THẤU HIỂU NGHĨA LÝ & TIẾN TRÌNH GIẢI THOÁT

Nội dung trên trình bày về tiến trình tu tập và giác ngộ thông qua việc thấu hiểu nghĩa lý của vạn vật để đạt được sự giải thoát. Nguồn tài liệu mượn ví dụ thực tiễn về vai trò của Vitamin B6 và các quy luật đời sống để nhấn mạnh rằng trí tuệ chỉ nảy sinh khi tâm không còn vọng tưởng hay vô minh. Khi con người hiểu rõ bản chất sự vật, tâm sẽ sinh lòng hoan hỷ, dẫn đến trạng thái khinh an, định tĩnh và khả năng quan sát như thực. Quá trình này giúp cá nhân xa lìa tham ái, phá bỏ những tri kiến sai lầm và các quy tắc tự trói buộc để nâng tầm chiều không gian sống. Cuối cùng, mục tiêu cốt lõi là thiết lập phạm hạnh, hoàn tất những việc cần làm và đạt đến sự tự tại tuyệt đối, không còn bị chi phối bởi nghiệp lực. Văn bản khẳng định Phật pháp không rời xa thế gian mà chính là nghệ thuật sống tỉnh thức trong từng hành động nhỏ nhất.

8/2/202637 min read

(Trích giảng Kinh Đại Tập Pháp Môn — Ngày 01 tháng 08 năm 2026)

I. Chánh Văn Kinh Điển

《Kinh Đại Tập Pháp Môn》 Quyển 2:

"Nếu không thấu hiểu các nghĩa lý, thì không thể đối với Pháp mà sinh lòng hỷ lạc; vì thế, nhờ hiểu rõ các nghĩa lý nên tâm sinh vui mừng (hỷ). Do có tâm vui mừng, thân liền được nhẹ nhàng an lạc (khinh an). Do thân được khinh an, liền tương ứng với thọ lạc. Do có thọ lạc, tâm được an định trong Định (Tam-ma-đề / Tam-ma-hễ-đa). Do tâm an định nơi Định ấy, nên có thể biết như thực, lại thấy như thực. Do thấy như thực, liền xa lìa trần cấu, xa lìa tham ái, đạt được trí tuệ giải thoát. Khi trí tuệ giải thoát sinh khởi, liền biết rõ: Sanh đã tận, phạm hạnh đã lập, việc cần làm đã làm xong, không còn tái sinh đời sau nữa."

II. Lời Giảng Mở Đầu: Phật Pháp Ở Ngay Nơi Thế Gian

Đoạn kinh này nói về toàn bộ tiến trình tu tập. Phật pháp chính là thế gian pháp, Phật pháp ở ngay nơi thế gian, không lìa thế gian mà giác ngộ; nếu rời thế gian đi tìm Bồ-đề thì chẳng khác nào tìm sừng thỏ. Đoạn kinh này vô cùng giản dị, rõ ràng, có thể thông đạt tất cả mọi sự lý trên đời.

III. Phân Tích Tiến Trình Tu Tập & Tâm Lý Học Phật Giáo

Đoạn kinh này cực kỳ quan trọng, nếu lúc nào cũng ghi nhớ thì sẽ biết chính xác toàn bộ tiến trình tu tập.

1. Hiểu rõ Nghĩa Lý - Sinh Tâm Hỷ Lạc - Thân Khinh An

Nếu con hiểu thấu đáo về nó rồi, con sẽ sinh khởi lòng hoan hỷ vô cùng lớn. Chúng ta thực sự hiểu câu đầu tiên: "Nếu không thấu hiểu các nghĩa lý, thì không thể đối với Pháp mà sinh lòng hỷ lạc."

Chẳng hạn như trước đây chúng ta chưa từng học về Vitamin B6, không biết tác dụng mạnh mẽ của nó, không biết cơ thể có hơn 100 phản ứng liên quan mật thiết đến nó. Khi không biết, chúng ta chẳng bao giờ để tâm đến B6 — "không thấu hiểu nghĩa lý" thì sẽ không quan tâm, không quan tâm thì không thể sinh lòng hoan hỷ. Nhưng một khi thực sự "thấu hiểu nghĩa lý", biết B6 quan trọng đến thế, liên quan trực tiếp đến sự an lạc hay đau khổ của thân tâm con, con liền sinh lòng hoan hỷ! Con sẽ dốc hết tâm trí đi nghiên cứu xem rốt cuộc 100 phản ứng đó là những phản ứng nào, mỗi phản ứng đang làm gì trong cơ thể, tạo ra tác dụng gì, nó ảnh hưởng thế nào đến tâm lý, đến hệ thần kinh của con. Rồi các vấn đề của cơ thể là do tổng hợp hóa học ra sao, phát sinh phản ứng thế nào... Con càng hiểu chi tiết, tâm con càng hoan hỷ, vì con biết rõ cơ thể mình đang diễn ra chuyện gì. Hơn nữa, con có thể kiểm soát chế độ ăn uống, giúp cho thân tâm đạt được khinh an (nhẹ nhàng an lạc).

Thế trái nghĩa với "khinh an" là gì? Trái nghĩa với "nhẹ" là "nặng". Cảm thấy thân tâm nặng trịch, đi không nổi, tâm quay không chuyển, thân tâm đều trệ lại, rất nặng nề và khó cử động. Thứ hai là "bất an" — thân tâm bồn chồn, bấn loạn. Nếu con biết tất cả những điều này đều liên quan đến ăn uống, chỉ cần điều chỉnh một chất Vitamin B6 thôi là đã liên quan đến hơn 100 yếu tố rồi. 100 yếu tố này quyết định mọi khía cạnh xem con có thể khinh an hay không, hay là vụng về, bấn loạn.

