KINH ĐẠI PHƯƠNG QUẢNG NHƯ LAI BẤT TƯ NGHÌ CẢNH GIỚI
"Nếu nghe pháp này tâm thanh tịnh, Đắc các Địa, Định, Đà-la-ni, Giới nhẫn tự tại thần thông lực, Mau chứng Vô Thượng Phật Bồ-đề. Chuyển bánh xe pháp chưa từng có, Cũng như Đại Tiên trong quá khứ, Trong một niệm thu nhiều số kiếp, Một bụi khắp hiện vô lượng cõi. Vô lượng chúng sinh chìm ba cõi, Các khổ bức bách thường thèm khát, Tà kiến trói buộc mất đường chánh, Trong từng niệm khiến đều giải thoát."
8/2/202630 min read


KINH ĐẠI PHƯƠNG QUẢNG NHƯ LAI BẤT TƯ NGHÌ CẢNH GIỚI
Nhà Đại Đường, Tam Tạng Pháp sư Thật-xoa-nan-đà người nước Vu-điền, phụng chiếu dịch.
[ĐOẠN 1: BỐI CẢNH ĐẠO TRÀNG VÀ CHÚNG HỘI]
Tôi nghe như thế này: Một thời, Đức Phật ở dưới cây Bồ-đề thuộc nước Ma-kiệt-đề, mới thành Đẳng Chính Giác. Cây Bồ-đề ấy tên là A-nhếp-ba, rễ chóp bám sâu chắc, thân cây vươn thẳng, tròn trịa không có mắt gút, như trụ chiên-đàn — thường ở trên đó, chim bay xếp cánh, không thể bay qua — vỏ cây mịn màng, nhiều màu xen kẽ, như gấm vóc lụa là; lá rậm xanh tươi, cành lá sum suê rộng mở; xung quanh đều có hoa diệu nở rộ, tỏa ánh sáng bay hương thơm, vô cùng đáng yêu thích; trừ cây Cụ-bì-la và Ba-lị-chất-đa ra, không cây nào sánh bằng; lại có vô lượng cây nhỏ bao quanh. Mà vị Cây Vương này, xanh tốt kiêu hãnh, như núi Diệu Ca (Tu-mi), rủ bóng trùm vượt các núi, ngoài một do-tuần, không đâu là không cùng thấy. Hương thơm lan tỏa khắp nơi, ánh sáng vinh hoa chiếu rọi, đêm xa nhìn vào, nghi là đống lửa lớn. Dưới cây nghiêm lệ, như vườn Hoan Hỷ, bốn phía bằng phẳng rộng rãi, cỏ thơm tươi tốt, như cổ vua công mềm mại tỏa hương thơm ngát, người nhìn không biết chán.
Như Lai ở nơi đây, đoan nghiêm mà ngồi, đại chúng vòng quanh, như trăng giữa vô số sao. Lúc ấy có các chư Phật ở các phương khác nhiều như số vi trần trong mười cõi Phật, vì muốn trang nghiêm đại chúng đạo tràng Tỳ-lô-giá-na, nên hiện hình Bồ-tát đến ngồi trong hội. Tên của các vị ấy là: Quán Tự Tại Bồ-tát, Văn-thù-sư-lợi Bồ-tát, Địa Tạng Bồ-tát, Hư Không Tạng Bồ-tát, Kim Cang Tạng Bồ-tát, Duy-ma-cật Bồ-tát, Thiện Uy Quang Bồ-tát, Diệt Chư Cái Bồ-tát, Bảo Thủ Bồ-tát, Đại Tuệ Bồ-tát, Phổ Hiền Bồ-tát, các vị Bồ-tát Ma-ha-tát như thế làm thượng thủ.
Lại có vô lượng nghìn ức Bồ-tát hiện hình Thanh văn, cũng đến ngồi trong hội. Tên các vị là: Xá-lợi-phất, Đại Mục-kiền-liên, Tu-bồ-đề, La-hầu-la, A-nhã Kiều-trần-như, Ma-ha Ca-diếp, Ưu-ba-ly, A-na-luật, Ly-bà-đa, A-nan, Đề-bà-đạt-đa, Bạt-nan-đà... làm thượng thủ; họ đều đã lâu năm tu sáu Ba-la-mật, gần tới Bồ-đề của Phật, vì hóa độ chúng sinh nên ở trong cõi tạp nhiễm hiện hình Thanh văn.
Lại có vô lượng nghìn Tỳ-kheo-ni, lấy Ma-ha Ba-xà-ba-đề làm thượng thủ, đều đã thành tựu đại nghiệp của bậc Đại Trượng Phu, vì muốn điều phục chúng sinh hạ liệt nên hiện thân nữ. Lại có vô lượng Đế-thích, Phạm-thiên, Hộ-thế, Thiên, Long, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la, Ca-lâu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-già, Nhân và Phi-nhân... Trong đây đều là quần chúng Đại Bồ-tát, không có kẻ phàm phu.
