửa Gió, gọi chung là Bảy Đại. Tánh chân thật viên dung, đều là Như Lai Tạng, vốn không sanh diệt.
A Nan. Tâm Ông còn nông cạn, không ngộ Thấy Nghe, phát biết rõ ràng, vốn Như Lai Tạng. Ông nên quán sát, Tâm Thức sáu xứ, là đồng hay khác? Là không hay có? Là chẳng phải đồng chẳng phải khác? Hay là chẳng phải không chẳng phải có? Ông vốn không biết, trong Như Lai Tạng, Tánh Thức rõ biết, giác rõ chân thật nhận biết (thức), diệu giác trạm nhiên, biến khắp pháp giới. Bao hàm khắp mười phương, không có nơi chỗ nhất định, theo nghiệp hiển hiện. Thế gian vô tri, mê hoặc cho là nhân duyên, và tánh tự nhiên, đều là tâm thức, phân biệt đo lường, dù có nói năng, đều không thật nghĩa.
03-29 Lúc bấy giờ, A Nan cùng tất cả đại chúng, được đức Như Lai, khai thị vi diệu, thân tâm thản nhiên, được vô quái ngại. Các đại chúng này, mỗi người tự biết, tâm biến khắp mười phương. Thấy mười phương hư không, như nhìn chiếc là cầm trong lòng bàn tay. Tất cả mọi vật trong thế gian, đều là Tâm Bồ Đề Diệu minh vốn có. Tâm tánh biến khắp viên mãn, bao hàm khắp mười phương. Trở lại nhìn thân do cha mẹ sanh, như mười phương kia, ở trong hư không, thổi một hạt vi trần, hoặc tồn hoặc vong. Như trong biển lớn, chảy một bong bóng, sanh diệt không chỗ nương. Tự nhiên biết rõ, được tâm bổn diệu, thường trụ không diệt. Chắp tay lễ Phật, được chưa từng có. Ở trước Như Lai, nói kệ tán Phật.
03-30 Diệu trạm Tổng trì bất động Tôn
Thủ Lăng Nghiêm Vương trên đời thật hiếm có,
Diệt vọng tưởng điên đảo ức kiếp của con
Chẳng trải qua tăng kì mà được pháp thân,
Nguyện con nay đắc quả trở thành Bảo vương,
Trở lại cứu độ chúng sanh như hằng sa,
Dùng thâm tâm này phụng sự khắp quần sanh,
Đó mới được gọi là báo đáp ân Phật
Cúi xin Thế Tôn vì con mà chứng minh,
Đời ác năm trược con xin thề vào trước,
Nếu có một chúng sanh vẫn chưa thành Phật,
Con không ở đó mà chứng nhập Niết Bàn,
Đức Phật Đại hùng, Đại lực, Đại từ bi,
Mong được xét trừ nghiệp phiền não vi tế,
Khiến con sớm chứng bậc Vô Thượng Giác,
Ngồi trong đạo tràng khắp mười phương thế giới
Tánh Thuấn-Nhã-Đa có thể bị diệt vong,
Nhưng tâm Thước-Ca-La không hề chuyển động
04-01 Lúc bấy giờ, Phú Lâu Na Di Đa La Ni Tử, ở trong đại chúng, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trạch vai áo bên phải, đầu gối chân phải quì xuống đất, chắp tay cung kính, mà bạch Phật rằng: Thế Tôn oai đức lớn. Khéo vì chúng sanh diễn nói Như Lai Đệ Nhất Nghĩa Đế. Thế Tôn thường dạy rằng, trong những người thuyết pháp, con là người đứng đầu. Nhưng hôm nay nghe pháp âm vi diệu của Như Lai, con như người điếc, bước xa ngoài trăm bước, lắng nghe tiếng muỗi vo ve, hình dáng còn không thấy được, huống gì là nghe được tiếng. Đức Phật tuy đã chỉ dạy rõ ràng, khiến cho con dứt trừ mê hoặc; nhưng hôm nay con vẫn chưa hiểu tường tận nghĩa lí cứu cánh không còn chỗ nghi hoặc. Như Lai còn dạy: đất, nước, lửa, gió, bổn tánh viên dung, biến khắp pháp giới, trong lặng thường trú. Thế Tôn! Nếu tánh của đất là biến khắp, làm sao dung được nước. Nếu tánh của nước là biến khắp, thì lửa không thể sanh. Vậy tại sao lại nói rõ ràng hai tánh của nước và lửa đều biến khắp hư không, không xâm lấn và tiêu diệt lẫn nhau. Thế Tôn! Tánh của đất là chướng ngại, tánh của Hư không là thông rỗng, làm sao cả hai đều biến khắp pháp giới. Hơn nữa nghĩa lí này con chưa hiểu thấu. Cúi xin đức Như Lai, phát lòng đại từ, khai mở đám mây mê muội cho con và cả đại chúng! Nói lời ấy xong, năm vóc gieo xuống đất, cung kính khát ngưỡng chờ nghe lời dạy từ bi vô thượng của Như Lai.
04-02 Lúc bấy giờ Thế Tôn bảo Phú Lâu Na, cùng các vị A-la-hán vô học tận sạch các lậu trong pháp hội rằng. Hôm nay Như Lai sẽ vì khắp toàn thể hội chúng, tuyên thuyết trong nghĩa lí thù thắng, tánh nghĩa chân thật thù thắng. Khiến các ông trong hội chúng này, hàng định tánh Thanh văn, và tất cả các vị A-la-hán chưa chứng đắc nhị không hồi tâm hướng lên Phật thừa tối thượng, đều được chỗ Nhất thừa tịch diệt, chân a lan nhã, chỗ tu hành chân thật. Ông nay lắng nghe, Như Lai sẽ vì ông mà nói. Phú Lâu Na cùng đại chúng, kính vâng pháp âm Phật dạy, yên lặng lắng nghe tiếp nhận.
04-03 Đức Phật dạy: Phú Lâu Na. Như lời Ông nói, bổn nhiên thanh tịnh, tại sao bỗng dưng sanh ra núi, sông, đất liền. Ông không thường nghe Như Lai tuyên thuyết, tánh giác diệu minh, bổn giác minh diệu sao?
Phú Lâu Na thưa: Vâng, thưa Thế Tôn! Con thường được nghe Phật tuyên thuyết nghĩa này.
Phật nói: Theo Ông là giác minh, hay là tánh minh? Gọi đó là giác, giác này không minh, gọi là minh giác.
Phú Lâu Na thưa. Nếu cái này không minh, gọi đó là giác, tức không chỗ minh.
Phật nói: Nếu không chỗ minh, tức vô minh giác. Có chỗ thì không phải giác, không có chỗ thì không phải minh. Vô minh lại chẳng phải bản tánh giác sáng suốt. Tánh giác nhất định phải sáng suốt, vọng làm minh giác. Giác chẳng phải chỗ minh. Do minh lập sở. Sở đã vọng lập, sanh ra khả năng vọng của ông. Trong không đồng không khác, bùng cháy lên sự khác biệt. Khác với cái khác đó, do khác nên lập ra cái đồng. Đồng khác tương minh, vì thế lại lập ra không đồng không khác. Như vậy mà xáo trộn, lẫn lộn sinh ra mệt mõi. Mệt mõi lâu ngày sinh ra bụi trần, tự mình trở nên hỗn tạp. Từ đó sinh ra phiền não trần lao. Do vậy mà khởi lên phiền não trần lao, sanh khởi làm thành thế giới, khi tĩnh lặng thì thành hư không. Hư không là đồng, thế giới là khác. Cái không đồng không khác đó, thật có pháp hữu vi.
Thế Giới Tương Tục/ Giác Minh Không Mê Muội
04-04 Giác sáng tỏ, hư không tối tăm, tương hỗ tạo nên sự dao động, do đó có bánh xe gió duy trì thế giới.
Do không mà sinh ra dao động, vững chắc sáng tỏ dựng nên trở ngại, những thứ vàng bảo kia, là minh giác dựng nên vững chắc, do đó có bánh xe vàng bảo trìcõi nước.
