Như Huyễn Nhẫn

Trong hanh trinh tu tap, viec nhan dien ban chat cua the gioi khong chi la ly thuyet suong ma la mot cuoc cach mang ve nhan thuc. Mot trong nhung trang thai chung ngo then chot la Nhu Huyen Nhan — kha nang nhan biet va chap nhan thuc tai nhu mot su huyen hoa, tu do dat duoc su tu tai giua coi mong.

6/30/202625 min read

Như Huyễn Nhẫn: Nhận Diện Thực Tại Như Một Giấc Mộng

Trong hành trình tu tập, việc nhận diện bản chất của thế giới không chỉ là lý thuyết suông mà là một cuộc cách mạng về nhận thức. Một trong những trạng thái chứng ngộ then chốt là Như Huyễn Nhẫn — khả năng nhận biết và chấp nhận thực tại như một sự huyễn hóa, từ đó đạt được sự tự tại giữa cõi mộng.

1. Định nghĩa về Mộng và Sự Đồng Nhất giữa Ngày và Đêm

Nhiều người lầm tưởng mộng chỉ là những gì xảy ra khi nhắm mắt ngủ sâu. Nhưng dưới lăng kính của bậc trí giả, sự phân biệt giữa "thực" và "mộng" thực chất chỉ là ảo giác.

Kinh A-tỳ-đạt-ma Phát Trí Luận, quyển 2 chép: “Mộng gọi là pháp gì? Đáp: Khi ngủ say, tâm và tâm sở pháp chuyển động nơi cảnh sở duyên. Người đó sau khi tỉnh giấc, nương theo ký ức mà có thể kể lại cho người khác: ‘Tôi đã mộng thấy sự việc như thế này, như thế này.’ Đó gọi là mộng”.

Thầy khẳng định: Giấc mơ ban đêm và "giấc mơ giữa ban ngày" hoàn toàn cùng một khuôn mẫu vận hành, y xì đúc nhau không khác một li.

  • Mô hình vận hành: Cả hai đều được cấu thành từ Tâm, Tâm sở pháp (lòng tham, sân, si, mạn, nghi thúc đẩy) và Sở duyên pháp (người, sự, vật trước mắt làm đối cảnh).

  • Sự khác biệt về nguồn truy xuất dữ liệu:

    • Ban ngày: Chúng ta truy xuất dữ liệu thông qua Năm căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân) đối diện trực tiếp với Năm trần ở hiện tại.

    • Ban đêm: Tâm thức đóng cửa năm căn, lôi dữ liệu từ kho lưu trữ ký ức đời đời kiếp kiếp, phối hợp với tâm thức lúc đó (phiền não hay trí tuệ) để hiện cảnh.

Thầy chỉ ra một nghịch lý đầy mỉa mai: Ban ngày bạn gặp chuyện kinh hãi thì có thể "chạy thoát" bằng cách rời khỏi đối cảnh vật lý; còn ban đêm, vì đối cảnh là ký ức nằm ngay trong tâm, nên bạn "có chạy đằng trời cũng không thoát nổi". Tuy nhiên, bất luận bạn chạy được hay không, hiệu quả sinh ra trên tâm thức đều y như nhau. Đêm đến con đi ngủ, hễ cứ ngủ say một cái là đóng chặt cánh cửa của năm thức lại, lúc này con lập tức cách biệt hoàn toàn với thế giới thực tại. Đối với con mà nói, thế giới thực tại không còn tồn tại nữa. Nhưng sau khi con tỉnh dậy, thế giới thực tại lại tồn tại, còn thế giới trong mơ lại không tồn tại nữa. Ở đây có một điểm mấu chốt: Rốt cuộc những gì trong mơ là thật hay là giả? Rốt cuộc thực tại trước mắt là thật hay là giả? Con phải nghiên cứu cho thật thấu triệt chỗ này, rồi con sẽ phát hiện ra: con đi bận tâm về nó, con coi nó là thật thì nó là thật; con coi nó là giả thì nó là giả. Thực tại chỉ là thật khi con "nhận" nó là thật. Nó là thật hay giả, tất cả chỉ nằm ở một Niệm của con.