[ĐOẠN 2: THẾ TÔN VÀO ĐỊNH VÀ HIỆN THẦN BIẾN]
Lúc bấy giờ, Thế Tôn ngồi dưới cây Bồ-đề, trang nghiêm tinh sạch vi diệu, giống như dưới cây Chất-đa đặt viên ngọc Như-ý, chính niệm bất động như núi Tu-mi. Vì muốn khiến các chúng Bồ-tát và tất cả chúng sinh thấu hiểu được uy thần lực của thiền định sâu mật của chư Phật, nên Ngài vào Tam-muội tên là Như Lai Bất Tư Nghì Cảnh Giới.
Tức thì ba mươi hai tướng tốt của Thế Tôn, trong mỗi một tướng, đều hiện ra vô lượng Phật-sát và chư Phật ở mười phương, giống như gương sáng hiển hiện muôn màu; lại trong các vẻ đẹp phụ (tùy hảo), mỗi một vẻ đẹp lại hiện ra khi Như Lai xưa kia tu hạnh Bồ-tát, từ thời Quang Minh Vương cho đến rốt cùng nơi Phật Nhiên Đăng, trải qua các khó khăn khổ hạnh, thảy đều xả bỏ tất cả đầu, mắt, thân thể, da thịt, tay chân, vợ con, tôi tớ, cho đến ngôi vua, cung điện... Các việc như thế.
Do Tam-muội này có thế lực lớn, tất cả chư Phật khi ăn, khi đi, khi nói pháp, khi Niết-bàn thường vào định này. Vì sao thế? Vì tất cả Như Lai dựa vào Tam-muội này mà thành tựu vô lượng đại uy thần lực, cho đến chứng nhập tất cả pháp Không, có thể ở nơi tất cả cõi Phật trong mười phương thị hiện các loại sự việc tự tại.
Ví như có người nằm mộng thấy các loại việc biến dị, đến khi tỉnh dậy thì những gì thấy đều không có; phàm phu cũng lại như thế, vì giấc mộng vô minh nên vọng sinh ra tưởng thể thật nơi các pháp. Chư Phật đã tỉnh ngộ thì thảy đều không bám chấp, cho nên có thể ở trong tất cả thế giới mười phương, trong một niệm thị hiện vô lượng Phật sự, tự tại không chướng ngại, thành tựu lợi ích cho tất cả chúng sinh, đều khiến họ ngộ nhập vào vô lượng cửa giải thoát sâu xa vi diệu.
[ĐOẠN 3: ĐỨC TẠNG BỒ-TÁT VẤN PHÁP VÀ PHỔ HIỀN KHAI THỊ]
Lúc bấy giờ, Đức Tạng Bồ-tát tu Bồ-đề hạnh chưa tròn đầy, mới hỏi Phổ Hiền Bồ-tát Ma-ha-tát rằng: "Tam-muội mà Như Lai nay đang vào tên gọi là gì? Lại làm thế nào mà có thể ở nơi tất cả thế giới mười phương tự tại thị hiện các loại Phật sự để độ thoát chúng sinh?"
Lúc ấy, Phổ Hiền Bồ-tát bảo Đức Tạng Bồ-tát rằng: "Lắng nghe, lắng nghe! Ta sẽ vì ông mà nói." Lúc này các Bồ-tát một lòng chiêm ngưỡng, đồng thanh khen rằng: "Lành thay lời hỏi! Rất sâu xa vi diệu, Tôn giả Phổ Hiền có tất cả tri kiến, nay hãy thuyết giảng." Tức thì đại địa sáu gợn chấn động, trời mưa hoa diệu, tất cả phiền não mọi khổ đau của chúng sinh đều tạm thời ngưng nghỉ.
Phổ Hiền Bồ-tát nói: "Phật tử! Tam-muội này tên là Như Lai Bất Tư Nghì Cảnh Giới, chính là Bồ-đề của tất cả chư Phật, vì các Như Lai thường an trụ nơi đây. Thế Tôn bắt đầu từ khi nhận thọ ký nơi Phật Nhiên Đăng, liền vào định này, thường không cần tác dụng công sức (vô công dụng), tự nhiên ứng hiện vô lượng Phật sự.