2. Thọ Lạc - Tam-Ma-Đề (Thiền Định) - Nhìn Thấu Như Thực

Từ sự hoan hỷ sẽ sinh ra cảm thọ vui (lạc thọ). Toàn bộ thân tâm định vào cảm thọ vui lạc đó gọi là Tam-ma-đề (Samādhi) — tức là Thiền định.

Con càng làm chủ được nó, càng làm chủ được thân tâm thì con càng hoan hỷ; càng hoan hỷ thì lại càng dễ kiểm soát thân tâm, từ đó sinh ra một cảm thọ vui lạc (lạc thọ).

Con thực sự nếm trải được hương vị này, hương vị này tuyệt vời, toàn bộ thân tâm con liền định vào cảm thọ vui lạc đó. Tam-ma-địa (Samādhi) chính là Định. Tâm con có thể an trụ trong cái Định đó, cũng có thể gọi là Thiền định — tâm an ở trong Thiền định. Thiền định là gì? Chính là cảm thọ vui lạc đã nói ở trên.

Chúng ta nói tiếp xuống dưới: Khi con an ở trong cảm thọ vui lạc đó, an ở trong Thiền định, con sẽ có phát hiện mới. Phát hiện ra cái gì? Con sẽ phát hiện ra tất cả mọi thứ! Vì an ở trong Thiền định lâu rồi, ánh mắt con nhìn người, nhìn sự việc, nhìn vạn vật sẽ khác đi. Con có thể nhìn thấu suốt tất cả một cách tuyệt đối, thậm chí nhìn thấu suốt không chút chướng ngại. Lúc này, con sẽ sinh khởi một loại trí tuệ cao cấp. Trí tuệ cao cấp đó là gì? Gọi là "Như thực tri" (biết đúng như thực) — có thể biết một cách chân thực rốt cuộc sự vật đó là gì. Dù nhìn người, nhìn việc hay nhìn vật, con đều có thể "như thực tri".

Trí tuệ và thần thông vốn có của con đều từ Thiền định mà sinh ra. Đều là từ Bát-nhã đi vào Thiền định, từ Thiền định sinh ra. "Tất cả trí tuệ ta đạt được, đều từ Thiền định mà sinh." Con cứ tra kinh điển mà xem, Phật pháp đang tuyên thuyết đúng điều này.

Vì sao con có thể "như thực tri"? Vì con có thể "như thực quán" (quan sát đúng như thực) những điều đó. Tại sao lại có thể quan sát như thực? Vì tâm con đã gom lại được, đã hội tụ lại rồi, tâm không còn tán loạn nữa, hội tụ vào một điểm nên con có thể quan sát như thực.

Sau khi quan sát như thực, con liền "như thực tri". Con sẽ nhìn thấu suốt tất cả những tham, sân, si, mạn, nghi từ trước đến nay rốt cuộc mang lại cho con điều gì. Những suy nghĩ vẩn vơ hàng ngày, đó gọi là "trần" (bụi bẩn), giống như hạt bụi trong không khí vậy. Mỗi ngày con đuổi theo hết thứ này đến thứ khác, bất kỳ một vọng tưởng nào bay qua con cũng đuổi theo không ngớt. Luôn bị vọng tưởng bỏ rơi, bị nó bỏ rơi rồi lại vơ lấy một vọng tưởng khác chạy theo tiếp; chạy đến cuối cùng vọng tưởng đó biến mất, lại ngồi đó tìm, tìm được vọng tưởng mới lại vơ lấy; vơ lấy vọng tưởng rồi lại chạy, chạy đến cuối cùng biến mất lại đi vơ tiếp.

Con sẽ nhận ra con người sống như vậy: Thứ nhất là vô nghĩa, Thứ hai là có hại, vì con chẳng làm nổi việc gì nữa, thành kẻ bỏ đi rồi!

Cho nên, khi con có năng lực quan sát thấy: "Mình thế này không ổn rồi, ngày ngày vơ lấy mấy thứ này làm gì? Những thứ này chẳng liên quan gì đến cuộc sống thực tế cả, mình chẳng thể nhờ nó mà giàu có, chẳng thể nhờ nó mà lập nghiệp, chẳng thể nhờ nó mà làm việc, mà toàn là phá hoại!" Một khi đã phát hiện ra, con sẽ không đi vơ vét mấy cái vọng tưởng đó nữa, cũng không tin mấy cái vọng tưởng đó là thật, vì con đã quan sát như thực thấy được tác hại của nó, con sẽ không mắc bẫy nữa.

Con người ta toàn sống trong sự mắc bẫy, luôn cho rằng: "Đó là tâm tôi, đó là suy nghĩ của tôi." Thực ra vì con chưa từng quan sát như thực, con không biết rằng đó không phải tâm con, cũng chẳng phải suy nghĩ của con. Đó chỉ là những thứ con từng thấy, từng nghe, từng cảm nhận trong quá khứ, giờ đây nó nổi lên, chỉ là một hạt bụi, một bộ phim, một hình ảnh mà thôi. Thế rồi con bắt đầu thêu dệt, dựa vào chút đó mà bắt đầu bịa đặt lung tung, bịa đến cuối cùng vẫn chỉ là một vọng tưởng. Nó chẳng có gì tồn tại thực sự cả, vì toàn do con tự bịa ra. Dù con bịa ra cái gì, bịa về công việc tương lai, cuộc sống tương lai, hay địa vị tương lai của con lớn thế nào, đó đều do con tự bịa, hoàn toàn không phải sự thật.

