GIẤC MỘNG VÀ BÁT-NHÃ DIỆU DỤNG
Nguon tai lieu nay trinh bay cac bai giang sau sac ve triet ly Bat-nha va phuong phap quan chieu thuc tai nhu mot giac mong de giai thoat khoi kho dau. Nguoi day nhan manh rang viec thau hieu ban chat huyen hoa cua van vat—tu giac mo ban dem den cuoc song ban ngay—la con duong nhanh nhat de pha bo nghiep chuong va cac chap truoc. Thong qua viec giai thich cac khai niem nhu Nhu Huyen Nhan va cac loai nhan duyen, van ban lam ro rang van phap deu do tam dinh nghia va khong co tu tinh chan that. Tuy nhien, giac ngo khong co nghia la tu bo moi thu ma la duy tri mot nhan thuc dung dan de tu tai van dung cac phuong tien huyen co vao viec loi lac. Muc tieu cuoi cung la nho sach nhung "moc ngoac" trong tam de dat den trang thai vo quai ngai, tu do bien cuoc doi thanh mot "Phat su giua chiem bao."
7/1/202627 min read


GIẤC MỘNG VÀ BÁT-NHÃ DIỆU DỤNG
17/05/2026
Tất cả mọi thứ — đó là điều mà Như Huyễn Nhẫn, Như Huyễn Quán nhắm đến để đột phá. Tại sao chúng ta phải học cái này? Là bởi vì nếu tính chuyện bắt tay vào tu từ từng điểm một, thì nó mênh mông vô tận, có mà đến tết Công-gô cũng chẳng hết. Cho nên cuối cùng phải tìm ra một cách nhanh nhất, cái kiểu “một là tất cả, tất cả là một” ấy; chính là bắt tay từ mộng huyễn bào ảnh mà vào. Và điểm nhập môn tốt nhất chính là Giấc mộng. Bởi vì ai trên đời này mà chẳng từng nằm mơ, nó quá đỗi quen thuộc rồi. Cho nên, điểm gì đã quen thuộc thì mới dễ thâm nhập nhất, dễ hiểu, dễ thông.
Học Như Huyễn Nhẫn (Như Mộng Nhẫn) chính là để đột phá tất cả chướng ngại, đột phá tất cả trói buộc; phàm là những điểm đang chấp trước thì thảy đều có thể nương vào đây để đột phá hết. Thậm chí còn là để phá một số Nghiệp, phá Nghiệp chướng nữa; đây chính là phá Nghiệp chướng rồi đấy. Thông qua Như Mộng Nhẫn này, còn có thể giúp bản thân đạt đến chỗ thanh tịnh.
Kinh văn về nghiệp thanh tịnh
《Nguyệt Đăng Tam Muội Kinh》 quyển 10: Đồng tử! Thế nào gọi là nghiệp thanh tịnh? Nhìn thấy trong Ba cõi giống như mộng tưởng, đối với đó mà nhàm chán xa lìa, không khởi lòng tham ái, đó gọi là nghiệp thanh tịnh.
Từ đây về sau làm cái gì cũng không gặp chướng ngại nữa. Chứ nếu Nghiệp chướng mà chưa phá trừ được, thì làm cái gì cũng sẽ gặp trở ngại trùng trùng. Đến lúc đó thì ngay cả Ba mươi bảy Phẩm Trợ Đạo cũng có thể tinh giản đi, chẳng cần học nữa ấy chứ.
Tận sở hữu tính và Như sở hữu tính
《Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh》 quyển 3, phẩm Học Quán: “Nếu Bồ-tát Ma-ha-tát muốn thông đạt tính Tận sở hữu, tính Như sở hữu của tất cả các pháp, thì nên học Bát-nhã Ba-la-mật-đa.”