Nghĩa là ở nơi đầu một sợi lông trong hư không, có các thế giới chư Phật nhiều như số vi trần của tất cả cõi Phật. Trong đó hoặc hiện sinh lên trời Đâu-suất, hoặc từ đó giáng sinh chui vào bụng mẹ, hoặc hiện mới sinh đi dạo bảy bước tự nói: 'Ta nay chính là ranh giới của sinh tử', hoặc hiện ở trong cung, xuất gia khổ hạnh, hoặc hiện hàng phục ma, thành Đẳng Chính Giác, chuyển bánh xe pháp diệu, hoặc hiện ở đời trải qua vô lượng kiếp độ các chúng sinh đều khiến lìa khổ, hoặc lại thị hiện đi vào Niết-bàn; hoặc làm cho tất cả kiếp thành một sát-na, hoặc một sát-na thành tất cả kiếp, kiếp và sát-na không tăng không giảm. Cho đến khi tất cả chúng sinh chưa giải thoát hết, thì trong từng sát-na, cùng một lúc khắp các thế giới này, thường làm các loại Phật sự như thế, chưa từng ngơi nghỉ mà không cần tác dụng công sức.
Như nơi đầu một sợi lông trong hư không chứa vô lượng cõi, trong từng niệm khắp hiện các loại uy nghi pháp tắc của chư Phật mà không cần tác dụng công sức; cho đến khắp lượng đầu sợi lông trong không trung cũng đều như thế. Lại nữa, tất cả vi trần trong các cõi ấy, trong mỗi một hạt bụi lại có các cõi nước nhiều hơn số vi trần của tất cả cõi Phật. Cũng trong một sát-na, nơi mỗi một cõi, tự nhiên khắp hiện tất cả uy nghi hành động của chư Phật, hoặc sinh thiên cung cho đến diệt độ, giải thoát vô lượng vô số (A-tăng-kỳ) chúng sinh. Như thế trong từng niệm cùng tận cõi vị lai, thường làm Phật sự lợi ích chúng sinh, cho đến khi cõi chúng sinh trong hư không cùng tận, thường không ngơi nghỉ, mà cõi Phật không giảm, vi trần không tăng. Vì sao thế? Vì tất cả pháp giống như ảo ảnh ngọn lửa, không bền vững chắc chắn.
Ví như đại chúng Bồ-tát trong hội này nhiều như số vi trần của mười thế giới Phật, đều cùng ở trong mười hai do-tuần của nước Ma-kiệt-đề này mà không chướng ngại nhau. Trong mỗi một hạt bụi kia đều chứa vô số thế giới Phật, hoặc ngửa, hoặc úp, hoặc hướng vào nhau, hoặc lưng lại nhau, hoặc ở bên cạnh, hoặc thâm nhập lẫn nhau mà không chướng ngại, cũng lại như thế. Như người trong mộng, thấy ở một nơi có các loại sự việc, vì không thật nên không có chướng ngại.
Tất cả các cõi ấy, không cõi nào là không do tâm mình hiển hiện. Hoặc thấy kiếp cháy, hoặc đã cháy hết, hoặc do gió tạo thành, hoặc sạch, hoặc bẩn, hoặc lại không có Phật... Đều do chúng sinh đi theo nghiệp tâm của mình mà thấy những loại không giống nhau như thế.
Ví như quỷ đói bị đói khát thiêu đốt, đến sông Hằng, hoặc có kẻ thấy nước, hoặc có kẻ thấy tro, mủ máu, phân đái bẩn thỉu tràn ngập. Chúng sinh cũng lại như thế, mỗi mỗi tùy theo nghiệp mà thấy cõi Phật của mình hoặc sạch, hoặc bẩn, hoặc Phật ở đời, hoặc vào Niết-bàn, hoặc ở đạo tràng vì chúng thuyết pháp, hoặc có kẻ nghe nói Đệ Nhất Nghĩa Đế, hoặc có kẻ nghe nói khen ngợi pháp bố thí, hoặc thấy đi đứng, hoặc thấy ngồi ăn, hoặc thấy thân dài gấp đôi người đời cho đến gấp bảy lần, hoặc một do-tuần, trăm do-tuần, ngàn do-tuần; hoặc thấy uy quang như mặt trời mới mọc, hoặc như trăng tròn; hoặc do nghiệp chướng gặp lúc Thế Tôn đã diệt độ từ lâu, hoặc có kẻ không nghe đến tên chư Phật... Như quỷ đói ở trong sông Hằng hoàn toàn không thấy nước, chỉ thấy các loại vật dơ bẩn.
