CẢNH GIỚI CỦA BẬC GIÁC NGỘ VÀ BẢN CHẤT THÔNG TIN CỦA VẠN VẬT
Nguồn tài liệu này trình bày những lời giảng sâu sắc về cảnh giới giác ngộ và bản chất thực tại của vạn vật dưới lăng kính Phật pháp kết hợp với tư duy khoa học hiện đại. Nội dung cốt lõi nhấn mạnh rằng thế giới chúng ta đang sống thực chất là một giấc mộng dài, nơi mọi sự vật hiện tượng đều không có tính chân thật vì chúng luôn biến đổi và chịu sự chi phối của quy luật nhân duyên. Thầy chỉ rõ rằng mọi trải nghiệm khổ đau hay hạnh phúc đều do chính tâm thức chúng ta thiết lập và tạo tác thông qua các hạt giống thông tin hay nghiệp lực từ thân, khẩu, ý. Khi con người còn mê muội chạy theo ngoại vật và nuông chiều bản thân trong sự an nhàn giả tạm, họ sẽ tiếp tục bị giam giữ trong những tầng bậc của giấc mơ đầy ngột ngạt. Ngược lại, bậc thức tỉnh là người thấu triệt bản chất huyễn hóa của thế gian, từ đó làm chủ năng lực sáng tạo của tâm hồn để kiến tạo nên những kịch bản sống tốt đẹp và tự tại. Cuối cùng, nguồn tin khẳng định vạn vật đều là sự biểu hiện của thông tin và sóng dao động, đồng thời nhắc nhở rằng chỉ có sự tu dưỡng định lực mới giúp con người chuyển hóa thực tại một cách nhiệm mầu.
7/16/202632 min read


CẢNH GIỚI CỦA BẬC GIÁC NGỘ VÀ BẢN CHẤT THÔNG TIN CỦA VẠN VẬT
26/05/2026
I. CẢNH GIỚI CỦA NGƯỜI GIÁC NGỘ
Người giác ngộ giống như người vừa tỉnh giấc. Những giấc mơ người đó từng trải qua, dù có nhớ rõ ràng, có suy nghĩ thấu triệt đến đâu, thì cũng không thể lấy ra bất kỳ một vật gì trong mơ, bởi vì đó vốn không phải là sự thật. Điều này cũng giống như câu chuyện về chàng Diễn-nhã-đạt-đa điên cuồng tìm đầu trong thành — làm gì có nhân duyên nào đâu? Sự điên cuồng chạy sấp chạy ngửa của anh ta vốn không có nhân, cũng chẳng có duyên.
Đây chính là cảnh giới của người giác ngộ: họ biết rõ bản thân vừa trải qua giấc mơ, biết giấc mơ đó là gì và có thể kể lại cho người khác nghe, nhưng tuyệt đối không thể lấy ra vật gì, vì họ nhận thức rõ ràng mọi thứ vốn không phải là thật có.
II. CHÂN THẬT VÀ HƯ ẢO — TIÊU CHUẨN BẤT BIẾN
Đứng từ góc độ hiện tượng mà nói thì thấy có nhân duyên, nhưng xét từ góc độ chân thật thì vạn pháp vốn không có nhân duyên. Bởi vì cái gì chân thật thì sẽ không bao giờ thay đổi — thứ gì bất biến mới là chân thật. Còn những gì biến đổi theo nhân duyên — mà nhân duyên chẳng qua chỉ là cái nguyên lý của sự biến đổi — thì thứ đó chắc chắn không phải là chân thật.
Không chỉ riêng một con người, mà cả sơn hà đại địa này cũng y như vậy, thảy đều đang biến đổi, chỉ là thời gian của chúng khác nhau mà thôi. Trong một đời người, ta có thể nhìn thấy núi vẫn là núi, sông vẫn là sông, tưởng như không hề thay đổi; nhưng thực chất ngay ở tầng phân tử nhỏ nhất, tầng điện tử nhỏ nhất của nó, thảy đều đang biến đổi, không ngừng chuyển động và đang hao hụt suy giảm. Cái gì mới là chân thật? Bất biến mới là chân thật, ngàn đời vĩnh viễn không thay đổi mới là chân thật. Còn những thứ hư ảo, giả tạm, những thứ đang biến đổi thì đều là không chân thật.
III. BẤT ĐỘNG ĐỊA VÀ CÁI BẪY CỦA KHÔNG
Kinh Lăng Nghiêm:
"Một tâm chân như gọi là Bất động địa"
Đến cảnh giới Bất động địa, hành giả không còn mưu cầu bất cứ thứ gì nữa, chỉ nhất tâm giữ gìn tâm chân như này mà thôi. Xét từ góc độ chân như, thì trên không có Phật đạo để cầu — vì vốn dĩ đã viên mãn; dưới không có chúng sinh để độ — vì chúng sinh vốn dĩ là huyễn, là mộng, hoàn toàn không có thực thể. Hễ lao đầu vào trong mơ thì mới thấy có, còn nếu không mơ thì nó liền không tồn tại.