“Tận sở hữu tính”, chính là tất cả những gì chân thật, đào sâu tìm tòi cho đến tận cùng tất cả những gì chân thật; Tự tính chính là cái tận cùng của tất cả những gì chân thật. Còn “Như sở hữu tính” chính là tất cả các huyễn tướng được hiển hiện một cách như thực; nếu muốn thông đạt những huyễn tướng được hiển hiện nương vào Tự tính này, thì nên học Bát-nhã Ba-la-mật-đa.
Bốn duyên của tất cả các pháp
《Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh》 quyển 3, phẩm Học Quán: “Nếu Bồ-tát Ma-ha-tát muốn thông đạt tính Nhân duyên, Đẳng vô gián duyên, Sở duyên duyên, Tăng thượng duyên của tất cả các pháp, thì nên học Bát-nhã Ba-la-mật-đa.”
Trong “Như sở hữu tính” ấy, nó bao hàm tất cả mọi thứ của các huyễn tướng, tức là nhân duyên của tất cả các pháp. Ví dụ như làm ngành trồng trọt chẳng hạn, phải biết rõ hạt giống, đất, phân bón, nước, ánh sáng, nhiệt độ ra sao; lúc nào thì cơ thể cây cần loại phân bón gì. Nếu nắm bắt một cách chính xác, sẽ trúng mùa lớn, cái đó gọi là thông đạt nhân duyên của pháp trồng trọt. Để trồng một cái cây, tất cả các nhân duyên của nó, từng cái một đều phải biết rõ, cho đến khi biết rõ được tất cả mọi thứ, thì gọi là “tất cả các pháp” (nhất thiết pháp).
“Đẳng vô gián duyên” nghĩa là cái lúc nó cần, thì cái Duyên đó phải xuất hiện một cách vừa vặn hợp lý, không có một chút khoảng cách, khe hở nào. Ví dụ như nấu cơm phải nắm vững nhiệt độ ngọn lửa vậy. Hay vặn một cái ốc vít cũng phải nắm vững lực tay; lực mạnh quá thì ốc đứt gãy, lực nhẹ quá thì vặn không vào. Bắt buộc phải đạt đến chỗ vừa vặn chuẩn xác, cái đó gọi là Đẳng vô gián duyên.
“Sở duyên duyên” — ví dụ như câu: “Thợ muốn làm tốt việc của mình, trước hết phải mài sắc công cụ của mình”. Cái loại công cụ nào dùng để làm loại công việc nấy, cái đó gọi là Sở duyên duyên. Chẳng hạn muốn đào đất, phải dùng một cái xẻng, cái xẻng này chính là cái Sở duyên; nhưng cái xẻng này còn phải đem mài cho thật sắc bén nữa, đó gọi là cái Duyên của cái Sở duyên.
Còn “Tăng thượng duyên tính” — nâng cấp công cụ làm việc của mình lên, thì cái đó gọi là Tăng thượng duyên. Từ xe đạp đổi sang xe đua, xe đua đổi sang máy bay; cứ nâng cấp công cụ của mình lên thì gọi là Tăng thượng duyên. Để hiểu được nhân duyên của tất cả các pháp này, phải biết mình cần chọn cái gì.
Chín ví dụ về huyễn: như huyễn, như mộng, như hưởng…
《Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh》 quyển 3, phẩm Học Quán: “Nếu Bồ-tát Ma-ha-tát muốn thông đạt tất cả các pháp như huyễn, như mộng, như hưởng (tiếng vang), như tượng (hình ảnh), như quang ảnh (bóng sáng), như dương diễm (nắng quái), như không hoa (hoa đốm giữa hư không), như tầm-hương-thành (thành càn-thác-bà), như sự biến hóa, duy tâm sở hiện, tính tướng câu không, thì nên học Bát-nhã Ba-la-mật-đa.”
Thế nào gọi là “Huyễn”? Gọi là biến huyễn (biến đổi huyễn hóa). Nhìn sơn hà đại địa, nam nữ già trẻ, bàn ghế giường chõng xem, có cái thứ nào mà không phải là đang biến huyễn đâu; nó đang biến đổi từng giây từng phút đấy chứ. Cốt lõi của Huyễn là ở chữ “Biến” (biến đổi).