3. Ly Trần Ly Tham - Trí Tuệ Giải Thoát

Khi quan sát như thực, con sẽ thấy rõ tham, sân, si, mạn, nghi hay những suy nghĩ vẩn vơ hàng ngày — gọi là "trần" (bụi bẩn) — rốt cuộc mang lại điều gì. Ngày ngày đuổi theo hết vọng tưởng này đến vọng tưởng khác là việc vừa vô nghĩa vừa có hại, khiến con người trở thành vô dụng.

Khi quan sát thấy những vọng tưởng đó chẳng liên quan gì đến cuộc sống thực tế, không giúp ích gì mà toàn phá hoại, con sẽ không vơ vét hay tin vào vọng tưởng nữa. Vọng tưởng chỉ là những hạt bụi, bộ phim, hình ảnh từ quá khứ nổi lên mà con tự thêu dệt, bịa đặt ra chứ không phải sự thật.

Nhờ đi vào Định cảnh, thấy rõ chúng có hại vô ích nên xả bỏ, gọi là "Ly trần ly tham" (xa lìa bụi trần, xa lìa tham ái).

Con người sống trong sự hư vọng như thế thì làm sao thành công được? Đã không thành công, làm sao sống tốt trong thực tế đây? Bình thường con không biết, nhưng đi vào Định cảnh rồi, con có thể thấy rõ như thực rằng những thứ đó thực sự có hại vô ích. Phát hiện ra rồi con sẽ xả bỏ — "Ly trần ly tham" (xa lìa bụi trần, xa lìa tham ái), vì con biết những thứ đó hoàn toàn có hại vô ích. Con sẽ chỉ giữ lại những gì có ích vô hại, còn phàm là thứ có hại vô ích con đều ném đi.

Mọi trần cấu, mọi tham ái đều là thứ có hại vô ích, cho nên con sẽ rời xa nó, rời xa sự tạo tác sai lầm nội tâm đó. Sau khi rời xa những lỗi lầm này, con sẽ phát hiện mình đạt được một loại trí tuệ, trí tuệ gì? Gọi là Trí tuệ Giải thoát (Giải thoát trí).

Trước đây bản thân con cứ tự trói buộc mình vào những người đó, việc đó, vật đó, trong lòng cứ xoay quanh mấy thứ đó. Xoay quanh chúng chính là tự trói buộc, tự mình buộc chặt lấy nó, ôm khư khư lấy nó. Là con tự đi ôm lấy nó, chứ không phải nó đến ôm lấy con! Ví dụ như bất kỳ một vọng tưởng nào lướt qua, là do con cứ ôm chặt lấy nó không thả, rồi bắt đầu bịa đặt lung tung. Bịa đến cuối cùng, cái tự bịa biến mất, đột nhiên hiện ra cái khác, con lại chạy đến ôm cái mới, vứt cái cũ đi. Con mãi quay cuồng trong mấy đoạn video ngắn hư vọng đó, chẳng liên quan gì đến cuộc sống thực tế của con cả, làm lỡ dở hết mọi việc trong đời thực.

Con làm lỡ dở việc, người nhà có vui nổi không? Không vui. Việc công ty con làm lỡ dở, ông chủ có vui nổi không? Cho nên dù là cuộc sống hay công việc, những việc này chắc chắn bị ảnh hưởng. Những suy nghĩ vớ vẩn của con chắc chắn làm hỏng việc của con. Con phát hiện ra nó làm hỏng việc, phá hoại cuộc sống, phá hoại công việc, có hại vô ích, cho nên con sẽ xa lìa nó. Một khi đã xa lìa thì gọi là Giải thoát. Vì trước đây con toàn tự trói buộc, ôm khư khư lấy tham ái, ôm khư khư lấy bụi trần. Giờ không ôm nữa, con được giải thoát rồi, vì con có Trí tuệ Giải thoát, con biết thứ đó có hại vô ích. Đó chính là Trí tuệ Giải thoát. Có loại trí tuệ này, con mới phân biệt được đâu là thứ có ích, đâu là thứ có hại.

Một khi tất cả trần cấu, tất cả tham ái, tất cả những thứ có hại bị ném bỏ hoàn toàn, không còn bám lấy những thứ có hại đó nữa, Trí tuệ Giải thoát sinh khởi một cách trọn vẹn và toàn diện, con sẽ đạt đến trạng thái "Sanh đã tận" (Tôi sinh đã hết).

IV. Các Trạng Thái Giác Ngộ: Sanh Đã Tận, Phạm Hạnh Đã Lập, Bất Thọ Hậu Hữu

Khi tất cả trần cấu và tham ái bị ném bỏ hoàn toàn, Trí tuệ Giải thoát sinh khởi trọn vẹn, con sẽ đạt đến các tầng bậc giác ngộ:

Thế nào gọi là đạt đến "Sanh đã tận"? Đó gọi là Nâng tầm chiều không gian! Nghĩa là bắt đầu đạt được sự tự tại. Con người ta toàn sống trong sự bất tự tại, một khi đã thăng chiều không gian rồi con sẽ có được tự tại.

Ví dụ như ở Không gian 1 chiều (1D), nó chỉ là một điểm, không có trước sau, trái phải, trên dưới, cho nên nó không tự tại, bị giới hạn trong một điểm. Nâng chiều không gian lên, nó biến thành một đường thẳng (2D) — đường thẳng thì có trước có sau, không còn bị giới hạn ở một điểm nữa, thế là đã thăng duy. Từ 2 chiều lên 3 chiều (3D), không chỉ có trước sau mà còn có trái phải, thành một mặt phẳng và khối không gian, trước sau trái phải đều tự tại, đó là 3 chiều. Còn 4 chiều (4D) là có cả trước sau, trái phải, trên dưới. Nghĩa là chiều không gian của con càng cao, mức độ tự tại của con càng lớn.