2. Bản chất của Thực tại: Hiện tượng Huyễn hóa của Nghiệp Duyên

Bản chất của chúng thảy đều là hiện tượng huyễn hóa, bất luận là mơ ban ngày hay mơ ban đêm, đều là hiện tượng huyễn hóa cả. Nương vào cái gì để huyễn hóa? Nương vào cái Nghiệp của con mà huyễn hóa. Con có nghiệp gì thì nó huyễn hóa ra cái đó, cũng giống như ký ức của con vậy. Con có ký ức gì thì con mới có thể nghĩ ra được thứ đó. Thực tại không phải là một khối vật chất cố định, mà là một quá trình hiển thị dữ liệu liên tục. Thầy sử dụng hình ảnh ẩn dụ về việc "gõ chữ trên màn hình": Con tạo nghiệp (nạp dữ liệu bằng hành động, lời nói, ý nghĩ) thì hiện tượng liền hiển thị trên màn hình cuộc đời. Tại sao lại huyễn hóa ra? Vì con đang gõ chữ, vì con đang nạp vào; dù là nạp bằng bàn phím hay nạp bằng giọng nói, con cứ nạp vào là chữ liền hiển hiện. Con người ta cũng thế thôi, tạo nghiệp chính là đang nạp vào, hễ gặp duyên là nó hiển hiện ra. Cho nên, đó chỉ thuần túy là hiện tượng hiển hiện của nghiệp duyên, gọi là "như hóa nhân" (người do hóa hiện ra). Con tạo nghiệp gì thì sẽ huyễn hóa ra hiện tượng đó.

Bản chất của mọi sự vật, con người chính là Nghiệp duyên ảnh tượng (hình ảnh của nghiệp duyên) và là những Như hóa nhân (người do biến hóa ra).

  • Thiện nghiệp: Biến hiện ra cảnh giới an lạc, hạnh phúc tùy theo công đức lực.

  • Ác nghiệp: Biến hiện ra sự đau khổ, bế tắc.

Cái hiện tượng huyễn hóa này, cũng có thể gọi là hiện tượng biến hóa, là do con thể hiện cái công đức lực của mình mà biến hiện ra nó đấy. Con tạo ác nghiệp thì con biến hiện ra một đống đau khổ, bao gồm cả thế giới con cảm nhận, con người, sự vật con cảm nhận thảy đều là đau khổ. Con tạo thiện nghiệp thì hiện tượng biến hiện ra, hiện tượng huyễn hóa ra thảy đều là an lạc.

Cho nên, con đối với hiện tượng đau khổ, hiện tượng an lạc mà nảy sinh chấp trước cho là thật có, thì đó chính là chúng sinh mê muội.

Phật biết rõ những hiện tượng này đều là hóa có, là biến hóa, là huyễn hóa, là thứ được thiết lập tùy tâm sở dục. Còn như bảo thiết lập thế nào — vì dù là chúng sinh hay là Phật thì ai chẳng muốn hết khổ được vui. Vậy Người biến hóa nó kiểu gì?

Trong này nó có quy luật, có quy tắc, có nguyên lý của nó. Con nương theo quy luật, quy tắc, nguyên lý một cách chuẩn xác không một sai sót, thì con muốn cái gì là có cái đó. Nguyên lý chuẩn xác không sai sót, muốn cái gì là có cái đó. Còn nếu con không hiểu nguyên lý quy tắc, cũng chẳng biết quy luật của nó ra làm sao, thì con sẽ làm càn làm bậy một hồi. Cứ đi tin vào vọng tưởng, nương theo cảm giác, dựa vào xung động, kiểu như: "tôi cứ đòi cái quả ngay lập tức cơ, chứ cái tiến trình này phiền phức quá". Cái trò "không có nhân mà đòi gặt quả" là tà kiến, đời đời kiếp kiếp không bao giờ hiện thực hóa được. Thế là con sẽ vĩnh viễn bị giam cầm trong cái ma trận của nỗi khổ "cầu không được", không cách nào thoát ly nổi.