Vững chắc giác biết thành bảo, dao động sáng tỏ sinh ra gió, gió và vàng ma sát, do đó có ánh sáng lửa là tính chất biến hóa.
Bảo sáng sinh ra ẩm ướt, ánh sáng lửa bốc lên, do đó có bánh xe nước chứa đựng mười phương giới.
Lửa bốc lên nước hạ xuống, giao hòa phát sinh dựng nên vững chắc, ẩm ướt thành đại hải, khô khan thành châu đảo. Vì lý do này, trong đại hải kia ánh sáng lửa luôn sinh khởi, trong châu đảo kia sông ngòi luôn đổ vào.
Thế nước (thủy) yếu hơn lửa (hỏa), kết thành núi cao. Vì vậy đá núi, đánh vào thì thành ngọn lửa, nung chảy thì thành nước.
Thế của đất (thổ) yếu hơn nước (thủy), rút ra thành cỏ cây, vì vậy rừng rậm gặp lửa thiêu thì thành đất, vặn vẹo thì thành nước.
Giao hòa vọng tưởng sinh khởi, lần lượt trở thành hạt giống. Vì nhân duyên này, nên thế giới tương tục.
Chúng Sanh Tương Tục/ Giác Minh Là Lỗi Lầm
Lại nữa Phúc Lâu Na.
Minh (明觉) vọng chẳng phải nó (他), lỗi ở giác minh (觉明). Sở đã vọng lập, minh (sự biết rõ) lí lẽ cũng không vượt khỏi nó. Vì nhân duyên này, thính giác (nghe) không thể vượt ra ngoài âm thanh, thị giác (nhìn) không thể vượt ra ngoài sắc. Sắc, hương, vị, xúc, sáu trần vọng tạo thành sáu thức. Từ đó phân biệt ra thấy, giác, nghe, biết. Các nghiệp tương đồng (cộng nghiệp) quấn quýt nhau, hợp lại rồi tách ra, biến hóa. Thấy sắc mà sinh ra phân biệt, phân biệt lại sinh ra tư tưởng. Khác biệt sinh ra sân hận, giống như suy nghĩ sinh ra ái chấp. Ái chấp trở thành hạt giống, thu nạp tư tưởng trở thành bào thai. Giao hợp mà sinh ra, hấp dẫn những nghiệp tương đồng. Do đó, vì nhân duyên mà sinh ra các loài chúng sanh. Trứng sinh, thai sinh, ẩm sinh, hóa sinh, tùy theo nhân duyên mà sinh ra. Trứng chỉ sinh ra do tư tưởng. Thai sinh do có tình. Ẩm sinh do hợp lại mà cảm ứng. Hóa sinh do tách rời mà ứng hợp. Tình và tưởng hợp lại rồi tách rời, luôn luôn biến đổi. Tất cả các nghiệp báo, đều theo nghiệp lực của mình mà thăng trầm. Vì nhân duyên này, chúng sinh tiếp nối không ngừng.
Nghiệp Quả Tương Tục
04-06 Phúc Lâu Na! Tưởng và ái chấp kết hợp với nhau, ái chấp không thể tách rời, thì trong các thế giới, cha mẹ, con cái, sinh sôi không ngừng, đó đều lấy dục tham làm gốc.
Tham ái cùng nhau nuôi dưỡng, tham không thể dừng lại, thì trong các thế giới, trứng sinh, thai sinh, ẩm sinh, hóa sinh, tùy theo sức mạnh yếu, ăn thịt lẫn nhau, đó đều lấy sát tham làm gốc.
Ví như người ăn thịt cừu, cừu chết làm người, người chết làm cừu, cứ như vậy cho đến mười loại sinh vật, chết rồi lại sống, sống rồi lại chết, ăn nuốt lẫn nhau, nghiệp ác đồng sinh, đến vô tận tương lai, đó đều lấy trộm tham làm gốc.
Ngươi nợ ta một mạng, ta trả lại nợ ngươi, vì nhân duyên này, trải qua hàng trăm ngàn kiếp, luôn luôn ở trong sinh tử. Ngươi yêu thích sắc đẹp của ta, ta thương xót sắc đẹp của ngươi, vì nhân duyên này, trải qua hàng trăm ngàn kiếp, luôn luôn bị trói buộc. Chỉ có sát, đạo, dâm ba nghiệp này làm gốc. Vì nhân duyên này, nghiệp quả nối tiếp nhau.
04-07 Phúc Lâu Na! Ba loại điên đảo này nối tiếp nhau, đều là do minh giác (明觉) – tức là tánh nhận thức rõ ràng – vì hiểu biết mà phát sinh tướng, từ vọng kiến mà sinh ra. Sơn hà đại địa, các pháp hữu vi lần lượt chuyển hóa. Vì vậy, sự hư vọng này kết thúc rồi lại bắt đầu.
04-08 Phú Lâu Na nói: Nếu chân tâm diệu tánh này, so với tâm của Như Lai không tăng không giảm, vậy thì làm sao các pháp hữu vi như sông núi, đại địa lại có thể vô cớ sinh ra? Bây giờ Như Lai đã chứng đắc tâm vi diệu không linh rõ ràng rồi, vậy thì các pháp hữu vi như sông núi, đại địa, cùng với các tập khí, lậu hoặc, làm sao có thể lại sinh khởi?
Phật dạy Phú Lâu Na: Ví dụ giống như người lạc đường, ở trong một ngôi làng, lầm tưởng phía Nam là phía Bắc. Vậy sự lạc đường này có phải là do lạc đường mà sinh ra, do giác ngộ mà chấm dứt không?
Phú Lâu Na nói: Người lạc đường này, cũng không phải do lạc đường mà sinh ra, cũng không phải do giác ngộ mà chấm dứt. Vì sao vậy? Vì lạc đường vốn không có gốc rễ, làm sao có thể nói là do lạc đường mà sinh ra được? Giác ngộ không phải là nguyên nhân sinh ra lạc đường, làm sao có thể nói là do giác ngộ mà chấm dứt được?
Phật nói: Người lạc đường đó, khi đang lạc đường, bỗng nhiên có người giác ngộ chỉ đường cho họ. Phú Lâu Na, theo ý ông thấy thế nào? Người này dù đã lạc đường ở ngôi làng này, có thể lại sinh ra lạc đường lần nữa không?
Phú Lâu Na: Không phải thế, thưa Thế Tôn.
Mười phương Như Lai cũng lại như vậy. Sự lạc đường này vốn không có gốc rễ, tính chất của nó vốn là không. Xưa kia vốn không có lạc đường, chỉ là có cảm giác như đang lạc đường. Khi giác ngộ thì lạc đường tiêu mất, giác ngộ không sinh ra lạc đường. Cũng giống như người bị bệnh mắt thấy hoa trong không trung, khi bệnh mắt khỏi rồi, hoa trong không trung cũng biến mất. Bỗng nhiên có người ngu si, ở chỗ không trung nơi hoa đã biến mất, lại mong đợi hoa sẽ mọc lên lần nữa. Ông thấy người này là ngu hay là khôn?
Phú Lâu Na nói: Không trung vốn không có hoa, là do vọng tưởng mà sinh ra. Thấy hoa tan biến trong không trung, do sự sai lầm này, lại ra lệnh cho hoa mọc lên lần nữa, thật là điên rồ. Làm sao có thể gọi người điên rồ như vậy là ngu hay là khôn?
Phật nói: Như lời ông nói, vậy ông hỏi làm sao có thể có chuyện tự tánh không linh chân như vi diệu rõ ràng của Như Lai, lại sinh ra sông núi, đại địa? Cũng giống như vàng lẫn tạp chất, khi vàng trở nên tinh khiết, sẽ không còn tạp chất nữa. Cũng như gỗ khi cháy thành tro, sẽ không còn là gỗ nữa. Bồ Đề Niết Bàn của Chư Phật Như Lai, cũng lại như vậy.
