Nhận Thức Như Mộng
Giấc mơ ban ngày và giấc mơ ban đêm có những điểm liên quan và tương đồng với nhau. Giấc mơ ban đêm thì ta đều có trải nghiệm rồi, còn giấc mơ ban ngày thì chưa quá rõ ràng. Giấc mơ đêm, giấc mơ ngày và vọng tưởng – ba cái này vừa có điểm liên quan, có điểm tương đồng, nhưng trong khái niệm của con người thì lại hoàn toàn khác nhau. Còn nói một cách chuẩn xác thì không những chúng giống nhau, mà thực ra là cùng một giuộc, cả ba chính là một thứ. Nghĩa là lúc con người vọng tưởng chính là lúc tự mình bén duyên thêu dệt, khơi gợi lại tất cả ký ức, cảm xúc rồi theo ý đồ của mình mà dệt nên.
7/20/202622 min read


Nhận Thức Như Mộng - Từ Vọng Tưởng Đến Chánh Kiến
02/06/2026
I. BA TRONG MỘT — GIẤC MƠ NGÀY, ĐÊM VÀ VỌNG TƯỞNG LÀ CÙNG MỘT GIUỘC
Giấc mơ ban ngày và giấc mơ ban đêm có những điểm liên quan và tương đồng với nhau. Giấc mơ ban đêm thì ta đều có trải nghiệm rồi, còn giấc mơ ban ngày thì chưa quá rõ ràng. Giấc mơ đêm, giấc mơ ngày và vọng tưởng – ba cái này vừa có điểm liên quan, có điểm tương đồng, nhưng trong khái niệm của con người thì lại hoàn toàn khác nhau. Còn nói một cách chuẩn xác thì không những chúng giống nhau, mà thực ra là cùng một giuộc, cả ba chính là một thứ. Nghĩa là lúc con người vọng tưởng chính là lúc tự mình bén duyên thêu dệt, khơi gợi lại tất cả ký ức, cảm xúc rồi theo ý đồ của mình mà dệt nên. Thế nên mới có chuyện nhà khoa học đuổi theo cỗ xe ngựa của người ta coi như tấm bảng đen để viết công thức lên đó. Ông ấy muốn lập tức viết ra những gì mình vừa nghĩ tới. Con cứ thử nghĩ kỹ mà xem, người ta ngồi đó nghĩ ngợi lung tung, đến thời gian trôi qua bao lâu cũng chẳng hay biết. Lúc này nó vừa không phải giấc mơ ngày, cũng chẳng phải giấc mơ đêm, mà chính là sự thêu dệt hỗn loạn, đang dệt nên đủ thứ chuyện. Có người thì dệt nên chuyện mình yêu thích, có người dệt nên chuyện sợ hãi, có người dệt nên chuyện mình nghi ngờ, v.v., có khi thậm chí có thể dệt suốt cả một ngày. Khi con đang thêu dệt như vậy thì hiệu quả cực kỳ tương đồng với lúc nằm mơ ban đêm, và hiệu quả của giấc mơ ngày vào ban ngày cũng cực kỳ tương đồng.
Điểm tương đồng đầu tiên là: đều có thể làm chủ. Trong mơ gặp đồ ăn vẫn ăn, gặp nước vẫn uống, gặp đồ chơi vẫn chơi; ban ngày nghĩ đến chuyện đáng sợ, thêu dệt nên nỗi sợ hãi — chẳng phải cũng y như vậy sao? Ta còn sợ cái gì, thích cái gì, muốn làm cái gì, thảy đều là do ta làm chủ được đấy thôi. Điểm tương đồng thứ hai là: cái xu hướng thêu dệt là hoàn toàn y như nhau. Dù ta mơ ngày, mơ đêm hay là vọng tưởng thì cái kiểu thêu dệt này đều giống nhau.