Bởi vậy, trước hết chúng ta phải biết rằng những hiện tượng bất luận là tốt hay xấu này, chỉ đơn thuần là hiện tượng mà thôi, là huyễn hóa, là không chân thật. Nó không ngừng biến đổi, không có một vật nào mà lại không biến đổi cả; thứ có thể biến đổi thì đều là huyễn hóa, thứ không biến đổi mới là chân thật. Con — cái "Chân thật chính con" ấy — nó là thứ không biến đổi, nó không phải là huyễn hóa. Thế nhưng, con lại có thể biến hóa ra tất cả mọi thứ một cách hoàn hảo, vấn đề chỉ là con đã nắm vững nguyên lý quy tắc hay chưa mà thôi.

Mấy cái này là cốt lõi, là điểm yếu hại, là trọng tâm. Nếu muốn thâm nhập vào, thì không phải chỉ nắm được trọng tâm là xong đâu, con phải bóc tách chẻ nhỏ nó ra một cách thật chi tiết. Ví dụ như từng cái vọng tưởng của con, con nhìn thử xem, nếu con không có cái đống ký ức đó thì con lấy cái gì mà nghĩ? Con không có tham, sân, si, mạn, nghi thì con còn có sở thích với chẳng không sở thích cái nỗi gì?

Từng cái một đều đem ra bóc tách, bóc tách cho đến cuối cùng, không còn bất kỳ một điểm nào con bị mơ hồ mê muội nữa, cái đó gọi là Giác ngộ. Mấu chốt là việc bóc tách này đòi hỏi con phải làm một cách liên tục không đứt đoạn; từng cái vọng tưởng của con, con có thể bóc tách cho thật rõ ràng được không? Bậc cao nhân họ chỉ cần bóc tách vài phút thôi là họ triệt để dẹp luôn cái trò này rồi, chơi cái này làm gì nữa? Vì có chơi qua chơi lại thì con mãi mãi cũng chỉ có thể là một kẻ thất bại, một kẻ đau khổ, một kẻ bất lực mà thôi. Vì sao? Vì con có hiểu rõ được nó đâu. Nếu đã giác ngộ thấu triệt rồi, người ta chỉ cần vài phút là có thể lập tức không thèm chơi trò này nữa. Vì chắc chắn mình sẽ là kẻ thất bại, kẻ đau khổ, kẻ bất lực, thế thì còn chơi nó làm cái gì? Người ta không chỉ có thể suy một ra ba, mà người ta có thể từ một suy ra tất cả, một phen xong xuôi là tất cả đều xong xuôi. Cho nên, đó mới gọi là bậc cao nhân.

3. Nguyên lý Vận hành: Quy luật của "Viên ngọc Như Ý"

Mỗi người đều sở hữu một "Chân thật chính mình" không biến đổi — một viên ngọc Như Ý có khả năng biến hóa ra vạn vật. Sự khác biệt giữa thành công và thất bại nằm ở chỗ bạn có nắm vững nguyên lý hay không.--- Cái "Chân thật" của con chính là viên ngọc Như ý, muốn cái gì là có cái đó. Tất nhiên rồi, cái này con phải biết cách nghĩ, biết cách đòi hỏi cơ. Con có viên ngọc Như ý mà con không biết nghĩ, không biết đòi, thì con cũng chẳng thể làm cho nó xuất hiện ra cái gì được. Còn nếu con nghĩ ngược rồi, đòi ngược rồi, thì kết quả là viên ngọc Như ý của con nó lại mang đến đau khổ cho con. Tất cả chúng sinh đều là như vậy cả: toàn vận dụng viên ngọc Như ý của mình để tự tạo ra đau khổ.

Ví dụ về việc nghĩ ngược dẫn đến vô phước:

“Đoạn trước vừa nói: "tôi không có tiền là đau khổ", thế là đòi ngược rồi. Thế có tiền rồi vẫn đau khổ, lại là đòi ngược tiếp. Rồi con cứ ở cái chỗ đó, nhất quyết cứ phải đem bản thân gắn chặt với đau khổ, thì cái kết quả cuối cùng của con chỉ có thể là đau khổ mà thôi. Thế là viên ngọc Như ý của con nó liền hiển hiện ra đau khổ cho con hưởng chứ sao. Phải biết cách nghĩ, biết cách đòi; đằng này con lại nghĩ lệch nghĩ ngược đi mất rồi.