Hoặc thấy chư Phật đều từ chỗ của mình, thị hiện uy đức hình Bồ-tát lớn đến vào hội này. Hoặc trong một cõi, chúng sinh chỉ thấy lửa kiếp thiêu đốt; hoặc trong một cõi, chúng sinh đông đúc đều cùng thấy Phật. Hoặc thấy Như Lai thu tất cả cõi vào một cõi Phật, đem một cõi Phật vào tất cả cõi. Như những người bị bệnh mắt cùng ở một nơi thấy mỗi người mỗi khác, không chướng ngại lẫn nhau, đều do mắt bệnh nên không thấy màu đúng thực. Chúng sinh cũng lại như thế, sắc tính không chướng ngại, do tâm duyên khác nhau nên che lấp chánh kiến, không hiểu rõ chân thực.
[ĐOẠN 4: NĂNG LỰC TRONG ĐỊNH VÀ HIỆN TƯỢNG VỚI CÁC TẦNG BẬC BỒ-TÁT]
"Phật tử! Nay vì ông mà tóm lược nói về pháp trụ trong Tam-muội này: Như Đức Phật Thế Tôn trụ Tam-muội này, trong một niệm, khắp lượng đầu sợi lông trong hư không giới có vô lượng cõi Phật, và trong từng hạt bụi của cõi Phật kia đều có các cõi nhiều như vi trần của Pháp giới. Vì muốn lợi ích các chúng sinh, nên từng sát-na khắp mỗi một cõi, hiện ra các phương tiện, uy nghi hành động của chư Phật nhiều như số vi trần của mười cõi Phật. Như thế cho đến tất cả chúng sinh chưa chứng đắc vô thượng Bồ-đề trọn vẹn, thì thường không gián đoạn. Một Đức Phật như thế, Đức Phật thứ hai, thứ ba, cho đến tất cả chư Phật mười phương, đại uy đức lực của mỗi mỗi Đức Phật hiện ra cũng đều như thế."
Lúc này Đức Tạng Bồ-tát nghe lời thuyết giảng ấy xong, ngay trên tòa đắc Tam-muội này, lập tức thấy vô lượng chư Phật kia và biết uy đức phương tiện của chư Phật, bằng lực Tam-muội cũng có thể điều phục chúng sinh như thế. Chúng Bồ-tát nhiều như trăm hạt cát sông Hằng, mỗi vị chứng đắc các loại Tam-muội nhẫn và các Địa.
Quán Tự Tại và các Đại Bồ-tát trụ Địa thứ Mười (Thập Địa), vì công đức diệu hạnh thảy đều tròn đầy, nên đều đã từ lâu đắc Tam-muội này: trong một sát-na thu vô lượng kiếp, trong một vi trần nạp vô lượng cõi, trong một niệm khắp tất cả cõi, độ vô lượng chúng sinh, thường không cần tác dụng công sức, tự nhiên thị hiện các việc của Phật. Dù nghe pháp này nhưng không cần tiến thêm nữa, như bình nước đầy đặt trong mưa, không thể chứa thêm một giọt; các Bồ-tát này cũng lại như thế.
Lúc ấy Thế Tôn ở trong Tam-muội, phóng ánh sáng từ giữa lông mày, tên là Đại Hiển Phát. Tất cả các Bồ-tát còn phải hành trì có công dụng, chưa chứng Địa thứ Mười... gặp ánh sáng này rồi, thảy đều thấy trong không trung nơi các đầu sợi lông và trong vi trần có vô lượng cõi Phật, như bình lưu ly đựng hạt cải trắng, người xem thảy đều thấy. Các Bồ-tát kia thấy tất cả cõi Phật trong vi trần cũng lại như thế. Và thấy tất cả chư Phật nơi cõi kia, nơi thân từng Đức Phật thấy thân tất cả Phật, mỗi một chư Phật có vô lượng tên, đều vì lợi ích từng chúng sinh, trong từng niệm thường ở từng cõi Phật, tự nhiên ứng hiện thành A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề (Thành Đẳng Chánh Giác).
Ví như trên tràng cao đặt viên ngọc Như-ý, tự nhiên mưa khắp các loại châu báu, tùy theo ý chúng sinh thảy đều làm cho thỏa mãn. Như Lai cũng lại như thế, hiện Chánh Đẳng Giác, tự nhiên độ thoát vô lượng chúng sinh. Chúng sinh trong các cõi ấy mỗi người một khác mà không chướng ngại nhau, như người có thần lực dạo đi trong hư không, sông núi đá vách không có gì ngăn ngại. Vì sao thế? Vì tất cả các nẻo đều như ảo ảnh ngọn lửa, không vững chắc.