04-09 Phú Lâu Na: Lại như lời ông hỏi: Đất, nước, lửa, gió, bản tính vốn tròn đầy, bao trùm khắp pháp giới. Sao lại nghi ngờ rằng tính chất của nước và lửa không tương khắc? Lại lấy ví dụ về không gian và các đại địa, đều bao trùm khắp pháp giới, sao lại không thể dung hợp? Phú Lâu Na. Ví như hư không, bản chất không phải là một hình tướng, nhưng lại không ngăn cản các hình tướng phát triển. Vì sao vậy? Phú Lâu Na, không gian bao la kia, khi mặt trời chiếu vào thì sáng, khi mây tụ lại thì tối, khi gió thổi thì động, khi trời quang mây tạnh thì trong, khi khí đọng lại thì đục, khi đất tích tụ thành bụi, khi nước trong thì phản chiếu. Theo ý ông thấy thế nào? Các pháp hữu vi khác nhau ở các phương khác nhau, là do không gian sinh ra, hay là không gian và các pháp hữu vi đồng tồn tại? Nếu nói là do không gian sinh ra, Phú Lâu Na, vậy khi mặt trời chiếu sáng, toàn bộ mười phương thế giới đều sáng rực ánh mặt trời, vậy tại sao trong không gian vẫn còn thấy mặt trời tròn? Nếu nói là do không gian sáng, thì không gian tự nó phải sáng, vậy tại sao vào ban đêm khi có mây mù, không gian lại không phát sáng? Nên biết rằng sự sáng này, không phải là của mặt trời, cũng không phải của không gian, mà không khác gì mặt trời và không gian. Quan sát các hình tướng vốn là hư vọng, không thể chỉ ra được. Cũng giống như người ta mong đợi hoa trong không trung, rồi lại kết luận rằng có quả không. Làm sao có thể đi hỏi về ý nghĩa của sự tương khắc? Quan sát bản chất vốn là chân thật, chỉ là giác ngộ sáng suốt. Tâm diệu giác sáng suốt vốn không phải là nước lửa. Làm sao lại hỏi về việc chúng không thể dung hợp? Chân tâm diệu tánh sáng suốt cũng lại như vậy.
04-10 Nếu lấy không mà phát sinh, thì sẽ có không xuất hiện. Đất, nước, lửa, gió, mỗi thứ đều phát sinh, thì mỗi thứ đều hiện hữu. Nếu chúng đều phát sinh, thì sẽ có chung một sự hiện hữu. Vậy làm sao có thể có sự hiện hữu chung? Phú Lâu Na: Giống như một vũng nước có hình ảnh mặt trời chiếu vào. Hai người cùng nhìn hình ảnh mặt trời trong nước, đi về hai hướng Đông Tây, thì mỗi người đều thấy mặt trời theo mình đi. Một người ở Đông, một người ở Tây, trước đó không có một vị trí cố định. Không nên khó hiểu mà nói rằng, mặt trời này là một, vậy sao lại đi theo hai hướng khác nhau? Mặt trời lại có hai cái, vậy sao lại chỉ thấy một cái? Điều này thật là hư ảo, không có căn cứ.
Phú Lâu Na: Ông lấy sắc và không đối lập và tranh giành nhau trong Như Lai tạng. Nhưng Như Lai tạng theo đó mà trở thành sắc và không. Nó bao trùm khắp pháp giới. Vì vậy, ở trong đó, gió thổi thì không trong, mặt trời chiếu thì sáng, mây tụ lại thì tối, chúng sinh mê mờ, quay lưng lại với tánh giác mà hợp nhất với bụi trần, do đó phát sinh phiền não trần lao, nên có các tướng của thế gian.
Ta dùng diệu tánh sáng tỏ không sanh không diệt hợp nhất với Như Lai tạng. Mà Như Lai tạng chỉ có ánh sáng giác biết diệu kỳ, chiếu sáng viên mãn khắp pháp giới. Vì vậy, ở trong đó, một làm vô lượng, vô lượng làm một. Trong nhỏ chứa lớn, trong lớn chứa nhỏ. Đạo tràng bất động, biến khắp mười phương giới. Pháp Thân chứa đựng mười phương hư không vô tận. Nơi đầu một sợi lông hiện ra cõi Phật trang nghiêm. Ngồi trong một hạt bụi mà quay chuyển bánh xe Pháp lớn. Diệt trừ bụi trần, hợp nhất với tánh giác, do đó phát tánh chân như, ánh sáng giác ngộ diệu kỳ.
Và Như Lai tạng vốn là chân tâm viên mãn vi diệu. Nó không phải tâm, không phải không. Không phải đất, không phải nước. Không phải gió, không phải lửa. Không phải mắt, không phải tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Không phải sắc, không phải thanh, hương, vị, xúc, pháp. Không phải nhãn thức giới, như vậy cho đến không phải ý thức giới. Không phải sáng (minh), không phải tối (vô minh), minh và vô minh đều diệt tận. Như vậy cho đến không phải già, không phải chết, không phải hết già hết chết. Không phải khổ, không phải tập, không phải diệt, không phải đạo. Không phải trí, không phải được (đắc). Không phải bố thí, không phải giới luật, không phải tinh tấn, không phải định, không phải tuệ, không phải ba-la-mật-đa. Như vậy cho đến không phải tất cả mọi thứ của Phật. Không phải Đại Niết bàn. Không phải thường, không phải lạc, không phải ngã, không phải tịnh. Vì cùng không thuộc về thế gian và xuất thế gian. Chính là Như Lai tạng chân tâm vốn có sáng suốt vi diệu. Cũng chính là tâm, cũng chính là không. Cũng chính là đất, cũng chính là nước. Cũng chính là gió, cũng chính là lửa. Cũng chính là mắt, cũng chính là tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Cũng chính là sắc, cũng chính là thanh, hương, vị, xúc, pháp. Cũng chính là nhãn thức giới, như vậy cho đến cũng chính là ý thức giới. Cũng chính là sáng (minh), cũng chính là tối (vô minh), cũng chính là hết sáng hết tối. Như vậy cho đến cũng chính là già, cũng chính là chết, cũng chính là hết già hết chết. Cũng chính là khổ, cũng chính là tập, cũng chính là diệt, cũng chính là đạo. Cũng chính là trí, cũng chính là được (đắc). Cũng chính là bố thí, cũng chính là giới luật, cũng chính là tinh tấn, cũng chính là định, cũng chính là tuệ, cũng chính là ba-la-mật-đa. Như vậy cho đến cũng chính là tất cả mọi thứ của Phật. Cũng chính là Đại Niết bàn. Cũng chính là thường, cũng chính là lạc, cũng chính là ngã, cũng chính là tịnh. Vì cùng thuộc về thế gian và xuất thế gian.
Như Lai tạng, tức là tâm vốn có sáng suốt diệu kỳ, lìa tức lìa không, nhưng cũng chính là tức, cũng chẳng phải tức (chính là). Thế gian chúng sinh trong ba cõi, kể cả thánh nhân Thanh Văn và Duyên giác, đều dùng tâm hiểu biết hữu hạn của mình để đo lường Bồ đề tối thượng của Như Lai, dùng ngôn ngữ thế gian để vào tri kiến của Phật. Điều này giống như đàn tỳ bà, dù có âm thanh tuyệt vời, nhưng nếu không có ngón tay tài hoa thì không thể phát ra được. Ông và các chúng sinh cũng lại như vậy. Chân Tâm quý báu của mỗi người đều viên mãn. Giống như ta ấn ngón tay vào hải ấn, ánh sáng liền phát ra. Còn ông, chỉ cần tạm động một niệm, phiền não liền sinh khởi. Do không tinh tấn tìm cầu con đường giác ngộ tối thượng, mà lại chấp trước vào Tiểu thừa, đạt được chút ít ỏi cho rằng là đủ.