Thành ra hành giả liền bị kẹt lại ở đó. Đến tầng Bất động địa là họ sẽ bị kẹt ở chỗ đó, vì họ không tìm ra được một cái gì chân thật tồn tại cả. Đây là lý do vì sao cần có Đức Phật ra tay kéo họ ra ngoài. Còn người thực sự thức tỉnh là người đã có sự nhận thức vô cùng đầy đủ về điều này rồi, không còn bị kẹt nữa.
Sau khi học hết Thất địa, đã hoàn toàn nắm vững trọn vẹn pháp thế gian rồi, đến khi nhìn nhận lại cho thật kỹ thì thấy thảy đều là huyễn, thảy đều là mộng: "Trong mơ thấy rõ ràng có sáu đường luân hồi, tỉnh ra rồi thì ba ngàn đại thiên thế giới thảy đều trống rỗng". Đã hoàn toàn không có gì rồi, thì còn làm cái gì nữa đây?
IV. TỰ TÍNH — KHÔNG GÌ KHÔNG BIẾT, KHÔNG GÌ KHÔNG HIỂU
Tự tính vốn dĩ là không gì không biết, không gì không hiểu, quả thực là thần thông quảng đại. Dù có quảng đại đến nhường nào, nó cũng đều có thể biết một cách trọn vẹn. Còn chúng sinh thì bị giới hạn bởi cái đống nghiệp tập phiền não của chính mình. Người bị cận thị thì chỉ nhìn thấy cái trước mắt; người bị viễn thị thì nhìn xa được một chút; người bị lác thì nhìn lệch đi một chút; người bị loạn thị thì nhìn cảnh vật bị dẹt đi, biến dạng mất rồi. Thực chất thảy đều là tuần nghiệp phát hiện.
Tại sao lại có thể phát hiện được? Vì cái diệu dụng của tự tâm. Cái diệu dụng của tự tâm là hễ bày ra trò gì thì liền hiển hiện ra cái trò nấy: làm việc tốt thì nó hiển hiện ra cảnh tốt, làm việc không tốt thì hiển hiện ra cảnh không tốt, có chướng ngại thì nó hiển hiện ra một cách có chướng ngại.
Mộng là không chướng ngại, huyễn là không chướng ngại. Bởi vì nó là sự hiển hiện hoàn toàn không chướng ngại, tạo tác cái gì thì nó hiển hiện ra cái thứ đó. Nó cũng giống hệt như việc soi gương: lúc soi gương có bộ dạng thế nào thì gương liền hiển hiện ra bộ dạng thế nấy. Hướng về phía núi lớn hét lên một tiếng, hét ra âm thanh gì thì cái âm thanh đó sẽ lập tức dội ngược trở lại — đó gọi là Như Hưởng Nhẫn (Nhận biết như tiếng vang). Nó chỉ đơn thuần là tạo tác cái gì thì phản hồi lại cái thứ đó mà thôi.
V. GƯƠNG TÂM — MÀN HÌNH HIỂN THỊ VÀ LUẬT NHÂN QUẢ
Giấc mộng này — những gì do ta tạo tác — sẽ phản hồi ngược lại cho ta hưởng. Xét từ góc độ hiển hiện thì nó là sự hiển hiện hoàn toàn không chướng ngại của mộng huyễn. Ví dụ như người có thói quen thích đi hù dọa người khác, thì tự nhiên nhìn vào cái gì cũng thấy sợ hãi, biến thành một kẻ nhút nhát. Còn nếu lúc nào cũng ban rải sự vô úy (không sợ hãi) cho người khác, thì nhìn vào bất cứ thứ gì cũng thảy đều vô úy.
Cái giấc mộng này, cái sự huyễn hóa này, đang hiển hiện một cách như thực — hiển hiện trọn vẹn tất cả những gì đã được tạo tác. Quyết không thể nào có chuyện oan uổng được, vì nếu hoàn toàn không gieo cái nhân đó, thì nó không bao giờ hiển hiện ra cái hiện tượng này cả. Giống như soi gương vậy: một con mèo đi soi gương thì không đời nào trong gương lại hiện ra một con người, mà một con người đi soi gương thì gương cũng không thể nào hiện ra một con mèo được.