"Sanh đã tận" chính là sự tự giới hạn của bản thân hoàn toàn không còn nữa, không còn ôm khư khư bất kỳ một mảy mảy tơ tóc nào nữa, từ đó đạt được tự do tự tại. Vì nếu con ôm chặt lấy nó — ví dụ như có một cái cây, con ôm chặt lấy gốc cây, lúc này con muốn đi về phía trước cũng không được, lùi lại không xong, trái phải trên dưới đều chịu chết, vì con ôm chặt lấy nó rồi, làm sao tự tại nổi? Nhưng một khi con buông cái cây đó ra, con liền được tự tại.

Tuy nhiên con phải mở rộng sự tự tại của mình. Ví dụ từ một điểm biến thành đường thẳng, con mở rộng trước sau, trước sau được tự tại. Rồi mở rộng trái phải, trái phải tự tại. Trước sau, trái phải, trên dưới đều mở rộng rồi thì tất cả đều tự tại, không còn thứ gì giới hạn được con nữa. Nếu tất cả các chiều không gian con đều khai phá hết, con sẽ đi vào trạng thái Vô vi — trạng thái không còn chiều không gian nào trói buộc nữa. "Vi" ở đây là hành vi, tạo tác. Vì tất cả các chiều không gian không còn nữa, con bước vào trạng thái không còn cố ý tạo tác nữa. Không tạo tác chính là Vô vi, Vô vi thì đạt Đại Tự Tại, không gì giới hạn được con, con thông đạt tất cả, cho nên gọi là "Sanh đã tận".

1. Sanh Đã Tận (Thăng Chiều Không Gian )

"Sanh đã tận" chính là sự tự nâng tầm chiều không gian để đạt được sự tự tại:

  • 1 chiều (1D): Chỉ là một điểm, không có trước sau, trái phải, trên dưới - bị giới hạn, không tự tại.

  • 2 chiều (2D): Mở rộng thành đường thẳng, có trước có sau.

  • 3 chiều (3D) & 4 chiều (4D): Mở rộng trái phải, trên dưới - chiều không gian càng cao, mức độ tự tại càng lớn.

  • Vô vi: Khi tất cả các chiều không gian trói buộc đều bị phá bỏ, không còn cố ý tạo tác - đạt Đại Tự Tại, thông đạt tất cả, đó chính là "Sanh đã tận".

Muốn thăng chiều không gian, trước tiên phải Ly trần ly tham: vứt bỏ mọi suy nghĩ vớ vẩn (vọng tưởng), chỉ giữ lại và xây dựng trí tuệ để nhìn nhận mọi thứ. Phải làm cho rõ vọng tưởng trước đã: cái gì là vọng tưởng, cái gì là trí tuệ. Ném hết tất cả vọng tưởng đi — mấy cái suy nghĩ vớ vẩn lung tung đó đều là vọng tưởng, vứt vọng tưởng đi, chỉ giữ lại trí tuệ. Chưa có trí tuệ thì làm sao? Xây dựng, kiến lập trí tuệ cho riêng mình, chỉ dùng trí tuệ để nhìn nhận mọi thứ, không dùng trần cấu của con để nhìn nhận. Trần cấu chính là mấy cái suy nghĩ vớ vẩn của con đó.

Đi tốt bước đầu tiên này đi, đi tốt bước này gọi là Giải thoát, gọi là Thăng chiều không gian. Giải thoát khỏi 1 chiều rồi thì đi vào 2 chiều, hiểu rõ trước sau rồi thì hiểu tiếp trái phải, thế là lại thăng chiều không gian, con có thể từng bước thăng chiều không gian. Cuối cùng, mọi chiều không gian đều không còn ở nơi con nữa, bước vào Vô vi, trạng thái chân thực đó gọi là Phạm hạnh — "Phạm hạnh đã lập".

2. Phạm Hạnh Đã Lập

Phạm hạnh là gì? Còn gọi là Thanh tịnh hạnh. Thanh tịnh hạnh là gì? Chính bản thân con vốn dĩ đã thanh tịnh rồi! Giống như màn hình máy tính của con vậy, bản thân nó vốn thanh tịnh, dù có chiếu phim gì, chiếu tài liệu gì thì màn hình chưa từng bị nhiễm bẩn bởi mấy thứ đó. Chính vì không bị nhiễm bẩn nên nó mới thanh tịnh, do đó nó có thể tự do hiển hiện tất cả. Nếu bị nhiễm bẩn thì gay rồi, mọi hình ảnh sẽ bị đè lên nhau, đè lên nhau rồi thì chẳng ra hình thù gì nữa. Ví dụ 10 bộ phim chiếu cùng lúc đè lên nhau thì con chẳng nhìn rõ được cái gì cả. Thế nên bản thân nó phải thanh tịnh mới có thể phản chiếu tất cả.

Khi con thực sự nhận ra cái "Phạm", cái "Thanh tịnh" đó của con — Phạm chính là thanh tịnh, chính là bản thể con. Lúc này con mới thực sự nhận biết chính mình, một chính mình chân thật, từ đó mà kiến lập. Trước đó, con chẳng biết thế nào là chính mình chân thật, một khi đạt đến đây rồi, con mới thực sự biết thế nào là chính mình, và không bao giờ nhầm lẫn nữa. Nhận biết và kiến lập lại đúng bản thể thanh tịnh, chân thật không biến đổi đó của mình thì gọi là "Phạm hạnh đã lập".