04-11 Phú Lâu Na hỏi: “Con với Đức Phật, đều có trí tuệ giác ngộ sáng suốt, chân tâm thanh tịnh viên mãn vi diệu, không khác biệt gì nhau. Nhưng trước đây, con đã bị vọng tưởng vô minh che phủ, luân hồi sinh tử rất lâu. Bây giờ con đã được nghe pháp của Phật, nhưng chưa đạt đến giác ngộ hoàn toàn. Kính thưa Đức Phật, tất cả các vọng tưởng đều có thể diệt trừ, chỉ có chân tâm vi diệu viên mãn là thường hằng. Con xin hỏi Đức Phật, tại sao tất cả chúng sinh lại có vọng tưởng, tự mình che lấp đi trí tuệ sáng suốt, và phải chịu khổ đau chìm đắm trong vòng luân hồi?”
04-12 Phật dạy Phú Lâu Na: “Dù ông đã giải trừ một số nghi ngờ, nhưng vẫn còn những nghi hoặc khác chưa được diệt sạch. Ta sẽ dùng những việc đang xảy ra trong thế gian để hỏi ông.
Ông có nghe nói về người tên là Diễn Nhã Đạt Đa ở thành Thất La không? Một hôm vào buổi sáng, khi soi gương, y rất thích cái đầu của mình trong gương, mắt mi đều có thể nhìn thấy, nhưng lại tức giận vì sao gương không phản chiếu được đầu của mình. Y cho rằng mình là ma quỷ, rồi điên cuồng chạy loạn. Ý ông thấy sao? Tại sao người này lại vô cớ chạy điên cuồng như vậy? Phú Lâu Na đáp: “Là do tâm của người đó điên loạn, không có nguyên nhân nào khác.” Phật nói: “Trí tuệ giác ngộ vốn viên mãn, sáng suốt vi diệu. Nếu gọi đó là vọng thì làm sao có nguyên nhân? Nếu có nguyên nhân, thì làm sao gọi là vọng? Các vọng tưởng sinh ra từ chính các vọng tưởng, từ mê lầm này đến mê lầm khác, trải qua vô số kiếp. Dù Phật đã khai thị, nhưng vẫn khó quay trở lại. Nguyên nhân của sự mê lầm này, chính là do mê lầm sinh ra. Khi biết tâm mê lầm không nguyên nhân, thì vọng tưởng không có chỗ nương tựa. Nếu không có sự khởi sinh, thì làm sao có sự diệt trừ? Người đạt được Bồ Đề, cũng giống như người tỉnh giấc kể về giấc mơ. Dù tâm có sáng suốt đến đâu, thì làm sao có thể lấy được vật gì trong giấc mơ? Huống hồ, vọng tưởng vốn không có nguyên nhân, không có thực thể. Cũng giống như người tên Diễn Nhã Đạt Đa ở thành kia, làm sao có nhân duyên nào khiến y sợ hãi và chạy loạn như vậy? Khi bổng nhiên cơn điên chấm dứt, đầu của y vẫn ở đó, không mất đi. Dù cơn điên chưa chấm dứt, thì cũng không có gì bị mất cả.”
04-13 Phật dạy Phú Lâu Na: “Tâm vọng tưởng vốn là như vậy, vậy thì tại sao nó lại tồn tại? Nếu ông không chạy theo phân biệt thế gian, nghiệp quả và chúng sanh ba thứ tương tục này. Khi ba duyên này bị cắt đứt, thì ba thứ Nhân không sinh khởi. Lúc đó, trong tâm ông, tánh điên cuồng của Diễn Nhã Đạt Đa tự nhiên sẽ chấm dứt, và khi chấm dứt chính là Bồ đề. Tâm sáng suốt thanh tịnh vốn bao trùm khắp pháp giới, không phải do người khác ban cho. Vậy tại sao phải khổ công tu tập? Cũng giống như một người có một viên ngọc như ý cất giấu trong áo, nhưng lại không biết. Người đó đi khắp nơi để xin ăn, dù rất nghèo khổ nhưng viên ngọc vẫn chưa từng mất đi. Đến một ngày, bỗng có người trí chỉ cho người đó viên ngọc, sở nguyện tùy tâm, người đó liền trở nên giàu có. Lúc đó, người ấy mới hiểu ra rằng viên ngọc quý không phải từ bên ngoài mà có.”
04-14 Lúc ấy, A Nan đứng dậy giữa đại chúng, cung kính đảnh lễ chân Phật, rồi bạch Phật rằng: “Kính bạch Thế Tôn, Ngài vừa nói về ba nghiệp sát, đạo, dâm, khi ba duyên bị cắt đứt, thì ba nhân này không sinh khởi. Cái điên cuồng của Diễn Nhã Đạt Đa trong tâm sẽ tự nhiên chấm dứt. Khi chấm dứt chính là bồ đề, không phải do người khác ban cho. Vậy thì nhân duyên đã rõ ràng như vậy, tại sao Ngài lại đột ngột bỏ qua nhân duyên? Con đã giác ngộ nhờ hiểu rõ về nhân duyên. Kính bạch Thế Tôn, ý nghĩa này không chỉ dành cho chúng con hàng Thanh Văn những người trẻ tuổi hữu học. Ngay cả những vị cao niên như Đại Mục Kiền Liên, Xá Lợi Phất, và Tu Bồ Đề, đều đã từ các vị Bà La Môn nghe về nhân duyên của Phật, và từ đó phát tâm khai ngộ tu hành đạt được quả vị A La Hán. Vậy mà nay Ngài lại nói rằng Bồ Đề không do nhân duyên. Như vậy, những thuyết tự nhiên của Câu Xá Ly ở Vương Xá, sẽ trở thành chân lý tối thượng. Kính mong Ngài từ bi khai thị để chúng con hết mê lầm.
04-15 Phật dạy A Nan: “Cũng như trường hợp của Diễn Nhã Đạt Đa ở trong thành, nếu nhân duyên gây ra sự điên cuồng của y bị tiêu diệt, thì tính cách không điên cuồng của y sẽ tự nhiên hiện ra. Nhân duyên tự nhiên, lý lẽ đến đây là hết. A Nan à, cái đầu của Diễn Nhã Đạt Đa vốn là như vậy, vốn dĩ là như vậy, không có cái gì là không phải như vậy. Vậy do nhân duyên gì, y lại sợ hãi cái đầu của mình và chạy loạn? Nếu nói rằng cái đầu vốn có của y là nhân duyên khiến y điên cuồng, thì tại sao cái đầu vốn có của y lại không bị mất đi vì nhân duyên đó? Cái đầu vốn có không mất đi, mà sự sợ hãi và điên cuồng lại xuất hiện một cách sai lầm. Chưa từng có sự thay đổi nào, vậy thì cần gì đến nhân duyên? Nếu nói rằng bản tính của y vốn là điên cuồng, vốn đã sợ hãi, thì trước khi điên cuồng, sự điên cuồng đó ẩn nấp ở đâu? Nếu nói rằng bản tính tự nhiên của y vốn không điên cuồng, cái đầu vốn không có gì sai lầm, thì tại sao y lại điên cuồng chạy loạn? Nếu hiểu được bản chất của cái đầu, nhận ra sự điên cuồng chạy loạn, thì nhân duyên và tự nhiên đều là những lý thuyết vô nghĩa.
Vì vậy Ta nói khi ba duyên bị cắt đứt thì đó chính là tâm Bồ đề. Khi tâm Bồ đề sinh khởi, thì tâm sinh diệt tiêu diệt, đây chỉ là sự sinh diệt. Sinh và diệt đều chấm dứt, không có con đường nào để tu hành. Nếu có cái gọi là tự nhiên, thì rõ ràng rằng khi tâm tự nhiên sinh khởi, thì tâm sinh diệt tiêu diệt, đây cũng là sự sinh diệt. Cái không sinh không diệt mới gọi là tự nhiên. Cũng giống như các pháp trong thế gian hòa hợp lại thành một thể, thì được gọi là tính hòa hợp. Cái không hòa hợp được gọi là tính bản nhiên. Bản nhiên không phải là nhiên, hòa hợp cũng không phải là hợp. Hòa hợp và bản nhiên đều rời xa nhau, rời xa và hòa hợp đều không phải. Câu nói này mới gọi là pháp không có sự hý luận.