Ví dụ như bố thí, trì giới là cái yếu tố căn bản nhất để tăng trưởng phước báu. Con lại chơi ngay một vố: kiên quyết không trì giới, kiên quyết không bố thí. "Làm sao tôi có thể bố thí được chứ? Tôi mà bố thí thì tôi hết sạch à, tôi còn đang muốn có thêm nhiều nữa đây này". Cái kết quả của sự ngược ngạo đó là: ngày ngày con mong mỏi phước báu, nhưng thứ con nhận được lại là vô phước.

  • Chìa khóa nằm ở hai chữ Nhẫn nhục. Theo cách diễn giải sắc sảo của Thầy, Nhẫn chính là "Nhận biết cái nhục".

Thế cái "biết cách nghĩ" này từ đâu mà ra? Từ cái nhận thức của con mà ra; nhận thức được thế nào gọi là biết cách nghĩ, biết cách đòi. Làm ngược lại thì đó là điều sỉ nhục. Cho nên, cái đó gọi là Nhẫn nhục (nhận biết cái nhục); anh ta nhận thức được cái gì là sỉ nhục thì anh ta kiên quyết không thèm làm cái việc đó; cái gì là vinh hiển, vinh quang thì anh ta làm.

Bởi vậy, Phật đầy đủ Nhất Thiết Trí, con nhìn xem Ngài có bao giờ thèm nghĩ đến chuyện làm giàu cho bản thân đâu, Ngài toàn ra sức nghĩ làm sao để người khác được lợi lạc, được làm giàu thật nhiều; kết quả Ngài lại trở thành đấng có phước báu lớn nhất.

Một người có trí tuệ sẽ cảm thấy sỉ nhục nếu để mình rơi vào tà kiến "không có nhân mà đòi gặt quả". Họ nhẫn để giữ mình trong đúng quy luật tự nhiên (Nhân - Quả), biết cách nghĩ và cách đòi hỏi sao cho chuẩn xác.

4. Ứng dụng Thực tiễn: Thay đổi Nhận thức để Chuyển hóa Vạn sự

Khi nhận thức thay đổi, vạn sự sẽ tự động thay đổi theo. Thay vì nỗ lực thay đổi ngoại cảnh một cách vô ích, hãy "nhắm vào biến số mà làm" — tức là thay đổi cách tâm thức phản ứng với các dữ liệu hiện tại; phàm là thứ gì con đang chấp trước không buông xả được, cứ nhằm vào đó mà nghiên cứu từng cái một, rồi nhìn vào cái kết quả cuối cùng xem có phải như vậy không. Vì con đến nguyên lý còn chẳng biết, quy luật quy tắc cũng mù tịt, thì con chắc chắn là thất bại, là đau khổ, là bất lực rồi; vậy mắc mớ gì con phải làm cái hạng người đó chứ? Thì cứ đi tìm hiểu cho rõ ràng là xong liền chứ gì.

Con hiểu rõ rồi, con sẽ biết những chuyện này vốn dĩ đều không tồn tại, đều là do con tự tạo nghiệp, bây giờ nghiệp chín muồi rồi thì nó hiển hiện ra những hình ảnh này thôi. Đó chỉ thuần túy là hình ảnh của nghiệp duyên (nghiệp duyên ảnh tượng), chẳng có liên quan gì đến con cả. Con có thể tự tại như ý mà điều khiển cái đống hình ảnh nghiệp duyên này; có điều những thứ này đích xác là do huyễn hóa mà biến hiện ra, chúng không có thật, cũng giống như việc con gõ ra mấy chữ này, chúng đâu có tồn tại mãi mãi trên màn hình. Cho nên, con hoàn toàn có thể tự tại như ý mà điều khiển, có thể đạt đến cảnh giới giải thoát không chấp không buộc (vô trước vô phược).