Còn “Tính tướng câu không” thì sao? Bản chất của nó, giống như tất cả các mặt chữ, từ câu, hay bộ phim đang chiếu trên màn hình vậy, thảy đều phải nương vào màn hình mà hiển hiện. Cái chữ “Không” đó chính là cái màn hình; nương vào màn hình để nó hiển hiện ra tất cả mọi thứ. Bản thân cái màn hình chính là Không, mà tất cả những thứ được hiển hiện ra đó chung quy vẫn cứ là cái màn hình, vẫn cứ là Không.
Cốt lõi của chữ “Mộng” chính là Giấc mơ chứ sao. Vì cái giấc mơ này, ai trên đời này mà chẳng nằm mơ; từ giấc mơ sẽ là điều dễ thấu hiểu nhất thế nào gọi là làm mơ. Đến khi thực sự hiểu thấu triệt rồi, sẽ biết tất cả mọi thứ trước mắt hiện tại chung quy vẫn cứ là một giấc mơ mà thôi. Chẳng qua chỉ là sự khác biệt giữa giấc mơ ban ngày và giấc mơ ban đêm — mơ ban ngày là có năm thức trước ở đó đi thu thập, thêu dệt nên; còn mơ ban đêm là đóng chặt năm thức trước lại, dùng tâm ý thức để lôi đồ đạc trong kho lưu trữ ra diễn. Mô hình vận hành của chúng là y xì đúc nhau; xét từ góc độ chân thật mà nói thì hoàn toàn y chang nhau.
“Như hưởng” chính là “nương theo nghiệp mà xuất hiện” — nghĩa là hét cái gì thì nó vọng lại cái đó. Tất cả những gì đang gặp phải hiện tại đều là Hưởng cả, đều là cái nghiệp đã tạo tác trong quá khứ, bây giờ gặt lấy cái Hưởng — cái tiếng vang dội ngược trở lại, và dội ngược lại rồi thì không muốn nhận cũng không được. Việc nó vang vọng trở lại là điều tất yếu; thế nhưng cái tiếng vang đó có thể tạo thành niềm vui hay nỗi khổ hay không, thì lại là chuyện chưa chắc. Nếu đã giác ngộ rồi, thì tất cả những thứ này không cách nào tạo thành vui khổ được nữa. Đó là triệt tiêu cái lực tác động của nó, chứ không phải là làm cho cái sự việc đó biến mất hoàn toàn; nghĩa là nó không tạo ra vui khổ, và cũng chẳng thể hình thành nên chướng ngại được nữa. Nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc cái thứ đó nó biến mất sạch sành sanh không còn gì. Nó tồn tại một cách “như lượng” (tương xứng với liều lượng); có bao nhiêu liều lượng thì nó ở bấy nhiêu, có bao nhiêu thời lượng của cái nghiệp đó thì nó sẽ xuất hiện trong vòng bấy nhiêu thời gian, gọi là tồn tại như lượng. Cho nên, nhìn vào ưu điểm của người khác thì thứ nhìn thấy thảy đều là cái tiếng vang dội ngược về; mà có đi nói xấu người khác thì nó cũng sẽ dội ngược về mình.
“Như tượng” — có soi gương thì mới có cái hình ảnh (tượng) hiện ra trong đó chứ, không soi gương thì đào đâu ra cái hình ảnh. Cười với người khác thì họ cười lại, cái này lại giống như chuyện tiếng vang (như hưởng) vậy.
“Như quang ảnh” là cái bóng của con người; dưới ánh sáng thì tự nhiên sẽ có cái bóng đổ xuống thôi. Có điều cái bóng này có mang lại vui khổ hay không, có làm chướng ngại hay không, có làm cho lưu luyến không nỡ rời xa hay không, cái đó thì mỗi người mỗi khác. Bậc cao nhân là có thể không bị nó ảnh hưởng, nó có thay đổi thế nào đi chăng nữa cũng không bị nó xoay vần làm cho phải khổ.