Tất cả mọi hiện tượng vốn không có tốt xấu đúng sai, chẳng qua chỉ là cái hình ảnh do tự tâm soi chiếu hiển hiện ra mà thôi. Bởi vậy, sinh ra ở cái thế giới này, đừng bao giờ tự đắc cho là bản thân mình đã quá hoàn hảo rồi. Hoàn hảo thì có nhiều lắm — đó chính là sự hiển hiện một cách hoàn hảo của những gì mình đã tạo tác. Những ai tự cho mình là cao thượng lắm, ghê gớm lắm — thảy đều là tâm thần, là lòng ngạo mạn cả đấy.
VI. THIẾT LẬP — THÂN KHẨU Ý TRONG TỪNG GIÂY PHÚT
Bản chất của vạn sự vạn vật là thứ hoàn toàn có thể biến đổi được. Khi thực sự nhận thức thấu triệt rồi, biết rõ vạn sự vạn vật chỉ là như mộng như huyễn — tại sao nó lại hiển hiện ra cái hình thái này? Là bởi vì tự ta đã tạo tác ra như thế, cho nên nó mới như mộng như huyễn. Cái Thấy — tức là cái thấy nghe hay biết — sẽ nương theo việc tự tâm đã thiết lập (cài đặt) nên cái giấc mơ như thế nào, thì nó liền có thể hiển hiện ra một cách như mộng.
Chính là sự tạo tác nơi thân, khẩu, ý hiện tại của ta. Tạo tác chính là thiết lập — ta muốn thiết lập cái trò gì cũng được hết. Giống như Trưởng giả Cấp Cô Độc ngày xưa vậy, ông ấy thiết lập cái nhân là sẵn lòng ban rải cúng dường tất cả mọi thứ, kết quả là ông ấy sở hữu trọn vẹn tất cả mọi thứ; sở hữu tất cả rồi ông ấy lại tiếp tục đi ban rải, thế là ông ấy liền sở hữu của tất cả mọi thứ luôn. Phước báu cứ thế cuồn cuộn không ngừng tuôn chảy về chỗ ông ấy.
Thân khẩu ý tạo tác như thế nào, thì liền thiết lập nên kết quả tất yếu là như thế ấy. Giấc mộng lành hay giấc mộng dữ thảy đều là do tự mình thiết lập nên cả. Là do chính mình tự viết kịch bản, tự làm đạo diễn, tự đứng ra diễn xuất; thế thì tự nhiên nó liền hiển hiện một cách như thực, đúng y chóc như những gì đã biên soạn, đúng y chóc như cái vở kịch đã diễn mà thôi.
Vạn sự vạn vật thảy đều do tự mình thiết lập nên cả, bao gồm cả thế giới Cực Lạc cũng là do Đức Phật A Di Đà thiết lập nên, thế giới Lưu Ly là do Đức Phật Dược Sư thiết lập nên. Từ mấy chục năm trước Ta đã dạy rằng: phải chu du các cõi, phải diễn dịch Phật pháp, phải đạt tới cái tầm bản thân mình chính là Pháp, Pháp chính là mình, có mình ở đâu là có Pháp ở đó. Từng li từng tí một trong sự tạo tác, trong sự bộc lộ ra ngoài thảy đều là Pháp, thảy đều là cái nghĩa cảnh của Pháp — cái đó chính là thiết lập.
Điều quan trọng là: trong từng giây từng phút đều phải thiết lập; không chịu thiết lập thì nó liền không có, biết thiết lập thì nó mới có được. Đức Phật Ngài đã thiết lập sẵn toàn bộ cái khuôn mẫu chuẩn cho chúng ta cả rồi — ví dụ như Sáu độ Ba-la-mật hay Mười độ Ba-la-mật. Ta cứ việc nương theo cái đó mà chép nguyên văn vào là xong chuyện rồi, trực tiếp nương theo cái bản đồ thiết kế đó mà làm theo thôi.
VII. NGUỒN GỐC CỦA GIẤC MỘNG — PHÓNG DẬT VÀ NHẬN GIẢ LÀM THẬT
Tại sao chúng sinh lại cứ thích đi mơ? Vì họ suốt ngày cứ thích cắm đầu đi ngủ. Thế nào gọi là suốt ngày đi ngủ? Chính là ham thích sự an nhàn, tâm mưu cầu sự an dật. Hễ cứ nằm ở đó, thấy dễ chịu một cái là lập tức ngủ gật mất tiêu liền. Mà hễ cứ ngủ say một phát, lòng tham dục chui tọt vào trong là lập tức sanh ra cảnh giới trong mơ liền. Chính vì ham thích sự an nhàn nên mới bị rơi vào trong mơ.