Xét từ những hiện tượng huyễn hóa này mà nói, nó không cách nào tạo thành sự trói buộc cho con được, lại càng không tồn tại cái chuyện con cần phải đi giải thoát cho một cái gì đó. Vì là do con muốn phát huy cái hiện tượng này thì nó phát huy thôi, là con muốn cái gì thì liền có thể phát huy ra cái đó rồi.

Thế nhưng bất luận là thứ con muốn hay thứ con không muốn, thảy đều là để ứng phó với sự việc ngay hiện tại. Con tuyệt đối biết rõ đây không phải là thật, là hiện tượng huyễn hóa, con có muốn chấp trước vào nó cũng không thể được, vì nó đang biến đổi mà. Ngay từ cái khoảnh khắc nghiệp duyên này hình thành nên sự huyễn hóa, là nó đã đang biến đổi rồi. Nghĩa là bắt đầu từ chỗ không có gì mà biến thành có, rồi từ chỗ có nó bắt đầu biến đổi suy thoái đi, suy thoái đến cuối cùng lại biến thành không có; đó chỉ là một hiện tượng mà thôi.

Vậy con có thể nắm vững nguyên lý quy luật của những hiện tượng huyễn hóa này không? Con mà nắm vững cho tốt rồi, con có thể tâm tưởng sự thành, muốn cái gì là có cái đó. Vì Nghiệp là thứ con có thể lựa chọn được: tạo nghiệp gì là do con chọn, gánh chịu quả báo gì cũng là do con chọn. Kể cả có chọn rồi, con cũng biết rõ đây chỉ là một hiện tượng huyễn hóa, nó không hề chân thật.

Kinh Kim Cang dạy rằng: Nếu có người phỉ báng con, đó là do nghiệp đời trước; nhờ sự phỉ báng này mà ác nghiệp được tiêu trừ, con có thể tiến tới thành tựu Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

Con muốn thay đổi ư? Ngay tại hiện tại con có thể dùng tri kiến của con để thay đổi, con có thể đạt đến cảnh giới vô phược vô trước, có thể đạt đến chỗ không đi nhận định nó là khổ hay là vui. Còn nếu con cao minh hơn một chút, tất cả mọi thứ con đều có thể biến nó thành niềm vui hết, cái đó phải xem công phu của con đến đâu đã.

Trong kinh Phật đều có dạy cả rồi, kinh Kim Cang có nói: nếu có người phỉ báng con, đó là do cái nghiệp từ đời trước của con; nhờ có việc hiện tại có người phỉ báng con, nên nó tiêu luôn cái nghiệp đó cho con rồi, con được sạch sẽ rồi, con có thể thành tựu Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác rồi. Nhìn nhận như vậy thì con có gặp phải chuyện ác đến mức nào đi chăng nữa, nó cũng đều là chuyện tốt cả thôi; vậy thì còn cần phải thay đổi cái gì nữa? Tâm con thay đổi, vạn sự thay đổi.

Nếu con thực sự vận dụng điều đó lâu dần thành thục, con sẽ thực sự không còn đau khổ nữa. Vì sao? Vì con cho nó là thật, con cho nó là của mình, con nghĩ rằng "không có nó tôi đau lắm"; tất cả đều do cái tâm ý thức của con đang vận hành như vậy mà ra. Con vận hành như vậy thì chắc chắn nó sinh ra cái kết quả đó, thế là con đau khổ đời đời kiếp kiếp, vì con đang dùng cái tâm của mình để tự khóa chặt mình vào trong đau khổ rồi; thế thì đương nhiên là nó đau khổ rồi chứ sao.