II. TIẾN TRÌNH THÊU DỆT — TỪ NGUYÊN LIỆU ĐẾN CẢNH GIỚI HIỂN HIỆN
Có một bộ phim tên là Một Tâm Hồn Đẹp (A Beautiful Mind), vị nhà khoa học đó chẳng phải có đa nhân cách sao, ông ấy có thể nói chuyện với đứa trẻ đó, nói chuyện với người đàn ông đó, ông ấy lúc nào cũng nhìn thấy họ, về sau vị nhà khoa học đó còn thành công nữa. Ông ấy chính là một mực chuyên chú đi nghĩ, sinh ra cái niệm này, rồi trong nghiệp của chính mình sinh ra cái tướng đó, ông ấy thực sự nhìn thấy được. Đó là cụ thể hóa hình ảnh lên rồi, vì phim ảnh không cách nào diễn tả được những chuyện trong não của ông ta, nên nó mới cụ thể hóa vài người đó lên; đó chính là vọng tưởng của ông ta, phiền não của ông ta được cụ thể hóa hiển hiện dưới hình thức các nhân vật. Trên thực tế, không phải là có vài nhân vật đó tồn tại, mà là sâu thẳm trong nội tâm ông ta có những loại suy nghĩ mang đặc trưng này, ông ta dễ bị chìm đắm vào đó. Phải dùng cách cụ thể hóa thì mới diễn dịch ra được. Ví dụ như trong đó có một cô bé thế này thế kia, điều đó đủ để chứng minh ông ta có cái xu hướng TRẺ CON này, tuy nói đứa trẻ đó cứ luôn đòi được cưng chiều, ông ta cũng luôn cưng chiều đứa trẻ, đó là cái có thể biểu đạt ra ngoài. Nhưng trong lòng ông ta thường xuyên nảy mầm cái này, ông ta sẽ chạy theo cái này. Những người khác thì nhắc nhở ông ta chuyện ăn, uống, chơi bời, vui vẻ; tương tự như vậy, đó đều là những khái niệm nảy mầm ra từ não, ông ta đem khái niệm đó cụ thể hóa lên, vì phim ảnh muốn biểu đạt thì phải tạo ra một con người. Nói một cách chân thực thì đó chính là tiếng gào thét phát ra từ thế giới nội tâm của ông ta.
Thêm một cái nữa, cái xu hướng thêu dệt là hoàn toàn y như nhau. Dù con mơ ngày, mơ đêm hay là vọng tưởng thì cái kiểu thêu dệt này nó đều giống nhau. Thế mỗi lần con đang nghĩ ấy, là con đang dựa vào cái gì để nghĩ?
Trong nháy mắt ta nhớ lại lời nói của một người nào đó, lúc này cảm xúc liền ùa vào, liền nghi ngờ "đây chẳng phải là đang nhắm vào tôi sao?". Mà đã nhắm vào tôi, trái với sự tham danh tham lợi của tôi rồi thì liền sinh tâm sân hận, liền thêm vào đòn công kích trả đũa, cũng như việc trả đũa cụ thể như thế nào, thậm chí còn diễn dịch ra hết luôn. Lại còn phải diễn dịch tiếp để củng cố cái định nghĩa nghi ngờ này, dùng đủ thứ tư liệu để chứng minh cho nó.
Lại có loại trực tiếp khởi tâm tham luôn: tôi bỗng nhiên nghĩ đến món ăn gì đó, rồi nghĩ về quá khứ từng ăn món đó thế nào, cái hương vị xúc giác cảm thọ ra sao; thế là càng nghĩ càng thấy nó đáng yêu, càng nghĩ càng thấy cần phải đi ăn, thậm chí bỏ cả việc cần làm để trực tiếp đi tìm đồ ăn. Vậy thì thảy đều tồn tại một tiến trình thêu dệt, một tiến trình cảm thọ, thậm chí thêm vào một số cảm xúc phức tạp, hình thành nên việc nghĩ đến đâu là biến hiện đến đó.
Cái "nghĩ đến đâu" này chỉ thuần túy là cảm xúc thôi — loại cảm xúc nào nảy mầm ra thì anh ta trong nháy mắt lại nhảy ra một bức tranh khác, lập tức liền bước vào một cảnh tượng khác, cũng bằng như là một mộng cảnh khác vậy. Thực tế ngay cả hiện tại này, ta cho rằng mình không nghĩ ngợi gì, không có mộng cảnh, nhưng trên thực tế vẫn là có đấy. Ví dụ như tự dưng ta nhìn thấy một bông hoa, màu sắc của nó phù hợp với màu sắc ta thích, thế là ta bắt đầu thích nó rồi; mùi hương của nó phù hợp với mùi hương ta thích, ta lại bắt đầu thích nó tiếp — nó liền đem những cái ta từng có được thêu dệt lại với nhau, màu sắc ta từng thích, mùi vị ta từng thích đều được dệt chung lại, phát huy ngay nơi hiện tại này.