Các chúng Bồ-tát sau khi thấy điều này, mỗi vị tự thấy thân mình khắp tất cả cõi, trong một niệm trước mặt từng Đức Phật, hoặc trải qua một kiếp, hai kiếp, ba kiếp, hoặc trăm nghìn kiếp, hoặc trong một niệm, hoặc trong một chốc mắt, kính cẩn cúng dường. Hoặc nghe Phật nói các Ba-la-mật, các đà-la-ni, hoặc nói các Địa, hoặc hiện thần biến... Đem tất cả kiếp vào trong một niệm, sinh ra tưởng vô cùng kỳ đặc hiếm gặp, mới nghĩ rằng: "Vì sao Thế Tôn uy đức tự tại, trong một sát-na làm cho con đầy đủ thiện căn phước đức trong vô lượng kiếp, mau chứng đại uy thần lực Tam-muội Như Lai Bất Tư Nghì Cảnh Giới?"
[ĐOẠN 5: PHƯƠNG PHÁP TU TẬP: PHƯỚC ĐỨC, BỐ THÍ, GIỮ GIỚI VÀ PHÁT NGUYỆN]
Lúc bấy giờ Đức Tạng Bồ-tát vì muốn lợi ích các chúng sinh, lại hỏi Phổ Hiền Bồ-tát rằng: "Người nào muốn chứng Tam-muội này, thì tu phước đức, bố thí, giữ giới, trí tuệ như thế nào?"
Lúc này Phổ Hiền Bồ-tát đang trong khắp các cõi tịnh mười phương hiện thành Chánh Giác hóa độ chúng sinh, bảo Đức Tạng Bồ-tát rằng: "Phật tử! Nếu muốn chứng đắc Tam-muội này, trước tiên nên tu phước, gom nhóm các thiện căn, nghĩa là thường cúng dường Phật, Pháp, Tăng chúng, và bố mẹ; tất cả những người nghèo cùng khổ não, không ai cứu giúp, không nơi nương tựa, đáng thương xót... thì xót thương nhiếp thụ không bỏ, cho đến thân thịt cũng không tiếc xót.
Vì sao thế? Cúng dường Phật thì đắc phước đức lớn, mau thành A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề, khiến các chúng sinh đều nhận được an lạc; Cúng dường Pháp thì tăng trưởng trí tuệ, chứng pháp tự tại, có thể biết rõ chân thực tính của các pháp; Cúng dường Tăng thì tăng trưởng vô lượng tư lương phước trí, dẫn đến thành Phật đạo. Cúng dường bố mẹ, Hòa thượng, Tôn sư, và những người trong thế gian từng đem lại lợi ích, nhờ ơn của họ, thì nên nhớ nghĩ mà tăng gấp bội sự cúng dường báo ơn.
Vì sao thế? Vì người biết ơn thì dù ở trong sinh tử cũng không làm hỏng thiện căn; người không biết ơn thì thiện căn đoạn diệt, làm các nghiệp ác. Cho nên các Như Lai khen ngợi người biết ơn, chê trách kẻ phụ ơn. Lại thường thương xót cứu giúp các chúng sinh đau khổ, Bồ-tát do thiện căn rộng lớn này mà vĩnh viễn không lùi sụt. Nếu có người có thể chăm chỉ tu phước đức, thường nhớ báo ơn, thương xót chúng sinh, thì xem như Bồ-đề đã ở trong tay. Nên biết Phật nói, có thể tùy thuận cúng dường ba ruộng phước này, mỗi một việc đều thành tựu vô lượng thiện căn.
"Đức Tạng nên biết! Bồ-tát tiếp theo nên gieo hạt giống rộng lớn, do đó mà sinh mầm Tam-muội này, thành quả Bồ-đề. Thế nào là gieo hạt giống? Nghĩa là mang các loại hoa tràng, hương thoa, hương bột vi diệu, và các âm nhạc, kính cẩn cúng dường các Đức Phật hiện tại, hoặc hình tượng Phật, mà suy nghĩ rằng: 'Như trên đã nói, khắp nơi lượng đầu sợi lông trong hư không và trong vi trần của vô lượng cõi, mỗi mỗi nơi đã thấy uy lực của chư Phật và chúng Bồ-tát, con thảy đều ở trong các hội chư Phật kia, một lòng chánh niệm, khắp đều cúng dường. Như cúng dường Pháp tính của một Đức Phật, tức là Pháp tính của tất cả chư Phật; nếu con cúng dường một Như Lai, tức là cúng dường tất cả Như Lai. Tùy theo thần lực của từng Đức Phật kia có thể đem bao nhiêu kiếp vào trong một niệm, con cũng đem bấy nhiêu kiếp cúng dường Như Lai.' Nếu có chúng sinh tin hiểu pháp này, gieo trồng hạt giống lớn, thì có thể đắc Tam-muội rộng lớn Như Lai Bất Tư Nghì Cảnh Giới này.