Phật dạy A Nan: Con đường đến Bồ Đề Niết bàn còn xa lắm, không phải chỉ bằng việc con chăm chỉ tu hành trong nhiều kiếp là có thể đạt được. Mặc dù con đã ghi nhớ thọ trì mười hai bộ kinh của mười phương Như Lai, những lý thuyết thanh tịnh và sâu sắc nhiều như cát sông Hằng, nhưng chỉ là những lý thuyết suông. Mặc dù con nói về nhân duyên và tự nhiên một cách rất rõ ràng, đến nỗi người đời gọi con là người có học thức bậc nhất (đa văn đệ nhất), nhưng với những kiến thức tích lũy huân tập qua nhiều kiếp như vậy, con vẫn không thể tránh khỏi cám dỗ của Ma Đăng Già. Vậy mà con còn chờ đợi thần chú Phật đảnh của ta để dập tắt dục lửa trong lòng Ma Đăng Già, khiến y đạt đến quả A La Hán, trở thành một vị tỳ kheo tinh tấn trong pháp của Ta. Dòng sông ái dục đã cạn khô, giúp y giải thoát. Vì vậy, A Nan à, mặc dù con đã ghi nhớ những lời dạy bí mật và diệu kỳ của Như Lai trong nhiều kiếp, nhưng không bằng việc con tu tập một ngày nghiệp vô lậu, xa lìa khỏi hai thứ khổ đau do tham ái và sân gây ra. Cũng giống như Ma Đăng Già, kiếp trước là một người dâm nữ, nhờ sức thần chú mà dục vọng của y bị tiêu diệt, giờ đây ở trong pháp Ta y được gọi là Tánh Tỳ Kheo ni. Y cùng với mẹ của La Hầu là Da Du Đà La đều hiểu được nhân quả đời xưa của mình, biết rằng trong nhiều kiếp, tham ái là nguồn gốc của khổ đau. Chỉ cần huân tu một niệm thiện vô lậu, người ta có thể thoát khỏi mọi ràng buộc, hoặc được thọ kí. Vậy mà con lại tự lừa dối mình, vẫn còn ở đây nghe giảng.
04-16 A Nan và tất cả đại chúng nghe Phật thuyết pháp, hết thảy nghi ngờ đều tan biến, tâm hiểu được chân lý thật tướng. Thân tâm nhẹ nhàng, cảm giác chưa từng có. Lặp lại rơi lệ, đảnh lễ chân Phật, quỳ gối chắp tay mà bạch Phật rằng: “Kính bạch Vô Thượng Đại Bi Thanh Tịnh Bảo Vương, Ngài đã khéo khai mở lòng con. Nhờ những nhân duyên như vậy, Ngài đã từ bi khuyến khích, dẫn dắt những người đang chìm đắm trong khổ hải ra khỏi. Kính bạch Thế Tôn, mặc dù nay con đã nghe pháp âm của Ngài, biết được Như Lai tạng minh tâm diệu giác giác, bao trùm mười phương thế giới, nuôi dưỡng mười phương cõi Phật, thanh tịnh và trang nghiêm. Nhưng Ngài lại trách con chỉ nghe nhiều mà không thực hành, không bằng những người thực hành. Nay Con giống như một người khách lang thang, đột nhiên được vua ban cho một ngôi nhà tráng lệ, mặc dù đã có nhà lớn, nhưng vẫn phải biết cửa để vào nhà. Kính mong Như Lai không xả bỏ lòng đại bi, chỉ dạy cho những người trong hội chúng đang mù lòa này, xả bỏ Tiểu thừa, để đạt được Niết bàn vô dư, con đường phát tâm ban đầu của Như Lai. Khiến cho những hàng hữu học, làm thế nào để chế ngự những chấp trước phan duyên trước đây, để có được thần chú và vào được tri kiến của Phật. Nói xong, quỳ lạy bằng năm vóc sát đất, một lòng chờ đợi lời dạy từ bi của Phật.
04-17 Lúc ấy, Thế Tôn thương xót các vị Duyên Giác và Thanh Văn trong hội chúng, những người chưa tự tại nơi tâm Bồ đề, và vì những chúng sinh trong thời kỳ pháp diệt sau khi Phật nhập Niết bàn, muốn phát khởi tâm Bồ đề, mở ra con đường tu hành vi diệu vô thượng thừa. Thế Tôn tuyên thuyết khai thị cho A Nan và tất cả đại chúng: “Các ông quyết định phát khởi tâm Bồ đề, nơi Tam ma đề (thiền định) vi diệu của Như Lai, không nên sanh lòng mỏi mệt. Trước hết, các ông nên làm rõ, hai định nghĩa quyết định, sơ phát tâm giác ngộ.
04-18 Thế nào là hai nghĩa quyết định sơ tâm.
04-19 A Nan, nghĩa thứ nhất là: Nếu các ông muốn bỏ Tiểu thừa Thanh Văn, tu hành Bồ tát thừa để vào kiến giải (tri kiến) của Phật, thì nên xem xét kỹ tâm phát khởi ở nhân địa và giác ngộ ở quả địa có giống nhau hay khác nhau. A Nan, nếu ở nhân địa, lấy tâm sinh diệt làm gốc để tu hành, mà lại cầu quả vị Phật là không sinh không diệt, thì điều đó là không có. Vì lẽ đó, các ông nên sáng tỏ rằng tất cả pháp hữu vi trong thế gian đều từ sanh diệt mà ra. A Nan, các ông xem trong thế gian, pháp hữu vi nào là không hư hoại? Nhưng các ông chưa bao giờ nghe nói hư không bị hủy hoại. Vì sao? Vì không gian không phải là pháp hữu vi, cho nên từ đầu đến cuối không bao giờ bị hủy hoại. Vậy thì trong thân thể ông, tướng cứng rắn là đất, ẩm ướt là nước, ấm áp là lửa, rung động là gió. Bốn đại này bủa vây, phân chia tâm sáng suốt viên mãn của ông thành thấy, nghe, cảm, nhận. Từ đầu đến cuối, năm uẩn đều hỗn tạp.
04-20 Thế nào là Trược.
04-21 A Nan! Ví như nước trong, vốn dĩ tinh khiết, mà những hạt bụi bẩn, cát sỏi kia vốn có tính chất ngưng tụ, hai loại bản chất này vốn không tương hợp. Có người đời lấy những hạt bụi đất đó ném vào nước trong, đất mất đi tính chất ngưng tụ, nước mất đi sự tinh khiết, hình tướng trở nên đục ngầu, đó gọi là hỗn tạp (trược). Năm lớp hỗn tạp của Ông cũng lại như vậy.
Ngũ Trược
04-22 A Nan! Ông thấy hư không biến khắp mười phương, Không và Thấy không tách biệt; có Không nhưng không có thể, có Thấy nhưng không có giác biết, chúng đan xen với nhau mà hư vọng tạo thành, Đó là tầng thứ đầu tiên, gọi là kiếp trược.
Thân thể Ông hiện tại được cấu tạo bởi bốn đại. Các thức thấy, nghe, biết, nghĩ bị chướng ngại và ngăn trở. Nước, lửa, gió, đất, luân chuyển khiến giác biết. Chúng đan xen vào nhau hư vọng tạo thành. Đó là tầng thứ hai, gọi là kiến trược.
Lại nữa, trong tâm thức của ông, do ghi nhớ và học tập mà sinh ra kiến giải (cái thấy biết). Kiến giải này bao hàm sáu trần. Khi lìa khỏi sáu trần thì không có tướng, lìa khỏi giác nhận thì không có tánh. Chúng đan xen vào nhau hư vọng tạo thành. Đó là tầng thứ thứ ba, gọi là phiền não trược.