Hơn nữa cái giấc mơ ban ngày hiện tại của chúng sinh cũng là do cái trò ham thích sự an nhàn này tạo thành: nhận giả làm thật, mê muội bản thân đuổi theo ngoại vật, không ngừng tạo tác — thế là thành ra nuông chiều phóng túng cái ta giả tạm để làm càn làm bậy.
Cái việc nhận giả làm thật, chẳng phải cũng là do bản thân đang ham muốn mưu cầu một cái thứ gì đó? Phải cho nó là thật thì mới sinh lòng tham đắm chứ. Nếu như biết rõ nó chỉ là một cái điểm hiển thị trên màn hình máy tính của mình thôi, thì mất công mất sức đi tham đắm nó làm cái gì? Có tham qua tham lại thì chung quy vẫn cứ là cái màn hình của chính mình thôi — chẳng hóa ra tự mình lại đi tham đắm chính mình à? Người hiểu rõ như vậy thì họ không bao giờ bị mê muội đắm chìm vào trong cảnh giới huyễn hóa cả.
Định nghĩa đầy đủ của chữ phóng dật là: tự cho cái gì là an nhàn, dễ chịu thì liền nhận định cái đó là thật có, là cái sự an nhàn chân thật có; từ đó liền nảy sinh lòng chấp trước vào sự an nhàn đó. Ví dụ như chuyện ăn uống: cho cái việc ăn uống là chân thật mang lại sự thoải mái, dễ chịu, bảo là "tôi mà không ăn là không chịu nổi đâu" — cái đó gọi là chấp trước. Đến khi không có đồ ăn nạp vào bụng thì liền sinh lòng sân hận, oán trách; rồi nghĩ cái món đó đáng lẽ ra phải thuộc về phần mình chứ — cái đó gọi là ngã mạn; rồi lại ngồi nghi ngờ không biết cái người kia có đồ ăn ngon mà cố tình giấu giếm không chịu chia không...
Thế là muôn vàn thứ phiền não đó cứ liên tục xoay vần quanh đi quẩn lại ở trong cái đống vọng tưởng: chốc chốc lại nổi lòng tham, chốc chốc lại nổi lòng sân, chốc chốc lại nổi lòng mạn, chốc chốc lại nổi lòng nghi. Cái ban ngày cũng y chang như vậy thôi; giấc mơ ban ngày là như thế này, mà giấc mơ ban đêm bản chất cũng vẫn cứ như thế này. Bởi vậy nên thảy đều xuất phát từ cái sự phóng dật mà ra cả.
Không chỉ có bấy nhiêu đó đâu, lại còn sinh lòng chấp trước nữa — kiên định đóng đinh nhận thức nó chắc chắn là thật có, bảo là cái thứ đó đáng lẽ ra phải thuộc về phần mình mới đúng. Rồi suốt ngày cứ ngồi nghi ngờ xem người ta có cái ý đồ mưu tính gì với mình không; tóm lại là bước hụt chân lún sâu hoàn toàn vào trong cái cảnh giới thuần túy của việc nhận vọng làm chân mất rồi, cứ bị giam cầm suốt ở trong cái mớ lầm lạc u mê đó thôi.
VIII. U MÊ NGỘT NGẠT — VÀ CON ĐƯỜNG DẪN XUỐNG ĐỊA NGỤC
Thế nào gọi là "mê mẫn" (lầm lạc u mê)? U mê đến mức vô cùng ngột ngạt, khó chịu: ăn no quá cũng thấy ngột ngạt bồn chồn, bị đói bụng cũng thấy ngột ngạt bồn chồn, ôm lòng sân hận cũng thấy ngột ngạt bồn chồn, nổi lòng kiêu căng cống cao ngã mạn lại cũng thấy ngột ngạt bồn chồn — kiểu như nghĩ: "Các người nhìn xem tôi cao thượng vĩ đại biết nhường nào, thế sao các người lại dám kiên quyết không chịu phục tôi hả?". Rồi suốt ngày cứ ngồi nghi ngờ hết chuyện này đến chuyện nọ, nghi ngờ mà lại chẳng dám nói ra. Ngột ngạt muốn chết đi được ấy chứ, bởi vậy mới bảo là đang sống lầm lũi trong mớ u mê ngột ngạt là vì thế đấy.