Cho nên, thiện nam tử! Nên đem pháp này, ngày ngày cúng dường. Do đó cho đến thấp nhất là nơi chư Phật chỉ đảnh lễ một lạy, cũng có thể làm cho hạt giống này tăng trưởng, mầm Tam-muội sinh ra. Lại nên thường lấy bố thí, giữ giới, đại nguyện, trí tuệ mà tưới tắm nó.
Lại nữa Bồ-tát vì tưới Tam-muội, khi tu hành bố thí thì không lựa chọn ruộng phước, kẻ thù người thân, kẻ thiện người ác, người giữ giới kẻ phá giới, giàu sang hay nghèo hèn. Lại suy nghĩ: 'Bố thí cho người giàu tuy người ta không dùng đến, nhưng bản thân ta tự nên tu tập hạnh bố thí.'
Bồ-tát lại nên thanh tịnh giữ giới, thấy người phạm cấm giới thì sinh lòng đại bi thương xót, không nên đối với họ sinh lòng chán ghét giận dữ.
Lại nên sâu xa phát nguyện Bồ-đề lớn: 'Con sẽ quyết định trong từng niệm khắp nơi trùm đầy lượng đầu sợi lông trong hư không, cho đến trong từng hạt bụi của tất cả cõi Phật nơi vô lượng thế giới, thành Đẳng Chánh Giác, chuyển bánh xe diệu pháp, độ các chúng sinh, như Đức Thế Tôn Tỳ-lô-giá-na ngày nay, bằng đặn không khác, không dấy lên tác dụng công sức, thu nhiếp vô lượng kiếp vào trong một niệm. Ngay nơi mỗi một cõi như thế, mỗi cõi hiện chư Phật nhiều như số vi trần của cõi Phật với đủ loại uy nghi, mỗi một uy nghi độ chúng sinh nhiều như cát sông Hằng, đều khiến lìa khổ, cho đến cõi chúng sinh trong hư không cùng tận, thường không ngơi nghỉ.'"
[ĐOẠN 6: PHƯƠNG PHÁP TU TẬP TRÍ TUỆ VÀ QUÁN TƯỞNG QUÁN PHẬT]
"Phật tử! Người tu trí tuệ, một lòng lắng nghe, nay sẽ vì ông mà nói. Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân vì tìm cầu vô thượng Bồ-đề, phát tâm muốn chứng Tam-muội này, người ấy trước hết cần phải tu trí tuệ, vì Tam-muội này do trí tuệ mà đắc được.
Người tu trí tuệ nên xa lìa lời dối trá (vọng ngữ), lời thêu dệt (ỷ ngữ), và các sự việc tán loạn vô ích. Đối với các chúng sinh tuy sinh lòng đại bi nhưng thường thu giữ tâm mình, không bị nhiễm bẩn, không bị tán loạn.
Đến trong tịnh xá ngắm nhìn hình tượng Phật, trang nghiêm sắc vàng, hoặc bằng vàng ròng đúc thành, tướng tốt thân thể đầy đủ, vô lượng hóa Phật đi vào Tam-muội, ở trong vòng ánh sáng tròn ngồi theo thứ tự. Ngay trước tượng Phật, gieo đầu mặt lễ chân, mà suy nghĩ rằng: 'Tôi nghe chư Phật vô lượng ở mười phương nay đang hiện tại ở đời, gọi là Phật Nhất Thiết Nghĩa Thành, Phật A-di-đà, Phật Bảo Tràng, Phật A-súc, Phật Tỳ-lô-giá-na, Phật Bảo Nguyệt, Phật Bảo Quang...' Đối với chư Phật kia, tùy theo nơi tâm mình yêu thích tôn trọng, sinh lòng tin trong sạch lớn. Tưởng hình tượng Phật làm thân chân thực của Như Lai kia, kính cẩn tôn trọng như đang thấy trước mặt, trên dưới nhìn kỹ, một lòng không loạn.
Đến chỗ thanh vắng, ngồi thẳng suy nghĩ, như Phật đang hiện trước mặt khoảng một tay, tâm thường buộc niệm, không làm cho quên mất; nếu tạm thời quên mất, lại nên đến ngắm nhìn. Khi quán như thế, sinh lòng vô cùng tôn trọng kính cẩn, như thân thật của Phật đang ở trước mặt mình, thấy rõ ràng minh bạch, không còn đối với đó làm hiểu biết theo hình tượng nữa.
Thấy rồi, liền nên ở nơi Đức Phật kia, lấy hoa tràng, bột hương, thoa hương diệu kính cẩn đi quanh bên phải, cúng dường các loại. Người đó nên một lòng buộc niệm như thế, thường như Thế Tôn đang hiện sống trước mặt mình. Mà Đức Phật Thế Tôn là Đấng thấy tất cả, nghe tất cả, biết tất cả, thảy đều biết tâm tôi. Xét suy nhắc lại như thế, tưởng thấy đã thành rồi, trở về chỗ vắng, buộc niệm ở phía trước, không làm cho quên mất. Một lòng chăm chỉ tu tập, đầy đủ ba tuần (21 ngày).