Lại nữa, Ông ngày đêm sinh diệt không ngừng. Kiến giải (cái thấy biết) của ông luôn muốn lưu lại thế gian. Nghiệp lực của ông thường xuyên chuyển dịch giữa các cõi. Chúng đan xen vào nhau hư vọng tạo thành. Đó là tầng thứ thứ tư, gọi là chúng sinh trược.
Cái thấy và nghe của các ông, vốn không có tính chất khác nhau. Nhưng vì bị nhiều trần lao ngăn cách, nên sinh ra những hình tướng khác biệt. Trong tánh giác, chúng vốn là một, nhưng trong dụng thì lại trái ngược nhau. Do mất đi tiêu chuẩn giống và khác, chúng đan xen vào nhau hư vọng tạo thành. Đó là tầng thứ thứ năm, gọi là mạng trược.
Hai Thứ Căn Bản
04-23 A Nan, nay ông muốn khiến thấy, nghe, giác, biết, có thể vĩnh viễn khế hợp với thường lạc, ngã tịnh của Như Lai, trước hết phải chọn lựa ra căn bản của sinh tử, dựa vào tánh không sinh không diệt trong lành viên mãn, dùng tánh trong lành ấy xoay sự hư vọng sinh diệt về, nằm yên để để trở về tánh giác ban đầu, được tính giác ngộ viên mãn, không sinh không diệt làm tâm ở nhân địa. rồi sau đó, mới có thể tu chứng thành tựu quả địa viên mãn. Cũng như nước đục khi chứa vào bình sạch, để yên không động, cát sỏi tự lắng xuống, nước trong hiện ra, đó gọi là sơ phục khách trần phiền não. Khi loại bỏ hết bùn đất, chỉ còn nước trong tinh khiết, đó gọi là vĩnh viễn đoạn trừ vô minh căn bản. Khi tướng sáng trở nên tinh khiết, mọi hiện tượng biến hiện, đều không còn là phiền não, mà hòa hợp với diệu đức thanh tịnh của Niết-bàn.
Nghĩa thứ hai, các ông nhất định muốn phát khởi tâm Bồ đề, nên sinh khởi tâm đại dõng mãnh trên con đường Bồ tát, quyết định từ bỏ hết thảy các pháp hữu vi, nên thận trọng thẩm xét căn bản của phiền não. Kể từ vô thủy đến nay, nghiệp lực phát sinh nuôi dưỡng chúng sinh, ai tạo ai thọ?
04-24 A Nan, khi con tu hành Bồ đề, nếu không xem xét kỹ căn bản của phiền não, thì không thể biết căn bản của các căn trần hư vọng bị điên đảo ở đâu. Chỗ còn chưa biết, làm sao có thể hàng phục và đạt được địa vị của Như Lai? A Nan, con hãy xem những người trong thế gian tháo dây buộc, nếu không thấy chỗ bị buộc, làm sao biết chỗ tháo? Con có nghe thấy không gian bị con phá vỡ không? Vì sao? Vì không gian không có hình tướng, không có chỗ buộc và tháo. Vậy thì, hiện tại mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và tâm của con, sáu căn này chính là môi giới của kẻ trộm, tự mình cướp đi bảo vật của nhà mình. Vì thế, từ vô thủy đến nay, thế giới chúng sinh bị trói buộc, nên không thể vượt ra khỏi thế giới hữu hình này.
04-25 A Nan, thế nào gọi là thế giới của chúng sinh? Thế là chuyển lưu, giới là phương vị. Nay ông nên biết, đông, tây, nam, bắc, đông nam, tây nam, đông bắc, tây bắc, trên, dưới là giới. Quá khứ, hiện tại, tương lai là thế (đời). Phương vị có mười, dòng chảy có ba. Tất cả chúng sinh đan xen hư vọng tạo thành. Trong thân thể luân chuyển, tương tác với thế giới. Mặc dù giới tánh có thể ở mười phương, nhưng vị trí có thể xác định rõ ràng. Thế gian chỉ nhìn thấy đông, tây, nam, bắc, còn trên dưới không có vị trí cố định, trung tâm (ở giữa) không có phương vị xác định, nhưng bốn số lượng phải rõ ràng. Tương tác với thế, 3 x 4 x 4 x 3, xoay chuyển mười hai vòng. Dòng chảy biến đổi ba lần, một, mười, trăm, ngàn. Tổng kết từ đầu đến cuối. Trong sáu căn, mỗi căn có một ngàn hai trăm công đức.
04-26 A Nan, ông lại so sánh ưu khuyết trong đó. Như mắt nhìn thấy, phía trước sáng, phía sau tối. Phía trước sáng hoàn toàn, phía sau hoàn toàn tối. Quan sát hai bên, chỉ được hai phần ba. Tóm lại, công đức của mắt không hoàn hảo. Nên nói có ba phần công, một phần không có đức. Nên biết mắt chỉ có tám trăm công đức. Như tai nghe khắp, không bỏ sót mười phương. Dù gần dù xa đều nghe rõ, khi tĩnh lặng thì không có giới hạn. Nên biết nhĩ căn (tai) viên mãn một ngàn hai trăm công đức. Như mũi ngửi mùi, thông suốt hơi thở ra vào. Có ra có vào, nhưng thiếu phần giao nhau. Xem xét tỉ căn (mũi), thiếu một phần ba. Nên biết mũi chỉ có tám trăm công đức. Như lưỡi tuyên dương, hết thảy trí tuệ thế gian và xuất thế gian. Lời nói có giới hạn, lý trí vô tận. Nên biết thiệt căn (lưỡi) viên mãn một ngàn hai trăm công đức. Như thân cảm nhận, nhận biết được thuận nghịch. Khi hợp lại thì có thể cảm nhận, khi tách ra thì không biết. Tách một hợp hai. Xem xét căn thân, thiếu một phần ba. Nên biết thân chỉ có tám trăm công đức. Như ý nghĩ bao dung, mười phương ba đời, tất cả pháp thế gian và xuất thế gian, chỉ có thánh và phàm, không có gì mà không bao hàm, tận cùng giới hạn. Nên biết ý căn viên mãn một ngàn hai trăm công đức.
04-27 A Nan, nay ông muốn nghịch dòng dục lưu sanh tử, quay về tìm gốc của dòng chảy đó, để đạt đến cảnh giới không sinh không diệt. Phải nên kiểm nghiệm thọ dụng của sáu căn này, xem cái nào hợp, cái nào rời, cái nào sâu, cái nào nông, cái nào viên thông, cái nào không viên mãn. Nếu có thể ở trong đây ngộ được căn viên thông, thì có thể nghịch dòng nghiệp lực hư vọng đan dệt từ vô thủy, theo đuổi căn viên thông, so với căn không viên thông, sẽ nhanh gấp nhiều lần. Ta nay bày tỏ rõ ràng công đức vốn có của sáu căn viên minh, số lượng như vậy. Con hãy tùy ý chọn căn để vào. Ta sẽ khai mở, để con tiến bộ. Mười phương Như Lai, ở mười tám giới, mỗi giới đều tu hành, đều đạt được Bồ đề viên mãn vô thượng. Ở giữa chúng, cũng không có ưu việt gì. Chỉ vì con thấp kém, chưa thể ở trong đó tu chứng được trí huệ viên mãn tự tại. Vì vậy, ta tuyên dương, để con chỉ chuyên tâm vào một pháp môn. Vào một pháp môn không sai lầm, thì sáu căn biết sẽ cùng lúc thanh tịnh.
04-28 A Nan bạch Phật rằng: Thế Tôn, làm thế nào nghịch dòng vào sâu một pháp môn, có thể khiến cho sáu căn cùng lúc thanh tịnh được?