Cho nên nói, cái hiện tại này của ta vẫn đang ở trong mộng cảnh đấy thôi — chỉ có điều lúc này là sáu căn của ta khơi gợi ngoại cảnh ngay trước mắt hiện tại, rồi lại khơi gợi cái định nghĩa cái nào tốt cái nào xấu ở ký ức bên trong, từ đó sinh ra kết quả thích hay không thích, cũng như sự tạo tác ngay nơi hiện tại. Trước đây giấc mơ ngày là sáu căn khơi gợi tư liệu của sáu trần, còn ban đêm là thuần túy khơi gợi tư liệu trong kho lưu trữ của ta khi sáu căn đã đóng lại rồi. Vậy thì sau khi khơi gợi tư liệu xong, thảy đều tiến hành thêu dệt, đem cảm xúc dệt vào trong đó — điểm này cho dù là mơ ngày, mơ đêm hay là vọng tưởng thì đều y chang nhau.
III. MỤC ĐÍCH CỦA THÊU DỆT — BẢO VỆ CÁI TÔI VÀ KẾT QUẢ ĐAU KHỔ
Mục đích chủ yếu của việc thêu dệt này chính là bảo vệ cái tôi, duy trì cái tôi, bảo vệ cái điểm tham chấp của mình. Hễ trái với điểm tham chấp một cái là bắt đầu sân hận, công kích trả đũa: "Tôi tham cầu người ta tôn trọng mình, người ta không tôn trọng tôi rồi, tôi lại sân hận tiếp, lại muốn công kích trả đũa rồi." Hoặc là ta cứ ở đó mà ôm cục tức ngầm — thà chịu tức tối như vậy suốt một ngày chứ không dừng lại. Có người ôm cục tức mấy tháng trời, lại có người ôm cục tức suốt mấy năm nữa cơ.
Thực ra, cái kiểu sân hận công kích trả đũa đó, ngặt nỗi chính bản thân ta đau khổ mà. Anh ta mặc kệ, anh ta cứ phải làm như vậy mới chịu. Thế thì được rồi, ta thực sự tham ái, tham ăn đồ ngon thì sẽ kén ăn, kén ăn thì chắc chắn sẽ quá lượng, quá lượng thì cơ thể chắc chắn bị phá hủy. Bệnh tiểu đường là do tham ăn mà sinh ra, bệnh tim mạch cũng do tham ăn mà sinh ra — vậy thì cái dẫn đến cuối cùng thảy đều là đau khổ. Cái thương cũng khống chế không được, cái ghét cũng khống chế không xong — vì ta nuôi thành thói quen rồi, nó đã trở thành tự động hóa rồi, đương nhiên ta khống chế không được rồi.
Bây giờ muốn đưa nó vào trạng thái tu hành, đầu tiên ta phải làm cho rõ ràng từng cái vọng tưởng của chính mình. Ta lại xem ban đêm xem: nếu ta thực sự không có vọng tưởng thì ta không nằm mơ được đâu. Giấc mơ ngày cũng thế, nếu ta không có những vọng tưởng này thì ta cũng không gọi là giấc mơ ngày; chính vì có vọng tưởng nên nó mới là mộng. Mà loại mộng này hoàn toàn là thêu dệt nhảm nhí bậy bạ, cho nên nói kết quả của nó chắc chắn là đau khổ.
IV. CHÍNH KIẾN VÀ TÀ KIẾN — NỀN TẢNG CỦA CHÍNH TƯ DUY
Bước vào trạng thái tu hành, bước đầu tiên phải làm rõ ràng từng cái vọng tưởng một. Tức là bất kỳ thời gian nào ta đang nghĩ cái gì, ta đang dựa vào chính kiến, chính tư duy để nghĩ, hay là đang dựa vào tà kiến phiền não để nghĩ. Thế là kéo theo vấn đề thế nào là chính kiến, chính tư duy — nghĩa là cái căn cứ của ta là cái gì.