“Dương diễm” — như lúc lái xe ô tô, nhìn lên mặt đường nhựa phía trước thấy có cái bóng loáng loáng trông như vũng nước ấy, nhưng đến khi xe chạy qua chỗ đó thì tịnh không có giọt nước nào cả. Cái này đơn giản lắm: đốt lửa lên, ngay phía trên ngọn lửa chính là dương diễm; nó trong suốt nhưng nó chuyển động. Nó là thật có (thực hữu) hay là huyễn có (huyễn hữu)? Nó đích xác là đang tồn tại sờ sờ ra đó chứ. Nhưng nó tồn tại dưới cái lực tác động này. Cái lực tác động này chính là nghiệp nhân, sản sinh ra cái hiện tượng này thì gọi là nghiệp quả.
“Như không hoa” — mắt bị đau bệnh, hoặc lấy tay dụi mắt thật lâu, dụi cho nó mỏi mệt, mệt lử ra rồi thì tự nhiên sẽ nhìn thấy hoa đốm giữa hư không hiện ra mòng mòng.
“Như tầm-hương-thành” (thành Càn-thác-bà) là thứ được huyễn hiện ra, chứ không phải là hiện tượng ảo ảnh hải thị thần lâu. Tầm-hương-thành này là một tòa thành có thật đàng hoàng, nhưng nó hoàn toàn nương vào huyễn mà hiển hiện, là thứ có thể tùy tâm sở dục hiển hiện ra được, có thể lập tức biến huyễn ngay tại hiện tại — khác với hải thị thần lâu vốn không phải muốn nó hiện ra thế nào là nó hiện ra thế ấy. Thế giới nào cũng có tầm-hương-thành hết, chỉ là không nhìn thấy được đấy thôi. Đó là nơi ở của hạng Phi thiên (Không phải trời), giống như loài A-tu-la vậy, có phước trời mà không có đức trời. Vì nó luôn nằm trong tiến trình huyễn hóa, rất khó định hình thành thực hữu, nên gọi là tầm-hương-thành.
Vậy tòa thành này là có, hay là không có? Nó cũng giống như cái bóng vậy: không thể bảo là nó không có, mà cũng chẳng thể bảo là nó có. Đứng dưới ánh mặt trời, cái bóng đổ xuống đất; không thể bảo cái bóng này không có, mà cũng không thể bảo cái bóng này nó có thật. Ngay lúc nó đang ở đó nó cũng vốn không có thật. Xét từ thực tế mà nói thì nó là không có; thứ nhìn thấy chỉ là thứ nhìn thấy mà thôi, chứ nó hoàn toàn không chân thật. Ngay như cái bàn, ngôi nhà, chiếc xe nhìn thấy đây cũng vậy, nhìn thấy thì nhìn thấy thật đấy, nhưng nó hoàn toàn không chân thật.
Cái bàn không phải là cái bàn
Xét một cách chân thật mà nói, cái bàn hoàn toàn không phải là cái bàn. Cái bàn cũng có thể bảo nó chính là các sóng (sóng dao động), mà nương trên nền tảng của sóng cũng có thể bảo nó là các hạt, là các điện tử. Cho nên, bản chất của nó không được gọi là cái bàn. Khi khởi thần thông lên, tại sao có thể biến cái bàn thành cái ghế được? Là bởi vì có thể tự tại nhào nặn, tái tổ hợp lại cái cấu trúc nền tảng của nó; vì có thể tác động được vào cấu trúc nền tảng của nó rồi. Thế nhưng, hiện tại lại bị cái “sự hiểu biết” của chính mình trói buộc lại — “biết rõ” đây là cái bàn, cái sự biết rõ đó chính là một loại chướng, bị cái Sở Tri Chướng nó chặn đứng lại rồi.