Anh ta tự mình định nghĩa cho nó là "Có"; anh ta định nghĩa: "tôi muốn cái thứ này cơ", thế nhưng cái quy luật tự nhiên lại cứ toàn làm cho anh ta không có được, toàn làm cho anh ta cầu mà không đắc. Con bảo thế có u mê ngột ngạt uất hận không chứ? Rồi khi bị nén nghẹt đến cái mức độ nhất định nào đó sẽ phát nổ. Nhưng nổ tung xác ra rồi thì vẫn cứ tiếp tục ngột ngạt u mê như thường: những thứ bị nổ tiêu tan càng vơi cạn đi, thì anh ta lại càng thêm ngột ngạt; càng ngột ngạt khó chịu lại càng muốn đi nổ phá tiếp; càng nổ phá lại càng thêm ngột ngạt. Đến nước cuối cùng là sẽ vĩnh viễn bị giam cầm chết gí ở trong cái loại trạng thái tồi tệ đó — đọa thẳng xuống địa ngục, thậm chí bị nén nghỉm chết gí trong Vô Gián địa ngục, không cách nào thoát ra ngoài nổi luôn, một mớ thiện căn nhỏ nhoi như sợi lông tơ cũng thảy đều bị thiêu hủy sạch sành sanh rồi.
IX. GIẤC MƠ BAN NGÀY VÀ GIẤC MƠ BAN ĐÊM — MỘT KHUÔN MỘT MẪU
Mấy hôm nay liên tục hạ thủ công phu luyện tập quan sát cái giấc mơ này; thế cái lúc làm giấc mơ ban đêm, ở ngay trong cái giấc mơ đó, ta cũng bắt buộc phải biết rõ là mình đang nằm mơ, bản thân mình phải hoàn toàn tỉnh táo chứ không được u mê tù mù. Trước hết phải làm cho thật rõ ràng rành mạch cái việc: vạn sự vạn vật bản chất vốn không tồn tại cái chuyện thật giả hay hư thực gì cả, thảy đều là tuần nghiệp phát hiện thôi — chỉ cần biết rõ đúng một cái điều đó là xong chuyện rồi.
Giống như ví dụ bị rơi xuống biển lớn suýt chết đuối ấy, ngạt thở khó chịu kinh khủng, ngạt quá giật mình tỉnh giấc. Ngay tại cái khoảnh khắc tỉnh mộng đó, đáng lẽ ra theo đúng bối cảnh thì phải đang nằm ở dưới biển sâu mới đúng; thế nhưng trên thực tế hoàn toàn không có biển lớn — mà ngay đến cả một giọt nước cũng vốn không hề tồn tại. Thế nhưng cái lúc đang ở trong cảnh giới của giấc mơ, xét về mặt cảm giác thì lại thấy nó có thật một cách sờ sờ.
Nếu như đã thực sự nhận thức thấu triệt được rồi, thì không bao giờ tự gạt mình coi cái đống đó là chân thật nữa. Tiến thêm một bước nữa, ta hoàn toàn có khả năng đắc được tự tại đối với mọi cảnh giới; khi đắc được tự tại đến mức độ cao nhất rồi, ta hoàn toàn có thể biến đổi vạn vật. Cái điểm mấu chốt đầu tiên là phải biết rõ bản chất của nó vốn không phải là thứ chân thật bất biến. Trước hết phải biết rõ nó là thứ vốn không tồn tại, là cảnh giới huyễn hóa. Rồi sau đó làm sao để ở nơi huyễn mà đắc được tự tại, rồi từ cái sự tự tại đó muốn kiến tạo ra bất kỳ cái huyễn gì đi chăng nữa, thì chung quy bản chất của nó vẫn cứ là một cái huyễn mà thôi.
Cái "tôi" ở trong mơ với cái "tôi" ở hiện tại này bản chất là một khuôn một mẫu y chóc như nhau. Đêm hôm trước bị người ta hại chết trong mơ, thì sáng hôm sau mắt vẫn mở ra chứ sao không — bởi vì cái "Con chân thật" đâu có chết, cái nghiệp vẫn chưa lo trả xong xuôi cơ mà. Cái "tôi" ở trong mơ chết thôi, chứ còn cái "Con chân thật" thì vĩnh viễn không bao giờ biết đến cái chết là cái gì đâu nhé.
Khi thực sự ở trong mơ chẳng qua chỉ là do đem đóng chặt cái cửa ngõ sáu căn ở ngoài nhục thân sắc thân lại mà thôi. Còn cái hệ thống đoạn mã lập trình tầng đáy ở bên trong cơ thể, nó không bao giờ có thể đóng lại được đâu. Cái Linh tính có năng lực biết (giác tri) đó vốn dĩ đã biến phủ khắp tất cả mọi khoảng không gian thời gian rồi, nó không bao giờ bị giới hạn tù túng ở ngay trong cái nhục thân sắc thân này đâu. Cái hệ thống này chính là cái đoạn mã lập trình tầng đáy — chính là cái đống nghiệp tập phiền não của mình chứ ai.