Nếu hiểu được điều này, mọi sự phỉ báng đều trở thành "chuyện tốt". Ngược lại, nếu bạn dùng cái tâm để tự khóa mình vào các định kiến như "thân thể này là của tôi" hay "tiền bạc là sự an toàn", bạn sẽ rơi vào chuỗi đau khổ liên hoàn: sợ mất tiền, sợ không nuôi nổi thân, sợ chết...Ví dụ như: "Thân thể của tôi là của tôi, là có thật, tôi phải bảo vệ cho tốt, phải né tránh đau khổ"; con nhìn xem, anh ta bắt đầu tự khóa mình vào với đau khổ rồi đấy. Nghĩa là cái thân này sẽ mang lại đau khổ cho con: con sợ hết tiền, sợ không nuôi nổi cái thân này nữa, thế là rất đau khổ, lại khóa thêm một tầng. Con sợ có tiền rồi mà không mua được đồ ăn, thế vẫn là đau khổ. Con sợ mình chết đi rồi mà tiền chưa tiêu hết, con vẫn đau khổ; con nhìn xem, một chuỗi các cái khổ liên hoàn.

Cả một chuỗi để tâm này của con: con cho nó là đau khổ, con liền khóa chặt cái đau khổ đó lại. Con cho nó là đau khổ, khóa lại. Lúc tôi không có tiền, cái đó là đau khổ, thế là khóa lại. Thế đến lúc có tiền, tôi lại sợ người ta mưu tính dòm ngó tiền của tôi, cái đó là đau khổ, lại khóa tiếp; nghĩa là có tiền hay không có tiền con đều đau khổ cả. Tôi không có tiền, không mua được đồ ăn, tôi đau khổ. Thế có tiền rồi mà vẫn không mua được đồ ăn, tôi vẫn cứ đau khổ. Lại vẫn là có tiền hay không có tiền, con đều đau khổ hết sạch.

Thầy so sánh sự khác biệt giữa năng lực và sự lệ thuộc:

  • Vương Hy Phượng: Lệ thuộc hoàn toàn vào vinh hoa của Giả phủ. Khi mất điểm tựa, cô ta trở nên bất lực và chết đói ngay trên đống tài sản cũ.

  • Bà già Lưu: Có trí tuệ năng lực thực thụ. Dù bị vứt vào xó xỉnh nào, bà cũng không chết đói vì bà biết cọng cỏ nào ăn được, cọng cỏ nào không. Bà không sống kiểu "ký sinh".

Chứ con thực sự có cái ăn hay không có cái ăn, đâu có nằm ở chuyện con có tiền hay không có tiền. Con có là người không một xu dính túi đi chăng nữa, nếu con biết cách làm người, con đi đến đâu cũng có cái ăn hết. Còn nếu con có cả đống tiền, giống như Vương Hy Phượng trong truyện ấy, cô ta có rất nhiều tiền, nhưng đến lúc sa cơ lỡ vận thì vẫn có thể bị chết đói như thường.

Nhìn cái bà Già Lưu xem, trông bà ấy khờ khờ khạo khạo thế thôi, chứ con có vứt bà ấy vào xó xỉnh nào bà ấy cũng không chết đói được, bà ấy biết cọng cỏ nào ăn được, cọng cỏ nào không ăn được; bà ấy có trí tuệ. Còn có khi Vương Hy Phượng lại nằm khểnh trên một đống cỏ ăn được mà vẫn tự làm mình chết đói không chừng.

Cho nên, đừng có nhìn vào cái bề mặt. Nhìn vào bề mặt thì thấy rất nhiều người đều thuộc cái dạng "lệ thuộc". Thế nào gọi là dạng lệ thuộc? Là ký sinh trùng; cứ phải ký sinh vào một cái điểm nào đó thì anh ta mới sống nổi.

5. Cốt lõi của Thành công và Thất bại: Lực Ly tâm của Sự Vị kỷ

Thành công hay thất bại đều do chính cá nhân tự làm nên thông qua việc vận hành tâm thức theo quy luật tự nhiên.

  • Quay quanh người khác (Phụng sự): Khi bạn nỗ lực làm lợi lạc cho người khác, vạn vật sẽ tự động quay quanh và ủng hộ bạn. Hãy nhìn vào Elon Musk: Trong những lúc Tesla mấp mé bờ vực sụp đổ, ông sẵn sàng gom hết tài sản cuối cùng, bán sạch những gì có thể để đảm bảo trả đủ lương cho nhân viên thay vì quỵt nợ để bảo toàn vốn cá nhân. Chính sự bảo vệ lợi ích cho người khác này đã tạo nên tầm vóc (cục diện) của một ông chủ lớn.