3. Sở Tác Đã Bàn & Bất Thọ Hậu Hữu

  • Sở tác đã biện(việc cần làm đã làm xong): Mọi phiền não, trói buộc đều đã giải thoát, tất cả việc cần làm đều đã làm xong, không còn gì cần phải bận tâm làm nữa. Nghĩa là mọi trói buộc, mọi phiền não đều đã giải thoát hoàn toàn, không còn việc gì cần con phải bận tâm làm nữa.

  • Bất thọ hậu hữu (không còn tái sinh đời sau): Nghĩa là con không còn bị lưới nghiệp lôi kéo để nhận thân nghiệp báo tái sinh đời sau. Nếu có xuất hiện ở đâu thì đó là Thân nguyện lực — Con có xuất hiện ở đâu đi nữa cũng không phải do nghiệp lực lôi kéo đến đó để nhận thân nghiệp báo, vì con không còn loại nghiệp đó nữa. Nếu có "hậu hữu" (sự hiện hữu sau này) thì đó là Thân nguyện lực — dựa vào nguyện lực mà xuất hiện ở bất kỳ đâu, dưới bất kỳ hình dáng nào, dựa vào nguyện lực để giúp đỡ người thân trong quá khứ hoặc độ hóa chúng sinh. Còn xét về bản thân con, không còn chịu "hậu hữu" nữa.

Đó chính là toàn bộ tiến trình của Phật pháp.

V. Ứng Dụng Vào Đời Sống: Xóa Bỏ Vô Minh & Thiết Lập Quy Trình Chuẩn (SOP)

Nhìn lại chuyện thế gian, nếu nắm rõ tác dụng của dinh dưỡng, con sẽ không phá hoại sự an lạc của thân tâm— Chúng ta mượn chuyện thế gian, mượn đúng một chất Vitamin B6 và tác dụng của nó đối với cơ thể con: Nếu con thực sự nắm rõ hoàn toàn, trạng thái thân tâm khó chịu do thiếu hụt vitamin sẽ không còn nữa. Vì con biết cái gì nên ăn, cái gì không nên ăn, từ đó bảo vệ thân tâm con, thân tâm con không còn xuất hiện những trạng thái bệnh tật đó nữa, thế là cũng đạt đến thành tựu cuối cùng. Thành tựu cái gì? Không phá hoại sự an lạc của thân tâm mình.

Con người ta ngày nào cũng phá hoại thân tâm do tri kiến sai lầm: chỉ ăn theo khẩu vị yêu thích dẫn đến dưỡng chất này dư thừa sinh bệnh khổ, còn dưỡng chất khác lại thiếu hụt trầm trọng—Cho rằng cái này ngon, cái kia không ngon; tôi chỉ ăn cái này, không ăn cái kia; cái này hợp vị, cái kia không hợp vị... Rỗi ôm lấy mấy cái hợp vị đó, bài bác những cái không hợp vị, điều đó quyết định chắc chắn có những dưỡng chất của con bị dư thừa tràn lan quá mức. Vì thứ con thích ăn con chỉ ăn mỗi nó, nó dư thừa tràn lan thì sinh ra bệnh khổ. Còn những thứ con không ăn, những thành phần dinh dưỡng trong đó con vĩnh viễn bị thiếu hụt, thậm chí tế bào của con sắp chết đói rồi, nó rất cần những nguyên liệu đó để bổ sung nhưng con nhất quyết không cho. Tại sao không cho? Vì không ngon, tôi không thích!

Con nhìn xem, cái "thích" hay "không thích" đó từ đâu ra? Con thử tìm hiểu xem, nước phân trâu các con có thích không? Nước phân trâu có thích uống không? Vì chúng ta chưa từng được huân tập rằng thứ đó tốt, trong tâm chúng ta mặc định nó không tốt, không thể nào tốt được. Cái đó còn không bằng phân người, người ăn đồ ít nhất còn sạch sẽ vệ sinh. Phân người còn chẳng ăn được, con trâu cái gì cũng ăn, cỏ gì cũng xơi thì làm sao mà tốt được? Chúng ta không cho là nó tốt, nên nhất quyết không ăn. Nhưng có những người từ nhỏ đã được huân tập kiến lập tri kiến rằng đó là đồ tốt, thế nên đối với loại người đó, đã hình thành tri kiến và thói quen ấy rồi thì họ nhất định cho rằng đó là đồ tốt.

Ghi nhớ: Tri kiến từ đâu ra? Từ sự huân tập từ nhỏ mà ra, từ những định nghĩa được thiết lập—Tri kiến sai lầm hình thành từ sự huân tập từ nhỏ, chịu ảnh hưởng từ cha mẹ, nhà trường, xã hội. — vì mọi người đều nói thế nên tự mình thiết lập một định nghĩa, định nghĩa nó là tốt hoặc không tốt.

Người có trí tuệ thì họ dựa vào trí tuệ, họ không định nghĩa cái gì cả, họ chỉ có trí tuệ thôi. Nếu cứ định nghĩa mù quáng vô mục đích, thậm chí định nghĩa xong con cũng không chịu tìm hiểu cho rõ ràng, thì chắc chắn nó sẽ ảnh hưởng đến con cả đời. Tri kiến sai lầm ảnh hưởng đến con cả đời! Con người ta cứ liên tục kiến lập đủ loại tri kiến sai lầm, rồi sống mãi trong sai lầm.