Giấc mơ ban đêm bản chất còn có phần tự tại hơn cái ban ngày nhiều, vì nó đã thoát ly ra khỏi nhục thân sắc thân rồi. Ví dụ: trong mơ, hôm nay thấy mình đi ra biển lớn bơi lội tung tăng; ngày mai lại thấy mình trèo tót lên tận đỉnh núi cao. Chẳng phải là tự tại hơn cái ban ngày biết bao nhiêu sao, không còn bị cái nhục thân này kéo lê làm cho mệt mỏi khổ sở nữa.
Bất luận là giấc mơ ban đêm hay giấc mơ ban ngày, bản chất thảy đều là mộng cả, hơn nữa giấc mơ ban ngày với giấc mơ ban đêm bản chất là hoàn toàn một khuôn một mẫu y chóc như nhau cả thôi. Nếu như có khả năng đem cái mảng nghiệp tập phiền não này quét dọn sạch sẽ thanh tịnh hoàn toàn, thì tự nhiên trong ngoài sẽ đồng nhất làm một (nội ngoại nhất như) liền. Lúc đó sẽ không còn tồn tại khái niệm bên trong cơ thể, bên ngoài cơ thể, hay là khoảng giữa cơ thể gì nữa. Lúc đó ta hoàn toàn có thể biết rõ mọi việc, nhìn nhận rõ ràng sạch sẽ mọi việc, cảm nhận hứng chịu được trọn vẹn mọi việc.
X. VẠN VẬT LÀ THÔNG TIN — KHOA HỌC GẶP PHẬT PHÁP
Hiện tại có một số nhà khoa học ở các lĩnh vực tiên phong, họ phỏng chừng cũng đã có chút lĩnh hội ngộ ra được cái đạo lý này rồi. Mặc dù họ vẫn chưa hoàn toàn hiểu thấu đạt một cách triệt để, nhưng họ cũng đã mò mẫm chạm được vào tới cái vùng biên rìa của Phật pháp rồi đàng hoàng. Ví dụ như họ đưa ra cái thuyết bảo có cái hệ thống toàn bộ thông tin, thuyết vũ trụ toàn ảnh — họ nhận định tất cả những cái gọi là thực thể vật chất sờ sờ kia bản chất thảy đều là thông tin cả thôi.
Nhìn nhận từ góc độ Phật pháp, ta thấy y chang như vậy: thảy đều là thông tin cả thôi, làm gì có cái chuyện thực thể với không thực thể vật chất gì ở đây chứ. Rồi có những nhà khoa học nhận định bản chất của chúng chính là sóng, thảy đều là các hạt tử cả. Vì hễ cứ có sự xuất hiện can thiệp của người quan sát một cái, là nó liền lập tức kết tụ hình thành nên các hạt tử liền; còn nếu cái người quan sát kia không thèm ra tay can thiệp, thì bản chất của nó vẫn cứ là sóng dao động thôi.
Đã vậy giữa các hạt tử với nhau chúng lại còn có cái sự liên thông kết nối nhịp nhàng với nhau nữa — thậm chí chúng còn có khả năng vượt thoát ra khỏi sự trói buộc của thời gian, vượt thời gian để mà biết rõ mọi sự nữa kìa. Quá khứ, tương lai, hiện tại cái gì nó cũng thảy đều biết rõ mồn một hết sạch. Cái hạt tử này xem ra nó còn linh thông hơn cả con người con nữa cơ ấy — những cái chướng ngại của nó không có nhiều dồn dập như của con người.
Bản chất của các hạt tử chính là Nghiệp chứ còn cái gì nữa! Chính là cái nghiệp tạo tác bấy lâu nay biến thành sóng; rồi có một người quan sát nhảy bổ vào chồng chất nén ép một phát, là nó liền biến thành hạt tử liền. Nghĩa là ngoại trừ cái nhân tố tạo tác của ta — cái nhân tố thuộc về phía ta ra — nó lại còn cộng thêm cả cái nhân tố của người quan sát can thiệp vào nữa; thành ra trong đó nó mang nặng cái thông tin của cả hai tầng nhân tố.
Ở ngay cái tầng lớp hạt tử, chúng thảy đều vẫn còn có khả năng bảo trì giữ gìn được cái tính đồng nhất quán thông của Tự tính. Ví dụ như hai hạt tử bị tách rời ra hai nơi hoàn toàn cách biệt nhau: một hạt tử chạy đến đích trước, thì cái hạt tử còn lại lập tức sẽ biết rõ là cái hạt kia đã chạy đến cái chỗ đó rồi — bất cần biết khoảng thời gian di chuyển có dài dằng dặc đến nhường nào đi chăng nữa. Cái điểm đến tối hậu của nó bảo đảm chắc chắn sẽ trùng khít hoàn toàn một khuôn một mẫu với cái hạt kia, giống hệt như hai đứa tụi nó đã ngồi lại bàn bạc thảo luận thống nhất sẵn với nhau từ trước vậy thôi. Hoàn toàn không thèm gọi điện thoại, hoàn toàn không thèm phát thông báo, vậy mà nó vẫn biết rõ mồn một là phải chạy đến đâu.