Ví dụ như tôi uống một ly cà phê, cái ly cà phê này rốt cuộc nó là cái gì, có biết hay không? Cái lợi ích nó mang lại là gì, tác hại là gì, nên vận dụng nó như thế nào — ta đều biết một cách chuẩn xác thì nó mới có lợi cho ta. Nếu tố chất cơ thể ta không thích hợp uống cà phê, ta biết vô cùng rõ ràng nên ta không đi uống cà phê, thế thì sẽ không tự tạo ra đau khổ cho mình. Đây chính là sự ứng dụng của chính kiến trong cuộc sống thực tế.
Con người từ nhỏ sau khi sinh ra đời là luôn luôn học tập — học được rất nhiều tri kiến từ cha mẹ, từ trường học, từ xã hội. Anh ta biết, anh ta thấy, cảm nhận được, cuối cùng nuôi thành thói quen, biến thành "thức"; sau đó thì không thể thay đổi được nữa. Nó chính là cái điểm tựa vững chắc trong quá trình trưởng thành của các dây thần kinh não bộ. Học một lần thì nó lại dài ra một chút, không những dài ra phía trước mà đồng thời cũng sẽ dài ra theo chiều ngang, trở nên ngày càng to thô hơn. Còn có những hệ thần kinh, vì ta cứ luôn bài xích nó, từ chối nó, không nuôi dưỡng nó, nên nó dần dần khô héo đi mất.
Ví dụ như tất cả các bệnh nhân tiểu đường đều vô cùng thích ăn những món đồ chiên rán có calo cao, bánh ngọt tinh chế, bánh mì. Nếu liên tục ăn như vậy, không những cuối cùng sẽ phát triển thành bệnh tiểu đường, mà tất cả các nơi trên cơ thể đều đồng bộ bị phá hủy. Ta biết một cách chuẩn xác, cái đó gọi là chính kiến. Ta không biết mà còn cho là ngon, cái đó chính là tà kiến. Nếu ta thiết lập chính kiến, vận dụng chính tư duy thì có thể bảo đảm cho ta chính hành, chính ngữ, chính nghiệp.
V. HỆ THẦN KINH VÀ ĂN UỐNG — TẠI SAO TÀ KIẾN KHÓ GỘT RỬA
Tại sao con người lớn tuổi rồi, tuổi tác càng lớn thì trí nhớ càng kém, năng lực phân tích càng tồi? Vì ta ăn đồ có calo cao, đồ chiên rán, gạo trắng, mì trắng, đường trắng, thực phẩm tinh chế; nó trực tiếp phá hủy hàng rào máu não của ta, đi vào vùng hải mã. Cái đại não này sợ nhất là những thành phần nhiều muối, nhiều dầu, nhiều đường này, trực tiếp bào mòn hoen rỉ nó luôn.
Ví dụ như nội dung hôm nay tôi học, lúc đó học rất rõ ràng, nhớ rất kỹ lưỡng, đại não của ta đang mọc ra cái hệ thần kinh mới này. Nhưng mọc ra xong cái là bị ngâm ngay trong đống dịch ăn mòn này, nó sống sót không nổi vài phút là đã bị phá hủy hoàn toàn rồi; cho nên ta không cách nào ghi nhớ, cũng không cách nào phân tích, càng không cách nào ứng dụng được. Nó mỗi ngày đều mọc ra — ví dụ như nó có sợi dây thần kinh to chừng này, những cái dịch ăn mòn, đường cao, dầu cao này sau khi vào rồi, nó bắt đầu ăn mòn từ lớp biểu bì bên ngoài; mà lớp biểu bì bên ngoài lại toàn là những cái hôm nay ta vừa mới đắp lên xong, cho nên nó ăn mòn cái ta vừa đắp lên trước. Nó cứ mọc ra một lớp ta lại trừ bỏ đi của nó một lớp — mọc ra một lớp trừ đi một lớp, cho nên ta cứ luôn không nhớ được là vậy.
Cho nên trong Phật pháp mới yêu cầu bất kỳ người tu hành nào cũng bắt buộc phải trì Tám giới (Bát quan trai giới). Nếu là người xuất gia thì bắt buộc phải ngày ăn một bữa, thời gian khác bất kỳ đồ ăn thức uống nào cũng không được đụng vào. Như vậy nó mới bảo đảm không để cho việc ăn uống của ta phá hủy hệ thần kinh của ta, ta mới có thể học được, nhớ được, đem ra dùng được.