Tại sao lại cho nó là thật có? Chính là ngay tại cái khoảnh khắc “nhận” nó một cái, là nó lập tức biến thành chướng ngại liền, không cách nào bước qua nổi. Không chỉ có chuyện bước không qua đâu, còn ở ngay trong đó mà sinh lòng hoang mang, huyễn được huyễn mất, huyễn vui huyễn khổ nữa kìa. Cái điểm mấu chốt nhất chính là ở chữ “Nhận” — tức là xác nhận nó là cái gì. Ví dụ như xác nhận cái bàn này là của mình; ai đó mà đến đập phá nó ra thì sẽ bị đau lòng liền. Còn nếu cái bàn này không phải là của mình, thì nó có hỏng hóc hay không cũng chẳng thèm đau lòng làm chi. Đã nhận nó là của mình rồi, thì chắc chắn sẽ có cái cảm giác hưởng chịu của vui khổ; không nhận nó là của mình, thì tuyệt đối không có cảm giác hưởng chịu của vui khổ nữa.
Nhưng không phải đem tất cả mọi thứ coi như chẳng có liên quan gì đến mình là xong; ví dụ như hai người mà không nhận nhau xem, thì không cách nào đến được với nhau. Một khi đã nhận rồi thì chắc chắn là sẽ có khổ có vui. Ngay tại cái khoảnh khắc thừa nhận một cái, là mọi chuyện bắt đầu; thời gian càng lâu lại càng kiên cố, thì cái liều lượng vui khổ lại càng nhiều lên.
Bởi vậy, vạn sự vạn vật nằm ở chỗ nhìn nhận nó là thật có (thực hữu) hay nhìn nhận nó là huyễn có (huyễn hữu), cái hiệu quả nó sinh ra sẽ hoàn toàn khác nhau. Cùng là một sự việc sờ sờ ra đó, người biết tu thì bất luận nó tốt hay nó xấu, nó sinh hay nó diệt, thảy đều là chuyện tốt cả — vì biết cách nhìn nhận. Còn nếu là người không biết tu, thì mọi chuyện sẽ biến thành cái kiểu: nào là của anh, của tôi, tốt, xấu, đúng, sai, cái này có lợi cho tôi, cái kia có hại cho tôi... cứ thế mà dai dẳng kéo dài không bao giờ dứt.
Nhẫn nhục — chánh nhân của Bồ-đề
Việc Tu chẳng phải chính là một chữ Nhẫn (Nhận) sao? Cho nên mới bảo Nhẫn nhục là cái chánh nhân của Bồ-đề.
《Ưu Bà Tắc Giới Kinh》 quyển 7, phẩm Sám Đề Ba La Mật: “Nhẫn nhục chính là chánh nhân của Bồ-đề, Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác chính là quả của nhẫn.”
Đây là chánh nhân của Bồ-đề, có cái này thì mới có Bồ-đề; nhẫn nhục là nhân, là cái chánh nhân của Bồ-đề. Có nhẫn nhục thì mới có được Bồ-đề. Không có nhẫn nhục mà lại vỗ ngực bảo có Bồ-đề, thì đó là kẻ lừa đảo. Thế nào gọi là nhẫn nhục? Phải xác định, nhìn nhận cho thật rõ ràng cái chữ “Nhục” (sỉ nhục) đó là gì, điều sỉ nhục là cái gì. Không phải né tránh nó đi, mà là không để cho nó phát sinh, không tự tạo ra điều sỉ nhục cho chính mình. Nhận vọng làm chân, mê mình theo vật, từ đó bị cái lưới nghiệp nó kéo lê trói buộc; cái đó chính là không có nhẫn nhục, không có giác ngộ — đó là điều sỉ nhục. Thế mà những điều sỉ nhục này lại không chịu nhận biết, còn đem cái sỉ nhục đó coi như vinh quang, vinh hiển, thế thì làm mất mặt chết đi được.