Tất nhiên rồi, càng lên cao thì cái mật độ nén của nó lại càng được tăng thêm; thậm chí từ hạt tử biến chuyển thành phân tử một cái là lập tức bị đóng đinh cố định lại liền, triệt để biến thành cái hình thái phân tử cố định; các loại phân tử khác nhau thì kết tụ hình thành nên vạn sự vạn vật khác nhau bên ngoài thôi. Đến cái tầm đó thì mọi thứ thảy đều bị đóng đinh cố định, không còn được linh thông biến hóa như cái thuở còn là hạt tử nữa rồi. Càng tăng thêm cái đống đó thì chướng ngại lại càng sâu dày; chướng ngại càng sâu dày thì tự nhiên sẽ vốn không được linh thông nữa rồi.
XI. ÂM THANH, THẦN CHÚ VÀ SỰ CHUYỂN HÓA VẠN VẬT
Một khi đã nghe thấy được trọn vẹn toàn bộ các dải sóng âm rồi, là cái đầu óc lập tức sẽ bắt đầu bị rối loạn tung mù lên liền. Cái lúc này bắt buộc phải có một vị Thiện tri thức đứng ra giảng giải nói rõ: cái loại âm thanh này xuất phát từ cái dải sóng dao động nào, rồi cái sự rung động (chấn động) của các dải sóng này nó sẽ kết tụ hiển hiện ra những cái hiện tượng như thế nào. Muôn vàn cái hiện tượng này bản chất chung quy thảy đều là sóng cả thôi. Khi biết cách thay đổi cái sự rung động đó của nó, chính là ta đang đi thay đổi cái dải sóng âm của nó — thay đổi dải sóng âm rồi thì cái hình thái vật chất bên ngoài tự nhiên sẽ thay đổi theo thôi.
Đến lúc đó mới sáng mắt ra thấu hiểu được: "Ồ, hóa ra cái trò biến hóa vạn vật là người ta đi chuyển hóa biến đổi theo cái kiểu như thế này đây chứ đâu!". Tại sao thần chú lại thực sự phát huy hiệu nghiệm thần kỳ đến thế? Nó thực sự có tác dụng chứ sao không — chỉ cần phát ra âm thanh đúng chóc theo đúng âm tiết đó của nó, là nó liền tự động kết tụ hình thành nên cái hình thái đó ngay. Ví dụ cái hình thái phân tử của nó bị thay đổi một cái, là cái hình thái vật chất biểu hiện ra bên ngoài lập tức sẽ thay đổi theo liền. Bản chất của nó là do có bấy nhiêu phân tử kết tụ nén lại tạo thành cái mật độ nén tương ứng; ta đem cái mật độ nén đó thay đổi cải biến đi một chút, thay đổi cải biến cái hình thái phân tử đi một chút, là cái hình thái biểu hiện ra bên ngoài của nó tự động trực tiếp chuyển hóa thay đổi theo ngay thôi.
Ngoài ra, có một vị học giả người Nhật Bản, ông ấy cũng đang làm thí nghiệm về mấy cái chuyện này: suốt ngày đi nói lời tốt lành, nói lời tồi tệ bất thiện với cây cỏ hoa lá, kết quả là cây cỏ hoa lá cho ra các kết quả gặt hái hoàn toàn khác biệt nhau liền. Ông ấy lại đi nói lời tốt lành, nói lời tồi tệ bất thiện với nước; đến nước cuối cùng lúc nước đông kết thành tinh thể băng, cái hình thái cấu trúc của tinh thể băng thảy đều khác biệt nhau hoàn toàn.
Mặc dù có rất nhiều người bô bô cái miệng bảo cái trò đó của ông ấy là ngụy khoa học, vì nó không chịu nổi sự kiểm chứng của họ. Thực tế là cái lũ người này thảy đều sai hết rồi — họ hoàn toàn mù tịt không biết đến một cái thứ gốc rễ căn bản nhất: bản thân họ có sở hữu được cái lực tâm mạnh mẽ như người ta không? Bản thân họ có sở hữu được cái định lực tuyệt đối hay không? Phải có cái lực tâm mạnh mẽ, có định lực tuyệt đối thì mới có khả năng chuyển hóa được; rồi mượn nương vào cái âm thanh của vị đó thì mới có thể chuyển hóa được mấy cái chuyện này.