Nếu là người có phước đức thì liền thấy Như Lai hiện ra trước mặt; người nào có nghiệp chướng ác từ đời trước không đắc thấy, nếu có thể một lòng tinh tiến không lùi sụt, không có suy nghĩ khác, lại được mau chóng thấy. Vì sao thế? Vì nếu có người vì cầu vô thượng Bồ-đề, ở trong một việc chuyên tâm tu tập thì không gì là không thành tựu. Nếu đối với việc tu hành mà nhiều lần khiếp sợ lùi sụt, kẻ ấy còn không thể tự đắc giải thoát, huống chi độ thoát các chúng sinh đau khổ? Nếu gặp đạo chính thực mau đắc Bồ-đề như thế này mà không thể chăm chỉ tu tập, nên biết kẻ đó chỉ là gánh nặng của đất trời!
Ví như có người ở trong biển lớn, uống một hốc nước, tức là đã uống tất cả nước sông trong cõi Diêm-phù-đề. Bồ-tát cũng như thế, nếu có thể tu tập biển Bồ-đề này, tức là đã tu tất cả Tam-muội, các Nhẫn, các Địa, các Đà-la-ni. Cho nên thường nên chăm chỉ tu tập không lười nhác, lìa bỏ phóng dật, buộc niệm một lòng, phải làm cho bản thân tự đắc hiện tiền thấy Phật.
[ĐOẠN 7: KHAI THỊ VỀ TÍNH KHÔNG VÀ TÂM LƯỢNG KHI THẤY PHẬT]
"Tu tập như thế khi mới thấy Phật, hãy suy nghĩ rằng: 'Là Phật thật sao? Hay là hình tượng?'
Nếu biết chỗ thấy là Phật thật, liền ở trước Phật, hai gối quỳ đất, chắp tay kính cẩn, nhớ niệm chư Phật nơi lượng đầu sợi lông trong hư không và trong vi trần do vô lượng uy đức, đại từ bi nên đến hiện trước mặt con, liền nên khởi lời thỉnh cầu: 'Cúi xin Thế Tôn vì con diễn nói đại pháp Tam-muội Như Lai Bất Tư Nghì Cảnh Giới.' Nếu nghe tất cả những gì Như Lai nói, nên quyết định tin tưởng, chớ sinh nghi ngờ, liền ngay nơi đó đắc Tam-muội này.
Nếu do nghiệp chướng trước kia không thể hỏi được, thì nên suy nghĩ: 'Tất cả các pháp như ảo, như ngọn lửa, như bệnh mắt, như bóng, như hình ảnh, như mộng mị, quán kỹ pháp tính không tịch như thế. Lại biết Như Lai hiểu tất cả pháp đều như ảo mộng, tự tính của Như Lai không phải ảo, không phải mộng, giống như hư không, có thể đem trí bi xuất hiện trước mặt con, nguyện vì con phóng ánh sáng xanh đại bi, diệt trừ các khổ.' Lúc ấy Phật liền vì người đó phóng ánh sáng giữa lông mày tên là Thanh Diễm (ngọn lửa xanh), ánh sáng ấy vừa chiếu đến, các khổ tiêu trừ, liền ngồi đó chứng đắc Pháp Quang Minh Nhẫn, thảy đều thấu đạt vô lượng Tam-muội. Đêm ngày thứ bảy, mộng thấy Như Lai vì mình trao ký A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề.
Nếu biết chỗ thấy là Hình tượng, nên suy nghĩ chư Phật và các chúng sinh thảy đều như hình tượng, chỉ tùy theo tưởng mà thấy, không có thể tính chân thực. Đã biết Như Lai như ảo, như hóa, như mộng, như ngọn lửa, thì tự nhiên hiện tiền thấy Phật như thế, cũng như trong mộng, không có cái thực để đắc được: không phải sinh mà sinh, không phải diệt mà diệt, không phải đi mà đi, không phải thức mà thức, không phải hữu vi mà hiện các hành, không phải ngôn thuyết mà diễn các pháp, không phải Ngã, không phải Thọ, không phải Chúng sinh, không phải Dưỡng dục, không phải Thú sinh, không phải Tưởng, không phải Tác, không phải Tri, không phải Thực, không phải tức là Uẩn, không phải ở trong Uẩn mà thị hiện các Uẩn, cho đến Giới, Xứ cũng lại như thế. Tất cả đều không phải Hữu, cũng lại không phải Vô; cho nên chư Phật và tất cả pháp chân thực bình đẳng, đều cùng một tướng, như ánh nắng xuân (dương diễm)...