Mê thì người chạy theo pháp, các pháp muôn vàn sai biệt mà người thì không đồng nhất. Chẳng cần phải nghiên cứu quá nhiều thứ đâu, nghiên cứu nhiều quá là lại không nắm được trọng tâm đâu. Trước hết hãy đi nghiên cứu cái giấc mơ ban đêm cái đã. Nhìn xem nó nực cười đến nhường nào: một thứ vốn dĩ không hề tồn tại, thế mà cứ chết sống nhận định nó chắc chắn là có; có nực cười không chứ? Vốn dĩ không có chuyện gì đáng sợ cả, lại cứ cho là đáng sợ; vốn dĩ không có chuyện gì buồn cười cả, lại cứ cho là buồn cười. Trước hết phải làm cho thật rõ ràng chuyện trong mơ cái đã.
Trước mắt đừng có ôm đồm quá nhiều làm gì; cứ nắm chắc lấy trọng tâm, trước hết hãy đột phá cái đống đó đi đã. Cứ đúng một câu đó thôi: đêm nào cũng nằm mơ, mơ xong rồi, sáng ra đừng có nhỏm dậy vội, cứ nằm im đó mà nghĩ ngợi một lát xem đêm qua mình đã mơ cái gì. Ở trong mơ cứ cho nó là thật; chứ nếu không cho nó là thật, thì làm sao mà nảy sinh muôn vàn hỉ nộ ái ố cho được. Thế tại sao một thứ vốn không có, lại cứ cho nó là chân thật? Trước hết phải nói cho thật rõ ràng cái lý do tại sao cái đã. Là vì nhìn thấy, nghe thấy, cảm nhận thấy nó. Trước hết đừng có động vào cái giấc mơ ban ngày làm gì, hãy làm cho thật rõ ràng chuyện ban đêm trước đi đã.
Con người ta không tồn tại cái chuyện không nằm mơ đâu, ai cũng mơ hết, đêm nào cũng mơ. Còn việc không nhớ nổi, đó là do tự mình không nhớ được đấy chứ; cái đó chứng minh là chuyện vừa mới chớp mắt qua một cái thôi mà đã chẳng nhớ được gì rồi, thì cái não trạng đã hỏng hóc rồi. Chứ cái não bộ mà không hỏng hóc, thì đêm qua làm cái gì đều biết rõ mồn một; cái mục đích phải đạt tới chính là sự rõ ràng rành mạch này đây. Tất nhiên bản chất của nó là rõ ràng rành mạch chứ; không rõ ràng rành mạch thì cái hỉ nộ ái ố đào đâu ra? Mà lại còn là vô cùng rõ ràng nữa kìa.
Thực ra ai cũng mang tà kiến hết, con người ta căn bản là không hề có chuyện đi ngủ — đó chỉ là lừa người ta đấy thôi. Con người ta không thể nào đi ngủ chân chính được đâu. Nếu có chút nhận thức đối với Tự tính của mình, sẽ biết trên đời này làm gì có cái chuyện đi ngủ. Thì đi học đi chứ, không học thì có đến mùa quýt cũng chẳng biết được đâu.
Phật pháp chính là thực tại trước mắt
Phật pháp chính là cái thực tại trước mắt chứ đâu nữa.
“Phật pháp ở thế gian, không rời thế gian mà giác ngộ; rời đời đi tìm Bồ-đề, chẳng khác nào đi tìm sừng thỏ.”
Cái bàn 桌子, cái tên của nó gọi là “cái bàn”; chứ người Việt Nam đâu có gọi nó là cái bàn, người phương Tây đâu có gọi là cái bàn. Cho nên, rốt cuộc nó được gọi là cái gì? Là do con người ta định nghĩa nó là cái gì thì nó gọi là cái đó, đó chỉ là cái định nghĩa của con người mà thôi. Cho nên mới bảo: cái bàn không phải là cái bàn, mà được gọi là cái bàn, đó là định nghĩa của con người. Muốn gọi nó là cái gì cũng được hết, nghĩa là định nghĩa nó thành cái gì cũng xong xuôi tuốt.