04-29 Phật dạy A Nan. Ông giờ đã đạt được quả vị Tu đà hoàn rồi. Con đã loại bỏ được những hiểu lầm căn bản của chúng sinh trong ba cõi. Nhưng con vẫn chưa biết những thói quen sai lầm sâu trong tâm thức của mình tích lũy từ vô thủy đến nay. Những thói quen này cần phải tu tập mới có thể loại bỏ được. Huống hồ ở trong đây, có sinh trụ dị diệt, có phân biệt. Bây giờ con hãy nghĩ xem, sáu căn hiện tiền của con, là một hay là sáu? A Nan, nếu là một, thì tại sao tai không thấy, mắt không nghe được, đầu không thể đi, chân không thể nói? Nếu sáu căn này nhất định là sáu, thì nay Ta ở trong pháp hội này, tuyên dương pháp môn vi diệu cho ông, sáu căn của ông, cái nào dùng lãnh thọ.
04-30 A Nan nói rằng. Con dùng tai để nghe.
04 – 31 Đức Phật dạy: Tai con tự nghe, sao lại liên quan đến thân và miệng? Miệng hỏi về đạo lý, thân cung kính tiếp nhận. Vì vậy, con nên biết rằng sáu căn không phải là một, cũng không phải là sáu riêng biệt. Sáu căn không có một gốc rễ duy nhất hoặc sáu gốc rễ riêng biệt. A Nan hãy biết rằng, sáu căn không phải là một cũng không phải là sáu. Do từ vô thủy đến nay, chúng ta đã bị điên đảo và phân biệt, nên nơi tánh trạm nhiên viên mãn sinh ra quan niệm về một và sáu.
Con đã đạt được quả vị Tu đà hoàn, tuy đã loại bỏ được sáu trần, nhưng vẫn chưa hoàn toàn diệt trừ được một cái. Cũng giống như không gian bao la chứa đựng muôn vật. Do hình dạng của vật khác nhau mà chúng ta gọi chúng là những không gian khác nhau. Nếu bỏ qua các vật chỉ nhìn không gian, chúng ta nói không này là một. Vậy không gian bao la kia, đối với con là đồng hay không đồng, huống hồ lại gọi là một hay chẳng phải một có phải là một.
Vậy con hãy hiểu rằng, thọ dụng sáu căn của con, cũng lại như vậy.
Sáu Căn
04-32 Do hai tướng sáng và tối, trong chân tâm diệu tánh viên mãn trạm nhiên này nhìn thấy. Tánh thấy tinh anh chiếu rọi lên sắc tướng, kết sắc thành căn. Căn này vốn được gọi là con mắt tinh khiết của bốn đại. Vì thế gọi là mắt thể, ví như bông nho. Phù căn bốn trần, trôi nổi và đuổi theo sắc tướng.
Do hai trạng thái va chạm giữa động và tĩnh, trong chân tâm viên mãn nhiệm mầu phát ra tánh nghe. Tánh nghe tinh anh chiếu rọi vào âm thanh, cuộn âm thanh trở thành căn. Căn này vốn được gọi là tai thanh tịnh của bốn đại. Vì thế gọi là thể tai, ví như chiếc lá non cuộn. Phù căn bốn trần, trôi nổi và đuổi theo âm thanh.
Do hai tướng thông thoáng và tắc nghẽn, trong chân tâm viên mãn nhiệm mầu phát ra tánh ngửi. Tánh ngửi tinh anh chiếu rọi vào mùi hương, kết nạp mùi hương thành căn. Căn này vốn được gọi là mũi, thanh tịnh của bốn đại. Vì thế gọi là thể mũi, ví như hai chiếc móng vuốt rũ xuống. Phù căn bốn trần, trôi nổi và đuổi theo mùi hương.
Do hai tướng thay đổi giữa vị giác, trong chân tâm viên mãn nhiệm mầu phát ra tánh nếm. Tánh nếm tinh anh chiếu rọi vào vị giác, kết vị giác thành căn. Căn này vốn được gọi là lưỡi thanh tịnh của bốn đại. Vì thế gọi là thể lưỡi, ví như vầng trăng lưỡi liềm. Phù căn bốn trần, trôi nổi và đuổi theo vị giác.
Do hai tướng tiếp xúc và tách rời, trong chân tâm viên mãn nhiệm mầu phát ra tánh cảm giác, Tánh giác tinh anh chiếu rọi vào xúc giác, chuyển xúc thành căn. Căn bản này vốn được gọi là thân, thanh tịnh của bốn đại. Vì thế gọi là thân thể, ví như cái trống lưng. Phù căn bốn trần, trôi nổi và đuổi theo xúc giác.
Do hai tướng sinh và diệt, trong chân tâm viên mãn nhiệm mầu, phát ra tánh biết. Tánh biết tinh anh chiếu rọi vào pháp (sự vật, hiện tượng), thâu nhận các pháp tạo thành căn. Căn bản này được gọi là ý thanh tịnh của bốn đại. Vì thế gọi là ý nghĩ, ví như thấy trong phòng tối. Phù căn bốn trần, trôi nổi và đuổi theo pháp.
04-33 A Nan, sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) này, đều do giác (ý thức) sáng tỏ mà có. Khi giác sáng tỏ, mất đi tánh tinh anh rõ ràng, nó dính mắc vào vọng tưởng và phát ra ánh sáng. Do đó, bây giờ con rời xa bóng tối và ánh sáng, không còn hình tướng để thấy. Rời xa động và tĩnh, không còn bản chất để nghe. Không có thông và tắc, không sinh ra tính chất của khứu giác. Không có biến đổi và không thay đổi, vị giác không xuất hiện. Không rời xa và không kết hợp, xúc giác vốn không có. Không có diệt và không có sinh, nhận thức an trú. Một khi Con không theo đuổi động, tĩnh, hợp, ly, biến đổi không biến đổi, thông, tắc, sinh, diệt, sáng, tối, 12 tướng hữu vi như vậy. Tùy tiện nhổ bỏ một căn, tách khỏi sự dính mắc an trụ bên trong, nương tựa trở về với nguồn gốc chân thật, phát huy ánh sáng bản nguyên. Tự tánh phát huy ánh sáng, năm căn dính mắc còn lại, cũng sẽ nhổ bỏ và tách rời hoàn toàn. Không bị ảnh hưởng bởi tri kiến phát sinh từ tiền trần. Ánh sáng không theo đuổi căn, mà dựa vào căn để phát huy ánh sáng. Bởi vậy, sáu căn hỗ trợ lẫn nhau phát huy tác dụng.
04-34 A Nan, không lẽ ông không biết rằng trong hội chúng này, A Na Luật Đà không có mắt mà vẫn thấy, Bạt Nan Đà Long không có tai mà vẫn nghe, Hằng Ca thần nữ không dùng mũi mà vẫn ngửi thấy hương thơm, Kiêu Phạm Bát Đề, dùng lưỡi khác thường mà vẫn biết vị, Tuấn Nhược Đa thần không có thân mà vẫn cảm nhận được xúc giác. Tất cả đều do ánh sáng của Như Lai, chiếu rọi mà tạm thời hiện ra. Vì thân thể của họ vốn là tính chất của gió, nên không có thực thể. Những hàng Thanh Văn đạt được định diệt tận thanh tịnh. Như trong hội chúng này ngài Ma Ha Ca Diếp, đã từ lâu diệt trừ ý căn, đạt được sự giác ngộ viên mãn và rõ ràng, không bị ảnh hưởng bởi tư tưởng.
04-35 A Nan, nếu bây giờ con đã hoàn toàn nhổ bỏ các căn, bên trong sẽ sáng tỏ và phát ra ánh sáng. Lúc đó, những bụi trần và các hiện tượng biến đổi trong thế giới vật chất sẽ tan biến như băng tan trong nước nóng, và con sẽ lập tức đạt đến giác ngộ tối thượng.
04-36 A Nan, giống như khi người đời hội tụ cái thấy nơi mắt, nếu nhắm thật chặt, bóng tối sẽ bao trùm, sáu căn sẽ tối tăm, đầu và chân trở nên giống nhau. Người đó dùng tay sờ khắp cơ thể, mặc dù không thấy gì nhưng vẫn phân biệt được đầu và chân, tri giác là giống nhau. Nhìn thấy được là do có ánh sáng, khi tối đen thì không thể thấy gì. Nếu không có ánh sáng thì không thể tự phát, thì các tướng bóng tối vĩnh viễn không thể chướng ngại. Khi căn và trần (cảm quan và đối tượng cảm giác) đều tan biến, làm sao giác (ý thức) sáng tỏ có thể không viên mãn?