Chẳng hạn như làm một bài toán, nếu nguyên lý con làm sai, công thức sai, quá trình tính toán cũng sai, con bảo kết quả có đúng nổi không? Áp dụng vào bất kỳ việc gì con làm cũng vậy, nguyên lý sai, công thức sai, quá trình làm việc sai thì chắc chắn là thất bại.

Con toàn thất bại thì ai coi trọng con cho nổi?

  • Nấu ăn: Tỉ lệ gạo, nước, hỏa hầu lửa to lửa nhỏ phải chuẩn xác. Thiếu hay thừa một chút đều thành cơm khê, cơm sống, cơm cháo.

  • Mặc áo: Phải tuân theo quy luật thời tiết và cấu trúc trang phục.

Sống vi phạm quy luật, quy tắc thì chắc chắn đau khổ. Việc nghĩ vớ nghĩ vẩn từng phút từng giây chính là đang tự tàn hại chính mình. Làm mà không hiểu nghĩa lý của việc mình làm chính là Vô minh.

Cho nên, ngay cả việc đơn giản nhất là ăn cơm, mặc áo cũng phải tuyệt đối tuân theo quy luật, quy tắc mà làm thì con mới sống dễ chịu được. Nếu vi phạm quy luật, quy tắc thì thân tâm không dễ chịu, sống không yên ổn, chắc chắn là đau khổ.

Vậy thì tâm chúng ta, cái tâm thế nào là đúng, cái tâm thế nào là sai? Cái tâm nghĩ vớ nghĩ vẩn lung tung của con là đúng hay sai?

Vì sao lại nói nó sai? Chẳng lẽ con người ta ngày nào, thậm chí từng phút từng giây lại cố ý phạm sai lầm sao? Không thể nào. Con có ăn nhầm thức ăn không? Không đúng không? Con có mặc nhầm quần thành áo không? Không đúng không? Con biết mấy cái đó là sai thì con đâu có làm sai nữa. Nhưng tại sao con lại cứ sống mãi trong cái sai?

Điều này lại quay về việc chúng ta học "Thấu hiểu mọi nghĩa lý”. Con phải hiểu cái tâm đó của con, con phải hiểu cái tâm đó là gì, nó mang lại cái gì, mỗi một loại tâm con có biết "nghĩa" của nó hay không? Con phải biết rõ ràng mạch lạc, con sẽ phát hiện ra điều này quá quan trọng: "Sao từng phút từng giây mình toàn tự hại mình thế này? Sao mình chưa từng nghĩ rằng mình lúc nào cũng đang tự hại mình chứ?" Nếu con hiểu thấu cái tâm của con rồi, con sẽ phát hiện ra nó thực sự đang hại con. Vấn đề là con có hiểu rõ được rằng cái việc nghĩ vớ nghĩ vẩn từng phút từng giây đó là nó đang hại con không? Chẳng hạn như cái gì ngon thì tôi ăn thêm một chút, cái đó là hại tôi sao?

Làm sao con biết thiếu cái nào, thừa cái nào? Không biết mà cũng dám ăn? Đó chẳng phải con đang tàn hại chính mình sao? Giống như nấu ăn vậy, không biết nên bật lửa to thế nào, không biết cho bao nhiêu gạo, không biết cho bao nhiêu nước, cứ thế phang đại vào, kết quả chắc chắn làm hỏng bữa cơm đó. Quần áo mặc lên người cũng kệ xáng, cứ thế trùm vào.

Nếu thực sự ngu si thì đã không làm. Thực sự ngu si thì sẽ không biết làm. Thế thử suy nghĩ xem con đã "hiểu rõ các nghĩa" chưa? "Nếu không hiểu rõ các nghĩa", nghĩa là bất kỳ việc gì con làm con cũng không biết nghĩa lý của nó mà con vẫn dám làm, trong Phật giáo có một từ nổi tiếng gọi là Vô minh. Chính là không hiểu nghĩa lý của nó mà vẫn dám làm, đó gọi là Vô minh! Chúng sinh đều sống trong Vô minh, nghĩa là không hiểu nghĩa lý mà vẫn cứ đòi làm. Đã vậy làm xong còn phải bắt người ta khen mình làm tốt; bảo làm không tốt là không được, người ta không ăn là mình lại bất mãn. Tại sao lại như vậy? Vì đó là trạng thái thường tình của chúng sinh, tất cả chúng sinh đều như thế.

Vậy Phật pháp là gì? Phật pháp chính là Giác ngộ. Từ "Phật" là âm dịch chứ không phải dịch nghĩa. Dịch theo nghĩa lý của nó thì gọi là Giác — từ "Phật" nghĩa là Giác. Thế nào là Giác? Chính là hiểu rõ rốt cuộc nó là thế nào, hiểu rõ gọi là "hiểu rõ các nghĩa". Nếu không hiểu rõ thì gọi là "không hiểu rõ nghĩa". Không hiểu nghĩa lý, không rõ ràng mà vẫn dám nghĩ, dám nói, dám làm — đó là trạng thái thường tình của chúng sinh, sống trong Vô minh cái gì cũng dám phang, lại còn đòi thành công! Thế con thành công làm sao được?

Trong Phật pháp, nhất định phải "hiểu rõ các nghĩa", điều này cực kỳ quan trọng. Con thực sự rõ ràng minh bạch thì tâm con mới sinh hoan hỷ, niềm hoan hỷ đó mới là chân thật, vì việc con làm chuẩn xác không một cặn kẽ sai sót.

Trước tiên phải làm rõ cái tâm đã! Chính là cái tâm ngày ngày phút phút nghĩ vớ nghĩ vẩn này đây, rốt cuộc nó có ích hay có hại cho con, làm rõ cái này trước đã.