Khi thiết lập cái hệ thống mới này, nếu ta không từ chối cái ăn này thì cái hệ thống đó cũng không thiết lập lên được — vì nó mọc từ lớp biểu bì ra, hôm nay ta vừa mọc ra một lớp, bị dầu cao đường cao ăn mòn một cái là nó tan chảy mất tiêu, hết sạch. Còn cái hệ thần kinh cổ xưa nhất ở tận bên trong kia thì nó không ăn mòn tới được. Cho nên khi ta gột rửa cái tà kiến đó cũng khó gột rửa, là vì nó đủ to thô rồi — vì nó quá to thô rồi, nó ăn mòn không tới được; ta muốn thay đổi thì không thể nào trong nháy mắt mà gọt bỏ nó đi được.
VI. TU HÀNH LÀ PHƯƠNG PHÁP CHỮA LÀNH KHÔNG GÂY THƯƠNG TỔN
Tuy nhiên, tương lai khoa học phát triển có thể có trợ giúp cho việc tu hành. Ví dụ như cái hệ thần kinh đã mọc rất to thô này của ta có thể thông qua phẫu thuật để cắt bỏ nó đi, thế là trong nháy mắt liền không còn nữa. Nhưng mỗi một hệ thần kinh đều có cái liên quan, ví dụ như hệ thần kinh làm chủ ngôn ngữ, hệ thần kinh làm chủ cánh tay, cái chân — một khi cắt bỏ nó đi thì những hệ thống này liền phế luôn.
Elon Musk làm cái giao diện não — máy tính (Neuralink) thì đã bắt đầu sản sinh ra loại tác dụng này rồi: cái đã bị phế bỏ rồi nó có thể lại mọc ngược trở lại. Ví dụ như người bị mù, ông ấy có thể làm cho ta nhìn thấy lại, người điếc có thể làm cho ta nghe thấy lại. Thực ra, chúng ta tu hành chính là dựa vào sức mạnh chính kiến của bản thân để đi thay đổi cái vật chất cố hóa của tà kiến, chính là hệ thần kinh.
Khoa học là dựa vào phẫu thuật cắt hoặc lắp đồ vào, cắt đồ đi. Còn chúng ta chính là dựa vào chính kiến của mình để thay đổi tất cả mọi thứ. Đây gọi là phương pháp chữa lành không gây thương tổn — chính là tu hành. Tu hành là sự chữa lành tuyệt đối không gây thương tổn, chỉ có điều thời gian hơi chậm một chút. Nhưng tính toán thử một chút thì cũng không chậm đâu: nếu tu học một cách chính quy, ý chí của tự ta rất mạnh mẽ — nghĩa là nói cái gì là có thể làm được cái đó ấy — thì cũng có thể đạt được cái tốc độ của công nghệ cao kia. Công nghệ cao còn phải mọc, còn phải điều chỉnh thử nghiệm; còn cái này của ta, ông ấy cũng cần thời gian một tháng từ lúc bắt đầu nghiên cứu phẫu thuật cho đến khi cái xương não chỗ đó phải mọc thành hình, cộng thêm điều chỉnh thử nghiệm nữa — ít nhất phải mất thời gian một tháng. Một tháng là vượt xa 21 ngày rồi, ta mà thực sự liều mạng tu thì 21 ngày là đủ rồi.
VII. THẾ NÀO LÀ TU HÀNH — SỬA ĐỔI THÂN KHẨU Ý
Cái chính là ta còn chưa có đủ nền tảng cơ bản — những cái khổ này ta có biết hay không? Đầu tiên ta biết rồi ta có tự nguyện rời bỏ hay không? Có đôi khi là biết đấy, nhưng không tự nguyện rời bỏ. Thế thì không có tư cách để gọi là tu hành.
Thế nào gọi là tu hành? Sửa đổi hành vi của chính mình. Bao gồm cả tâm hành, thân hành, khẩu hành của ta, hoàn toàn tu chỉnh nó lại, sửa đổi nó lại, phục hồi nó lại — thì đó gọi là tu hành. Nếu ta chưa từng nghĩ đến việc đi thay đổi chính mình, kiên quyết không muốn sửa — "cái ăn này tôi không thể nói là không ăn được, tôi ăn bớt đi một miếng thì được chứ bắt tôi không ăn là không được" — cái đó không gọi là tu hành.