Ví như Elon Musk chẳng hạn, ông ấy làm nên biết bao nhiêu là thành tựu — tất cả các hãng sản xuất xe hơi danh tiếng trên đời có khi cắm đầu cắm cổ chế tạo cả đời người, cũng chẳng thể nào chế tạo thắng nổi ông ấy. Chẳng lẽ bảo cái đống người của các hãng xe kia thảy đều là lũ bất tài vô dụng hết sao? Đều không bằng ông ấy à? Đúng thực là không bằng thật đấy! Vì cái lực tâm của Musk, cái định lực của Musk thảy đều mạnh mẽ hơn các anh rất nhiều.
Bởi vậy mới có rất nhiều người cứ vác xác đi kiểm chứng, rồi bô bô cái miệng bảo người ta làm sai rồi. Con sai rồi! Đích xác là tự bản thân con đã sai ngay từ đầu rồi; vì con làm gì có được cái lực tâm định lực của bậc học giả, con làm gì có được cái lực tâm định lực của Elon Musk đâu! Cho nên người ta làm nên thành tựu, không đồng nghĩa với việc con cũng có khả năng làm nên thành tựu y chang như vậy đâu nhé. Con muốn kiểm chứng ra được thì con bắt buộc phải là cái người đạt đến tầm của vị đó; con phải là cái người ngang tầm với họ thì con mới có khả năng kiểm chứng ra được chứ. Bản thân con rõ ràng là một kẻ ngốc nghếch khờ khạo, thế mà cứ nhất quyết đòi trồi đầu ra bảo cái đống công thức của nhà toán học kia là sai rồi — lý do là vì con ngồi cắm cúi giải mãi mà chẳng ra nổi cái đáp án của bài toán đó.
XII. THÔNG TIN, NGHIỆP, VÀ QUY LUẬT KHÔNG THỂ THOÁT
Một niệm tâm của con người dấy lên một cái, bản chất của nó là đã tự động mang nặng cái thông tin cố định rồi, bất luận đó là cái loại thông tin của lòng tham ái, thông tin của lòng sân hận oán thù, hay là thông tin của lòng ngã mạn kiêu căng, thông tin của lòng hoài nghi — thảy đều mang nặng thông tin, mang nặng cái ý thức chủ quan của chính mình cả đấy.
Muôn vàn thứ thông tin này sẽ lập tức biến phủ khắp toàn bộ khoảng không gian vũ trụ bao la; hễ cứ ở bất kỳ một cái điểm nào thích hợp gặp được cái Duyên tương ưng một cái, là nó liền lập tức bắt đầu bộc phát hành hạ ta liền. Ví dụ như có những thứ trong quá khứ ta cực kỳ ưa thích ăn, thậm chí còn dấy phát tâm nguyện bảo trong tương lai nhất định nhất định hễ cứ gặp được là mình bắt buộc phải ăn cho bằng được; thế nhưng đến cái đời này khi thực sự bưng nó lên húp vào bụng rồi, lại hoàn toàn vốn không nếm ra nổi cái mùi vị thơm ngon vật lạ giống hệt như cái thuở ban đầu ta từng khao khát ao ước nữa; thế nhưng cái chân lại vẫn cứ bắt buộc phải tìm đến ăn cho bằng được, lý do là vì cái khoảnh khắc thuở ban đầu kia ta đã lỡ tạo tác ra cái dải sóng dao động đó mất rồi.
Ví dụ anh sợ hãi không dám la mắng lại tôi, anh liền quay mặt chĩa thẳng vào cái ly nước của chính mình ra sức la mắng chửi rủa một hồi; cái ly nước của anh nó nghe thấy trọn vẹn rồi, rồi tự anh lại bưng cái ly nước đó lên húp sạch vào bụng — cái ly nước đó nó sẽ chui vào trong cơ thể người con để mà tác oai tác quái hãm hại. Nó sẽ hành hạ nhào nặn con biến thành đúng cái bộ dạng tồi tệ giống hệt như cái lời vừa la mắng chửi rủa. Vì cái thông tin (dữ liệu) sai lầm tồi tệ đó đã chui tọt vào trong người rồi. Muôn vàn cái thứ thông tin đó hễ cứ va trúng người ta một cái, là nó lập tức phát huy diệu dụng hành hạ liền.
Tóm lại một câu: tự ta tạo tác ra cái trò gì thì ta chắc chắn bắt buộc phải gánh chịu gặt hái cái kết quả nấy thôi, có chạy đằng trời cũng không bao giờ thoát nổi, có muốn trốn cũng vốn không cách nào trốn tránh được đâu.
❖
Chúng tôi luôn sẵn lòng lắng nghe và hỗ trợ bạn
Email:
Điện thoại:
chonngobalamat@gmail.com
+61 425750840