Ngay cả cái vật thể vật chất sờ sờ ra đó, có thể đặt để đồ đạc lên trên để phát huy tác dụng, cái đó cũng là do con người định nghĩa ra đấy chứ. Vì cái khúc gỗ này ban đầu nó đang mọc ở trên núi cơ mà, nó đâu có phải là cái bàn; là do con người nhìn thấy khúc gỗ này tốt quá, bèn đem về đẽo gọt chế tạo thành cái bàn, rồi định nghĩa cho nó có thể trở thành cái bàn. Bởi vậy, tất cả những gì trên thế gian này, những thứ do con người tạo tác ra thảy đều là cái định nghĩa của con người, đều là cái tưởng tượng của con người mà thôi. Cho nên, Tưởng tượng mới chính là cái nguồn gốc căn bản để cho sự vật bắt đầu xuất hiện.
Xét từ hiện tượng biến đổi, hiện tượng của tiến trình biến đổi mà nói thì việc cái bàn do khúc gỗ hợp bởi Địa-Thủy-Hỏa-Phong tạo thành, rồi cộng thêm cái Duyên của người thợ mộc, chỉ là một tiến trình, về sau lại thay đổi, hỏng hóc, mục nát đi — cái đó cũng đúng; nhưng đó thuộc về hiện tượng trong tiến trình biến đổi vật lý, chẳng có liên quan gì đến Phật pháp cả. Phật pháp là giảng cứu ngay tại hiện tại nó chính là như vậy, ngay tại hiện tại nó chính là như vậy. Là cái gì? Cái Thể tính của nó là cái gì, hiện tượng của nó là cái gì, là giảng cái “ngay tại hiện tại chính là”.
Người ta bảo đây là Sắc vật, sắc vật tức là Không, bản chất của nó chính là Không, ngay tại hiện tại chính là Không. Cái Không này không phải là trống rỗng không có gì sất, mà là đang giảng về Tự tính; Tự tính của nó vốn Không, còn hiện tượng của nó là Huyễn có, ngay tại hiện tại chính là như vậy, chứ không phải đợi đến sau khi biến đổi rồi thì mới tính là Không.
Điên đảo mộng tưởng
Lại nói đến kinh Tâm Kinh — trong đó cũng có giảng về chuyện Mộng, đó là câu “điên đảo mộng tưởng”.
《Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh》 quyển 1: “Bồ-đề tát-đỏa y Bát-nhã Ba-la-mật-đa cố, tâm vô quái ngại; vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết-bàn.” — Bồ đề Tát Đỏa vì y vào Bát Nhã Ba La Mật Đa, nên tâm không vướng mắc chướng ngại, vì không chướng ngại, nên không có lo lắng sợ hãi, liền lìa khỏi điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết Bàn.
Cái đống chữ viết trong Tâm Kinh hiện tại chính là cái lộ trình của Quán Thế Âm Bồ-tát. Còn đang nói về cái lộ trình của phàm phu; lộ trình của phàm phu chính là cái tâm có móc ngoặc, treo mắc đồ đạc (tâm có treo móc mọi thứ) — trong tâm cứ treo mắc muôn vàn thứ đồ đạc trong đó, nào là treo mắc con người, treo mắc xe cộ, treo mắc tiền bạc. Trong tâm cứ treo mắc muôn vàn thứ đồ đạc, thì tự nhiên sẽ có muôn vàn chướng ngại hiện ra thôi. Mà một khi đã có chướng ngại thì sẽ thế nào? Tám cái khổ (Bát khổ) thảy đều kéo đến hết sạch. Để bảo vệ bản thân không bị tổn thất, thế là bắt đầu sinh lòng điên đảo mộng tưởng.
Trong tâm treo mắc rất nhiều thứ, ví dụ như nhà cửa, xe cộ, tiền bạc... treo mắc nhiều quá, nên thảy đều cho chúng là có thật, thành ra mới sinh ra muôn vàn cái khổ. Nhưng bản chất của chúng vốn dĩ là không có gì cả, giống như giấc mơ vậy, hoàn toàn không có gì. Nhưng lại cứ cho là có, nên mới có khổ có vui.