Con người dành đống lớn thời gian vào việc suy nghĩ vớ vẩn, thậm chí không có gì nghĩ thì lấy điện thoại ra xem video ngắn để suy nghĩ. Xem rồi, thậm chí nằm ườn ra đó mà suy nghĩ, từng làm thế bao giờ chưa? Con người đem thời gian quý báu này dùng vào cái việc có hại đó, con đang tàn hại chính mình đấy, con có biết không? Nếu biết thì gọi là "hiểu rõ các nghĩa", không biết thì gọi là "không hiểu rõ các nghĩa". Đã "không hiểu rõ các nghĩa" lại còn dám làm bừa làm rụi, vì chẳng biết cái gì mà vẫn cứ làm, vẫn cứ nói, nên chỗ nào cũng đang tự rước lấy nhục nhã. Cho dù không ai nói ra, ai cũng lừa con, nhưng trong lòng con tự biết rõ rốt cuộc con làm nổi cái trò gì! Con có làm tốt nổi một nghề không? Nếu con học bất kỳ một điểm nào thật tinh xảo, hiểu thật thấu đáo, làm thật quy chuẩn chuẩn mực, ai ai cũng thưởng thức con, con sẽ trở thành chỗ dựa của người khác. Vì người khác không làm được, chỉ mình con làm được, không có con người ta rất khó sống. Còn cái kiểu toàn nghĩ vớ vẩn, làm bừa làm rụi thì loại người đó là người không có năng lực sinh tồn!

Con lúc nào cũng phải có một chút tư duy bình thường, nói năng bình thường, làm việc bình thường, ít nhất phải có một điểm như thế. Chẳng hạn như trong bất kỳ lĩnh vực công việc nào, ở một điểm này con có thể làm tốt hoàn toàn, thì công ty có thể dựa vào con để vận hành tốt hơn. Nếu mỗi nhân viên trong công ty đều nghĩ vớ vẩn, làm bừa làm rụi thì con bảo kết quả cuối cùng của công ty đó chắc chắn là tan đàn xẻ nghé, phá sản! Một gia đình chẳng lẽ không giống như vậy sao? Nếu đàn ông chỉ nghĩ chuyện đẹp đẽ của đàn ông, phụ nữ chỉ nghĩ chuyện đẹp đẽ của phụ nữ, việc bình thường trong nhà chẳng chịu làm, toàn ngồi đó nghĩ vớ vẩn, làm bừa làm rụi thì con bảo cái nhà đó duy trì được mấy ngày? Cho dù có duy trì cả đời thì đó cũng là một gia đình hỗn loạn tơi bời, tuyệt đối không phải là một gia đình bình thường.

Trong cuộc sống, công việc hay gia đình, nếu không có SOP (Quy trình vận hành chuẩn) mà chỉ làm theo cảm giác, tin vào vọng tưởng bốc đồng thì đời người chỗ nào cũng thất bại:

  • Hôn nhân: Hôn nhân thực chất là hai người bạn đồng hành trên đường đời, tự nguyện nương tựa, giúp đỡ lẫn nhau. Cả hai đều là những cá thể độc lập có nghiệp và tập khí riêng, không ai thuộc sở hữu của ai—Chẳng hạn như thế nào gọi là kết hôn? Các con không những không biết cái gì mới là đúng, mà các con toàn biết cái sai! Kết hôn rồi con cho rằng người đàn ông là của người phụ nữ, đúng không? Người đàn ông nhà người ta, thì người phụ nữ biến thành của người đàn ông đó. Thế rốt cuộc con biến thành thế nào? 10 năm trước khi kết hôn, lúc con chưa gặp chồng con, con có biết anh ta là của con không? Thế con kết hôn bao nhiêu năm rồi, anh ta có thực sự là của con không? Cho nên các con đến cả định nghĩa cũng không có, toàn là hỗn loạn, toàn là nghĩ vớ vẩn rồi làm bừa làm rụi!

Ghi nhớ: Thế nào gọi là hôn nhân? Chỉ là người bạn đồng hành trên con đường đời mà thôi. Trên cả chặng đường đời, mọi người kết bạn cùng đi, có thể hỗ trợ nhau được chút nào thì hỗ trợ, đều tự nguyện lòng thành hỗ trợ lẫn nhau, đó gọi là kết hôn.

Hơn nữa, hai chữ "Kết Hôn" (结婚) này, từ thời tổ tiên Trung Hoa bắt đầu viết ra hai chữ này, định nghĩa hai chữ này chính là: tốt nhất là con đừng có "kết" (thắt nút/buộc lại), một khi đã "kết" rồi là người phụ nữ chắc chắn sẽ "hôn" (hôn mê- đầu óc mê muội). Đó gọi là Kết Hôn! Chữ Hán gọi là chữ Tượng hình. Thế nào là chữ Tượng hình? Hình dáng của chữ đó đại diện cho ý nghĩa của nó. Không "kết" thì người phụ nữ không "hôn", hễ "kết" một cái là người phụ nữ mê muội ngay. So sánh ra thì phụ nữ mê muội nghiêm trọng hơn, cho nên chữ "Hôn" (昏) mới thêm bộ Nữ (婚) vào! Tất nhiên đàn ông cũng mê muội, chỉ là đàn ông mê muội không nghiêm trọng bằng, lòng tham của đàn ông không nặng bằng nên họ mê muội không nghiêm trọng bằng. Xét về mức độ mê muội nghiêm trọng thì là phụ nữ nghiêm trọng hơn, cho nên mới gọi là Kết Hôn. Kết không? Kết xong rồi là con bắt đầu mê muội, ngày ngày đầu óc mê mê mụ mụ suốt cả đời, gọi là Kết Hôn!