Bất kỳ một người nào, anh ta có thực sự muốn tu hành hay không, phải xem anh ta có muốn thay đổi hay không. Vậy thì nên làm cho anh ta biết tại sao phải thay đổi — vì anh ta đang tự tạo ra đau khổ. Nếu ta không muốn cảm nhận đau khổ thì ta không được đi tạo ra đau khổ. Còn như việc anh ta tạo ra đau khổ như thế nào? Anh ta phải học trước đã, biết một cách chuẩn xác thì đó chính là chính kiến.
Thế nhưng cái chính kiến này của ta có thể lớn hơn cái tà kiến của ta hay không? Đó chính là cái căn bản ta có thể thay đổi được hay không. Chính kiến có thể lớn hơn tà kiến được không? Là có thể đấy. Nếu chuyên nghiệp đi tu hành, đầu tiên phải biết thế nào là khổ, khổ từ đâu mà đến. Cái "biết" này phải đạt đến mức độ sợ hãi cái khổ, sợ hãi đến tột cùng thì tự động anh ta sẽ rời bỏ thôi. Nghĩa là chính tay anh ta chặt đứt, tự anh ta đem cái hệ thống thần kinh cũ kỹ này trong đại não chặt đứt đi rồi. Mỗi lần học tri kiến tăng trưởng lên một chút là nó sẽ bị cứa đi một tí, nhưng vẫn chưa đứt; đến lúc sợ hãi đến tột cùng thì nó trực tiếp chặt đứt luôn. Cái trí tuệ này vô cùng quan trọng.
Ví dụ như món cơm trắng tôi thích ăn nhất, tôi phát hiện ra nó có hại cho tôi, tôi sẽ sợ hãi. Nhưng tôi sợ hãi thì tôi cũng vẫn muốn ăn. Nếu tôi đối với cơm trắng đạt đến mức độ sợ hãi tột cùng thì anh ta có thể làm được việc kiên quyết không ăn. Vì anh ta biết rõ mồn một cái khổ nó mang lại là gì, cảm nhận được cái mùi vị của cái khổ đó là gì, cho nên đạt đến mức sợ hãi rồi thì sẽ không phạm lại nữa. Ta có thể rời bỏ việc tạo ra đau khổ, thế thì tất nhiên không có quả báo đau khổ nữa rồi.
VIII. TỨ CHÁNH CẦN — TINH TẤN TRÊN BỐN PHƯƠNG DIỆN
Đây chính là đoạn Tứ Chánh Cần trong 37 Phẩm Trợ Đạo. Tứ Chánh Cần phân biệt gồm những cái gì?
"Để trang nghiêm Tứ Chánh Cần: Điều ác đã sinh, tinh tấn đoạn trừ; điều ác chưa sinh, tinh tấn không tạo. Điều thiện đã sinh, tinh tấn hộ trì; điều thiện chưa sinh, tinh tấn làm cho sinh khởi."
Cái ác đã sinh thì chặt đứt nó đi, cái ác chưa sinh thì đừng để nó tăng trưởng, cái thiện đã sinh thì làm cho nó tăng trưởng, cái thiện chưa sinh thì thiết lập nó lên. Đây chính là bốn phương diện tinh tấn mà người tu hành cần phải thực hành đồng thời — cả về phía đoạn trừ lẫn phía thiết lập, cả đối với cái ác lẫn đối với cái thiện.
Liên hệ với những gì vừa giảng ở trên: khi ta biết một cách chuẩn xác rằng ăn đồ có calo cao, đường cao, dầu cao là tác nhân gây bệnh — đó chính là đang thực hành "điều ác đã sinh thì tinh tiến đoạn trừ" và "điều ác chưa sinh thì tinh tiến không tạo". Khi ta dùng chính kiến thay thế tà kiến, dùng chính tư duy nuôi dưỡng hệ thần kinh mới — đó chính là đang thực hành "điều thiện chưa sinh thì tinh tấn làm cho sinh khởi" và "điều thiện đã sinh thì tinh tấn hộ trì".
❖
Chúng tôi luôn sẵn lòng lắng nghe và hỗ trợ bạn
Email:
Điện thoại:
chonngobalamat@gmail.com
+61 425750840