  • Quay quanh bản thân (Vị kỷ): Hễ bắt đầu nghĩ đến chuyện làm giàu cho riêng mình hay tơ tưởng lợi ích cá nhân là "hỏng bánh kẹo" ngay. Khi một người cứ "quay mòng mòng" quanh cái tôi, họ sẽ tạo ra một lực ly tâm cực mạnh. Tốc độ quay (sự tham lam) càng cao, lực ly tâm càng lớn, khiến tiền tài, danh vọng và các mối quan hệ bị "văng phơi xác ở tận đẩu tận đâu". Đó là quy luật tự nhiên, không thể làm trái.

Ví dụ về nấu cơm: Nấu cơm cần gạo, nước và lửa. Thực tế, nước có thể làm nhão gạo, lửa có thể đốt cháy gạo — chúng vốn là những thứ "đối nghịch". Nhưng nếu phối hợp vừa vặn, hợp lý theo đúng quy luật, chúng sẽ thành cơm. Nếu chỉ khư khư giữ gạo mà bài trừ nước/lửa, hoặc phối hợp lệch một li, bạn sẽ chỉ nhận được gạo sống hoặc than củi. Đừng nói nhảm nhí về thành công khi bạn còn đang làm ngược quy luật!

6. Sự Giác ngộ và Cảnh giới Vô Trước Vô Phược

Đỉnh cao của Như Huyễn Nhẫn là nhận ra rằng ngay cả việc thành Phật hay luân hồi cũng đều là những sự kiện trong một giấc mơ lớn. Các bậc Bồ-tát làm "Phật sự trong mơ", xây dựng "đàn tràng bóng trăng đáy nước".

Kinh Hoa Nghiêm (Quyển 40, Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện) dạy: “Tất cả chúng sinh là rễ cây, chư Phật Bồ-tát là hoa quả. Dùng nước đại bi đượm nhuần chúng sinh thì có thể thành tựu hoa quả trí tuệ của chư Phật Bồ-tát.”

Về mối quan hệ giữa bản thể và hiện tượng huyễn hóa, Thầy nhắc lại chân lý về sự đồng nhất:

Vĩnh Gia Chứng Đạo Ca chép: “Một vầng trăng hiện khắp tất cả nước. Tất cả bóng trăng trong nước đều do một vầng trăng thâu tóm.”

Mọi sự hiện hữu đều là Linh tính của chính mình biến hiện. Hãy nhớ kỹ sợi dây tổng cương này: Mọi sự vật là "Linh tính đang chơi trò Linh tính với nhau". Người giác ngộ biết rõ chỉ có cái màn hình mới là thật, còn bộ phim đang chiếu thảy đều là huyễn hóa, nên họ không còn "mê mình theo vật" hay đuổi theo ngoại vật nữa.

Kinh Đại Thừa Bảo Vân Kinh chép: “Như Lai thường nói tất cả cảnh giới như mộng, như huyễn, thảy đều hư vọng. Có bậc trí giả nào lại đối với các cảnh giới — như mộng, huyễn v.v... — mà sinh lòng tham dục?”

Bậc Bồ-tát sử dụng phương tiện huyễn hóa này chỉ để dẫn dắt chúng sinh thoát khỏi mê lầm. Hiểu được Như Huyễn Nhẫn là hiểu rằng con có thể tự tại điều khiển đống hình ảnh nghiệp duyên này mà không bị chúng trói buộc hay làm cho "đổ đèo". Khi con biết cách nghĩ, biết cách đòi hỏi theo đúng thiên đạo, con sẽ đạt đến cảnh giới Vô trước vô phược — không còn gì có thể làm khổ được con nữa.

Chúng tôi luôn sẵn lòng lắng nghe và hỗ trợ bạn

Email:

Điện thoại:

chonngobalamat@gmail.com

+61 425750840