Nếu đến cả định nghĩa cũng định nghĩa sai, còn định nghĩa thành đàn ông là của phụ nữ, phụ nữ là của đàn ông, thì không chỉ tự lừa dối mình mà còn lừa dối người khác. Chúng ta tốt nhất đừng lừa chính mình, cũng đừng đi lừa người khác, vì vốn dĩ làm gì có chuyện ai là của ai! Chỉ có thể nói trên chặng đường đời, mọi người kết bạn cùng nương tựa, giúp đỡ lẫn nhau. Nêu có một bên trí tuệ cao hơn — ví dụ con trí tuệ cao hơn, con dẫn dắt người đàn ông nhà con đi ít đường vòng hơn, lúc gặp gập ghềnh đừng để bị ngã, nhìn đường cho rõ, bây giờ là gờ đất thì bước qua, là cái rãnh thì đi chậm lại kẻo ngã xuống rãnh — nâng đỡ lẫn nhau. Đó là bạn đồng hành, chứ không phải ai là của ai cả. Chẳng ai có thể là của ai được, bao gồm cả con cái, nó cũng không thể là của cha mẹ, không thể là của riêng một ai, nó đều là những cá thể độc lập.

Mỗi người đều có nghiệp, tập khí, phiền não của riêng mình, cho nên con muốn hòa tan vào nhau cũng không hòa tan nổi. Trừ khi các con có nguyện lực mạnh mẽ, kiếp trước con thực sự phát nguyện "đồng nguyện đồng hành", thậm chí có thể "đồng tâm", thì kiếp này khi con gặt hái quả thực sẽ có những điểm chung đó. Nhưng thông thường các con đều không tu hành, không biết chuyện phát nguyện, cũng chẳng biết gieo nhân thế nào, toàn dựa vào nghĩ vớ nghĩ vẩn, làm bừa làm rụi. Mọi người ở cùng nhau, cùng nhau nghĩ vớ nghĩ vẩn, cùng nhau làm bừa làm rụi, thế là náo nhiệt rồi!

  • Trách nhiệm: Người làm chồng, làm vợ, làm cha mẹ phải học tập chuẩn xác quy trình và trí tuệ (như thai giáo, dinh dưỡng) để đảm bảo thế hệ sau khỏe mạnh, thay vì truyền tiếp nếp nghĩ vớ vẩn, làm bừa làm rụi.

Lời Kết

Ghi nhớ: Phải tuyệt đối chính thống lên! Phải có trí tuệ tuyệt đối! Trí tuệ tuyệt đối mới bảo đảm cho con tuyệt đối toại nguyện như ý, con muốn cái gì sẽ có cái đó, không bao giờ thất bại. Chỉ cần con vi phạm quy luật, vi phạm quy tắc, vi phạm SOP — các con làm gì có SOP (Standard Operating Procedure - Quy trình vận hành chuẩn)! Các con chưa bao giờ thiết lập quy trình vận hành chuẩn cả. Con kết hôn rồi, tính từ ngày kết hôn, quy trình vận hành chuẩn của con là gì? Con không có, chưa từng kiến lập. Được rồi, người đàn ông nhà con, quy trình vận hành chuẩn của anh ta là gì? Không có, chưa từng kiến lập. Được rồi, quy trình vận hành chuẩn của việc sinh con là gì? Không có, chưa từng kiến lập!

Nếu không có quy trình vận hành chuẩn thì chính là nghĩ vớ nghĩ vẩn, làm bừa làm rụi. Thế nào gọi là làm bừa làm rụi? Chính là không có bài bản bình thường, không có quy tắc, không có thứ tự, toàn tin vào vọng tưởng, làm theo cảm giác! Vọng tưởng đến cái gì làm cái đó, cảm giác gì đến là quất cái đó, dựa vào bốc đồng mà bắt đầu. Mặc kệ cơm nấu chín hay chưa, mặc kệ nhiều nước hay thiếu gạo, không thèm quan tâm, thậm chí còn chẳng biết.

Ghi nhớ: Sống trong suy nghĩ vớ vẩn, sống trong làm bừa làm rụi thì đời người chỗ nào cũng thất bại là chuyện bình thường, chỗ nào cũng tự treo mình lên giàn nhục nhã là chuyện bình thường, vì đều do chính tay con tạo ra cả! Tại sao lại tạo ra cái trạng thái này? Vì con không có một quy trình vận hành chuẩn, thậm chí còn chẳng biết gì.

Chính là con hiểu rõ Pháp thực sự có lợi cho con thì con mới hoan hỷ, mà càng học lại càng hoan hỷ, gọi là Pháp hỷ sung mãn — vì Pháp mà hoan hỷ nên gọi là Pháp hỷ sung mãn.

Đoạn này cực kỳ quan trọng! Nếu con biết chính xác, con sẽ biết toàn bộ tiến trình tu tập là gì. Đối với người thế gian, sau khi con biết chính xác rồi con sẽ không nghĩ vớ nghĩ vẩn, không làm bừa làm rụi nữa. Con sẽ ngoan ngoãn, nghiêm ngặt tuân theo quy luật quy tắc mà làm, mà nói, mà sống, thì con chắc chắn là người thành công!

Link tiếng Anh
Nhấn để xem

Chúng tôi luôn sẵn lòng lắng nghe và hỗ trợ bạn

Email:

Điện thoại:

chonngobalamat@gmail.com

+61 425750840