04-37 A Nan bạch Phật rằng: “Thế Tôn, như Phật đã dạy, tâm giác khi ở nhân địa, muốn cầu chân tâm thường trụ, thì phải tương ứng với danh hiệu của quả vị. Thế Tôn, ở trong quả vị, Bồ đề, Niết bàn, Chân như, Phật tánh, thức A Ma La, Không như lai tạng, Đại viên cảnh trí, là bảy danh hiệu khác nhau, tuy tên gọi khác nhau, nhưng đều thanh tịnh viên mãn, thể tánh kiên cố, như Kim cang vương, thường trụ bất hoại. Nếu thấy và nghe như vậy, rời xa sáng tối, động tĩnh, thông tắc, vốn không có thể. Giống như tâm niệm, rời xa đối tượng trước mắt (tiền trần), vốn không có gì cả. Vậy làm sao có thể lấy sự diệt tận hoàn toàn này làm nhân để tu hành, mà muốn đạt được bảy quả vị thường trụ của Như Lai? Thế Tôn, nếu rời xa sáng tối, thấy tất cả đều trống không. Giống như không có đối tượng trước mắt, tự tánh của tâm niệm tự diệt. Dù tiến dù lùi, dù tìm tòi sâu sắc, vốn không có tâm ngã và tâm ngã sở, vậy thì lấy cái gì làm nhân để cầu Vô Thượng Giác? Như Lai trước đây đã nói về tánh tịch tịnh viên mãn chân thường. Nếu đi ngược lại lời nói chân thật này, cuối cùng sẽ trở thành hý luận vô ích. Làm sao lời nói của Như Lai có thể là lời nói chân thật? Kính xin Thế Tôn từ bi, khai mở sự mê lầm của con.
Đánh Chuông Kiểm Nghiệm Chân Thường
04-38 A Nan, con đã học hỏi rất nhiều, nhưng chưa thoát khỏi mọi phiền não, trong tâm chỉ biết nguyên nhân của sự điên đảo. Khi cái chân thật đưa ra trước mắt, con vẫn chưa thể nhận ra. Ta lo rằng lòng chân thành của con vẫn chưa thực sự tin phục. Bây giờ, Ta sẽ lấy những việc đời thường để giải trừ nghi ngờ của con.
Lúc bấy giờ, Như Lai sai La Hầu La thỉnh một tiếng chuông, rồi hỏi A Nan. Ông có nghe không? A Nan cùng đại chúng thưa: Dạ, chúng con có nghe.
Tiếng chuông im bặt, đức Phật lại hỏi: Bây giờ Ông có nghe không?
A Nan cùng đại chúng thưa: Dạ, không nghe.
Lúc ấy La Hầu Lai lại thỉnh một tiếng chuông, đức Phật lại hỏi: Bây giờ Ông có nghe không? A Nan cùng đại chúng lại thưa: Dạ, có nghe.
Phật hỏi A Nan, Theo Ông thế nào là có nghe? Thế nào là không nghe?
A Nan cùng đại chúng đồng bạch Phật rằng:
Tiếng chuông đánh lên thì chúng con có nghe; đánh hồi lâu sau tiếng chuông dứt, âm vang không còn nữa, tức gọi là "không nghe".
Đức Phật lại bảo La Hầu La thỉnh chuông, rồi hỏi A Nan. Theo Ông thì bây giờ có tiếng không? A Nan cùng đại chúng đồng thưa: Dạ, có tiếng.
Giây lát sau tiếng chuông im bặt, Phật lại hỏi: Theo Ông thì bây giờ có tiếng không? A Nan cùng đại chúng đồng thưa: Dạ, không có tiếng.
Giây lát sau La Hầu La lại tiếp tục thỉnh chuông, đức Phật lại hỏi: Theo Ông bây giờ có tiếng không? A Nan cùng đại chúng đồng thưa: Dạ, có tiếng.
Đức Phật hỏi A Nan: Theo Ông thế nào gọi là có tiếng? Thế nào gọi là không có tiếng? A Nan cùng đại chúng đồng thưa: Tiếng chuông được đánh lên, thì gọi là có tiếng; đánh một lát sau tiếng chuông dứt, âm vang không còn, thì gọi là không có tiếng.
Phật bảo A Nan và các đại chúng: Sao hôm nay các Ông nói năng lộn xộn như vậy? Đại chúng cùng A Nan cùng hỏi Phật: Nay chúng con nói năng lộn xộn như thế nào? Phật nói: Ta hỏi Ông Nghe, ông bảo nghe, lại hỏi ông tiếng, thì ông nói tiếng. Vì nghe và tiếng, trả lời không nhất quán. Như vậy sao không gọi là nói năng lộn xộn?
A Nan! Tiếng mất không còn âm vang, Ông nói là không nghe; nếu quả thật không nghe, thì tánh nghe đã diệt mất, đồng như cây khô, vậy khi tiếng chuông được đánh trở lại, làm sao Ông biết được? Biết có, biết không, tự là thanh trần, hoặc có hoặc không. Chẳng lẽ tánh nghe kia, vì ông mà có không, tánh nghe thật không có, thì ai biết là không?
Vì vậy, A Nan! Tiếng ở trong tánh nghe, tự có sanh có diệt; chứ không phải vì tánh nghe của ông, mà tiếng có sanh có diệt. khiến tánh nghe của ông có hoặc không, ông còn điên đảo, mê hoặc tiếng thành tánh nghe, chẳng trách mê muội lấy cái thường hằng cho là đoạn diệt. Tóm lại không nên nói, lìa các cảnh động tĩnh, thông nghẽn, mà cho rằng không có tánh nghe.
04-39 Ví như một người ngủ say, nằm trên giường gối. Trong nhà có người, khi người đó đang ngủ, giã vải, giã gạo. Người đó trong giấc mơ nghe thấy tiếng giã, nhưng lại cho rằng đó là âm thanh khác. Có khi cho là tiếng trống, có khi cho là tiếng chuông. Ngay trong giấc mơ, người đó tự hỏi tại sao tiếng chuông lại phát ra âm thanh của gỗ đá. Rồi chợt tỉnh dậy, mới biết ngay đó là tiếng chày giã. Người đó nói với người nhà rằng: ‘Khi tôi đang mơ, tôi lầm tưởng tiếng giã này là tiếng trống.’
A Nan, người đó khi đang mơ, có nhớ đến việc động tĩnh, mở mắt, nhắm mắt, thông hoặc tắc không? Mặc dù thân thể đang ngủ, nhưng khả năng nghe vẫn không bị mờ mịt. Dù thân thể con tan rã, ánh sáng của sự sống lụi tàn, thì cái tánh này làm sao có thể bị tiêu diệt được?
Các chúng sinh từ vô thủy đến nay, đều theo đuổi sắc, thanh, ý niệm mà luân hồi không ngừng. Chưa bao giờ giác ngộ được bản tánh thanh tịnh, vi diệu thường hằng. Không theo đuổi cái thường hằng, mà lại theo đuổi sự sinh diệt, vì vậy đời đời kiếp kiếp bị ô nhiễm lưu chuyển luân hồi.
Phương Pháp Tu:
Nếu bỏ qua sinh diệt, mà giữ lấy chân thường, ánh sáng thường hằng hiện tiền, thì căn, trần, thức, tâm sẽ lập tức tiêu tan. Tưởng tượng là bụi bẩn (trần), thức tình là vết dơ (cấu), hai thứ này đều xa lìa, thì pháp nhãn của con sẽ lập tức sáng tỏ. Làm sao không thể đạt đến giác ngộ tối thượng?
Chúng tôi luôn sẵn lòng lắng nghe và hỗ trợ bạn
Email:
Điện thoại:
chonngobalamat@gmail.com
+61 425750840