Sở dĩ trước hết phải bắt nghiên cứu cái giấc mơ ban đêm trước cái đã, là vì sợ quá chấp trước vào cái đống này, sợ bị mất mát, rồi đâm ra không dám đi nghiên cứu. Nhưng trên thực tế, ban ngày rõ ràng cũng đang làm mơ cơ mà; có điều phải nghiên cứu chuyện trong mơ trước, làm cho thật rõ ràng cái giấc mơ ban đêm này trước cái đã. Nhưng giấc mơ ban ngày với giấc mơ ban đêm bản chất là y chang như nhau.
Điểm mấu chốt ở đây là gì? Là đạt được sự giải thoát chân chính. Nghĩa là đem tất cả các lưỡi câu (móc ngoặc) ở trong tâm nhổ bỏ sạch sành sanh đi. Điên đảo mộng tưởng; tại sao lại bảo mộng tưởng sẽ bị điên đảo? Bởi vì tất cả mọi thứ ở trong mơ vốn dĩ không hề tồn tại, nhưng cái lúc con người ta nằm mơ, lại thực sự cho rằng nó đang tồn tại; cho nên cái hỉ nộ ái ố trong mơ tịnh không thiếu một li nào cả, bởi vậy cái đó mới gọi là điên đảo mộng tưởng.
Không mộng tưởng nữa, hay mộng tưởng cho đúng đắn?
Sống một cách đơn giản, không mưu cầu, không đòi hỏi cái gì cả — có phải vậy không? Không những phải đòi hỏi, mà còn phải đòi hỏi trọn vẹn (toàn cầu)!
Quay trở lại cái đống chữ trong Tâm Kinh: điên đảo mộng tưởng — không phải là bản thân cái mộng tưởng đó bị sai, mà là nó bị điên đảo mất rồi. Cho rằng tất cả mọi thứ trong mơ là chân thật, và cả cái phương pháp vận dụng cũng bị sai luôn; thành ra đâm ra sai sạch sập sành sanh toàn bộ.
Thế cái đúng đắn thì phải là thế nào? Không thèm mộng tưởng nữa chắc? Không phải như vậy. Vẫn phải mơ chứ, phải “làm Phật sự lớn trong mơ, dựng xây đàn tràng bóng trăng đáy nước”. Cái từ trái nghĩa của “điên đảo” chính là đúng đắn. Nghĩa là phải suy nghĩ một cách đúng đắn; phải biết rõ tất cả những thứ trong mơ này chỉ là bấy nhiêu thôi, chứ không phải thực sự có cái đống này. Tuy rằng thực tế không có cái đống này thật, nhưng vẫn cứ phải vận dụng cái tư duy đúng đắn, hành vi đúng đắn để đi xử lý cho thật tốt những cái sự việc vốn không có thật đó.
Ngoài cái giấc mơ ban đêm ra, cái thực tại ban ngày hiện nay chính là một giấc mơ lớn (đại mộng); cho nên ở trong cái giấc đại mộng này, không phải là không cần cái gì cả, mà là cần tất cả mọi thứ. Cho nên muốn dùng một chiếc điện thoại di động, phải dùng cho thật tốt chiếc điện thoại này; nhưng việc dùng chiếc điện thoại tốt không phải là cái mục đích, không phải là để tham đắm cái điện thoại đó, mà là muốn dùng chiếc điện thoại tốt này để đi làm Phật sự, đi làm những việc lợi lạc, đi làm việc tốt.
Bởi vậy, tất cả mọi thứ trong cuộc sống ban ngày hiện tại, không những là phải mưu cầu, đòi hỏi, mà còn là phải dùng chính những cái thứ tốt đẹp đòi hỏi được này để đi làm việc tốt.
Chúng tôi luôn sẵn lòng lắng nghe và hỗ trợ bạn
Email:
Điện thoại:
chonngobalamat@gmail.com
+61 425750840