Tất cả chúng sinh, chư Phật và cõi nước, đều chỉ do thức tưởng của tự tâm hiển hiện. Thức tưởng làm duyên, các sắc được sinh ra rốt cùng không phải Hữu. Như Lai đã lìa tất cả thức tưởng, cho nên không nên dùng sắc tướng để thấy.
Biết hình tượng được thấy tùy theo tưởng mà sinh, cho đến tất cả Phật thật nơi lượng đầu sợi lông trong hư không cũng đều như thế, giống như hư không, bình đẳng không khác. Nếu ta phân biệt tức liền thấy Phật, nếu lìa phân biệt tức không có chỗ thấy. Tự tâm làm Phật, lìa tâm không có Phật; cho đến tất cả chư Phật trong ba đời cũng lại như thế, đều không có sở hữu, chỉ tựa vào tự tâm.
Bồ-tát nếu có thể hiểu rõ chư Phật và tất cả pháp đều chỉ là Tâm Lượng, thì đắc Tùy Thuận Nhẫn, hoặc vào Sơ Địa, xả thân mau sinh về thế giới Diệu Hỷ, hoặc sinh trong tịnh độ Cực Lạc, thường thấy Như Lai, thân cận cúng dường."
[ĐOẠN 8: CÔNG ĐỨC LƯU THÔNG VÀ LỜI KỆ TÁN THÁN]
Lúc bấy giờ Đức Tạng Bồ-tát lại thưa Phổ Hiền Bồ-tát rằng: "Nếu có chúng sinh nghe pháp môn này, thọ trì, đọc tụng, giải thích, biên chép, thì đắc bao nhiêu phúc đức?"
Phổ Hiền Bồ-tát nói: "Phật tử lắng nghe! Nếu có người có thể thu nhận tất cả chúng sinh trong ba cõi, khiến thoát sinh tử đắc quả A-la-hán; mỗi một vị A-la-hán lại trong trăm kiếp đem áo quần, giường phản, thức ăn uống, thuốc men thượng diệu trên trời cúng dường; sau khi vào Niết-bàn, mỗi một vị lại vì đó dựng tháp bằng bảy báu kính cẩn cúng dường. Nếu lại có người trong một trăm kiếp giữ gìn cấm giới trong sạch, hoặc tu nhẫn nhục, tinh tiến, thiền định... Người ấy tuy đắc vô lượng phước, không bằng có người nghe pháp môn này, tôn trọng tin nhận, không sinh chê bai hủy báng, thì phước kia hơn hẳn, mau thành Chánh Giác."
Lúc bấy giờ vô lượng chư Phật nơi tất cả các cõi mười phương đều tự hiện thân, khen Phổ Hiền Bồ-tát rằng: "Lành thay, lành thay! Phật tử! Đúng như lời ông nói."
Lúc ấy Đức Thích-ca Mâu-ni Như Lai từ nơi cửa mặt phóng vô lượng ánh sáng muôn màu, chiếu khắp ba cõi, mưa các loại hoa, các thứ âm nhạc diệu không đánh tự kêu, đại địa gợn động nhẹ. Trong ánh sáng mà nói kệ rằng:
"Nếu nghe pháp này tâm thanh tịnh,
Đắc các Địa, Định, Đà-la-ni,
Giới nhẫn tự tại thần thông lực,
Mau chứng Vô Thượng Phật Bồ-đề.
Chuyển bánh xe pháp chưa từng có,
Cũng như Đại Tiên trong quá khứ,
Trong một niệm thu nhiều số kiếp,
Một bụi khắp hiện vô lượng cõi.
Vô lượng chúng sinh chìm ba cõi,
Các khổ bức bách thường thèm khát,
Tà kiến trói buộc mất đường chánh,
Trong từng niệm khiến đều giải thoát."
Phổ Hiền Bồ-tát đối với pháp môn này đã lâu năm chứng đắc, nên khi vì chúng thuyết giảng, ức ngàn thiên nhân thoát tất cả khổ, đều ở nơi A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề đắc không lùi sụt.
Đức Tạng Bồ-tát và tất cả chúng hội Bồ-tát còn lại, thế gian Thiên, Long, A-tu-la... đều vô cùng hoan hỷ, tin nhận vâng làm.
Kinh Đại Phương Quảng Như Lai Bất Tư Nghì Cảnh Giới (Hết)
Chúng tôi luôn sẵn lòng lắng nghe và hỗ trợ bạn
Email:
Điện thoại:
chonngobalamat@gmail.com
+61 425750840


